Hoài Cổ Truyện

Đêm Tân Hôn Ta Thiêu Cả Vương Phủ

Chương 40: Nến Đêm Rằm

Bích Đào khép cửa lớn.

Cánh cửa gỗ trầm đen phủ kim mỏng đóng chậm, thớ gỗ khô cọ nhau kêu một tiếng rất nhỏ. Ngoài kia còn nửa vời tiếng nhạc lễ rớt lại trên hành lang. Tiếng cung nữ đi xa. Tiếng thị vệ dập canh cuối. Rồi im.

Uyển Ngôn ngồi trước gương phượng.

Gương đồng đặt trong tân phòng khôn ninh cung là gương đại lễ, viền chạm đôi phượng ngậm quả châu, thếp một lớp bạc mỏng dưới lòng. Người thợ triều Chu đúc gương này hôm nào đã chết non hai mươi năm, gương còn ở lại. Trong gương có một khuôn mặt trắng như tuyết đầu đông, một nốt ruồi nhỏ dưới khoé mắt trái. Có một chiếc trâm hoa mai bạc cài trên búi tóc thấp.

Trâm ấy chàng vừa cài cho nàng, chưa quá một canh giờ.

Nàng đưa tay lên.

Ngón tay chạm cánh hoa mai. Bạc lạnh. Nhưng thịt tay chàng vừa nắm nó qua, chút hơi ấm còn lưu trên chuôi. Nàng ngập ngừng nửa nhịp. Rồi rút ra.

Trâm rời tóc. Một lọn tóc buông xuống vai, đen như mực chưa khô.

Uyển Ngôn đặt trâm lên bàn trang điểm. Bên cạnh trâm là hộp phấn son mở dở, một hộp ngọc khảm trai mà Bích Đào vừa cất đồ đi. Áo cưới đỏ treo trên giá. Áo phượng thêu chỉ vàng, thêu chi tiết hoa mai theo lệnh Diệp Trầm truyền cho ti Y phục hai tháng trước. Kiếp này áo cưới không cháy. Chỉ nằm im, hai vạt thả xuống chấm mặt đất, đỏ tươi như một dòng máu chưa đông.

Nàng nhìn áo. Nhìn hồi lâu.

Kiếp trước đêm tân hôn, nàng cũng ngồi trước một chiếc gương như thế. Gương ấy nhỏ hơn, viền không chạm phượng, đặt trong tân phòng Túc vương phủ. Đèn lồng đỏ ngoài hành lang chưa tắt. Nến trong phòng đã chảy đến nửa cây. Nàng đội trâm phượng vàng của Ninh phu nhân. Cánh phượng nhọn cạ vào da đầu, đau râm ran nàng vẫn không dám rút. Ninh phu nhân bảo: cắm cho vững, đừng để rơi trong đêm cưới, sẽ bị chê không biết giữ vật quý.

Kiếp ấy nàng chờ. Chờ canh nhất chàng uống rượu ngoài sảnh. Chờ canh hai chàng bước vào phòng, mắt lạnh như dao. Chờ canh ba tay chàng lật gối, tìm được phong thư của Đông Cung mà Nguyệt Nhi lén cài. Chờ khoá cửa. Chờ đuốc.

Chờ chết.

Trâm phượng vàng ấy sau này chảy tan trong lửa, dính vào tóc nàng như một vệt máu vàng.

Uyển Ngôn nhắm mắt.

Kiếp này. Trâm hoa mai. Trâm của mẹ. Chàng cài.

Nàng mở mắt.

Trong gương, sau lưng nàng, cửa vừa hé một khe. Không có tiếng động. Chỉ có gió lạnh rằm đêm luồn qua ngưỡng, làm ngọn nến trên án thư khẽ ngả.

Diệp Trầm bước vào.

Chàng vẫn mặc long bào. Long bào đỏ thẫm thêu chín rồng vàng, cổ áo dựng đứng vẽ vân mây. Đại lễ đăng cơ mới xong ba ngày, đại hôn lần hai mới xong hôm nay, chàng còn chưa kịp quen chiếc áo này. Bước đi vẫn giữ nét vương gia hơn là đế vương. Tay trái buông xuôi. Vết sẹo dài từ cổ tay đến khuỷu bị lụa đỏ che kín, nhưng nàng biết nó ở đó.

Chàng không nói ngay.

Đi ba bước. Đứng sau lưng nàng. Nhìn nàng qua gương. Trong gương đồng, mắt chàng đen như đáy giếng cạn. Miệng chàng, kiếp trước nàng chỉ nhìn thấy lúc chàng ra lệnh giết, đêm nay hé một chút, môi khô.

“Nàng còn nhớ đêm tân hôn trước không?”

Uyển Ngôn không đáp ngay.

Nàng đưa tay lên, tháo tiếp một chiếc trâm nhỏ khác đang cài ngang. Đặt xuống. Rồi mới nói.

“Nhớ.”

Chỉ một chữ. Rơi giữa hai người như hòn sỏi rơi vào giếng đêm.

Diệp Trầm đưa tay. Đặt lên vai nàng. Bàn tay chàng dài, ngón thon, đầu ngón có chai từ đao thương chưa mòn. Bàn tay ấy kiếp trước từng cầm đuốc châm vào rèm phòng nàng. Kiếp này cầm trâm cài lên tóc nàng.

“Nàng ngồi trước gương chờ ta.”

Không phải câu hỏi.

“Ta chờ chàng.”

Nàng đáp. Vẫn không quay đầu. Chỉ nhìn qua gương. Trong gương hai người mờ như tranh cổ chưa lên nét.

“Canh nhất chàng uống rượu ngoài sảnh. Chàng uống ba chén. Sau chén thứ ba, chàng bỏ ra vườn nhìn trăng. Trăng đêm ấy rằm tháng chín, treo trên nóc điện Càn Thanh cao hơn thường lệ. Ta ngồi đây. Bích Đào vào một lần thay nến. Ra.”

“Canh hai chàng vào phòng. Bước qua ngưỡng cửa, chàng dừng. Chàng nhìn ta, ta nhìn xuống chân giường. Chàng đến gần. Nhấc rèm giường. Ta ngửi được mùi rượu trên áo chàng, có cả mùi hương trầm cung yến vừa tan. Chàng ngồi xuống mép giường. Không nói gì.”

Ngón tay Diệp Trầm bấu nhẹ vào vai nàng. Không đau. Chỉ nhẹ như một cảnh báo.

“Đủ rồi.”

“Chưa đủ.”

Nàng lắc đầu. Búi tóc lay. Chiếc trâm hoa mai đặt trên bàn khẽ lăn nửa vòng, dừng lại.

“Canh ba chàng lật gối. Chàng tìm được phong thư của Đông Cung. Chàng đọc. Đọc rất chậm. Ta biết chàng đang đọc gì, vì kiếp này Bích Đào đã kể cho ta từng chữ, sau khi nàng ấy gói cả phong thư ra thiêu trước bàn thờ mẹ ta. Đọc xong, chàng gấp lại. Đặt lên bàn. Đứng dậy. Ra khỏi phòng. Cửa khoá bên ngoài. Ta nghe rõ tiếng chốt gỗ sập xuống.”

“Uyển Ngôn.”

Chàng gọi tên nàng.

Cái tên “Uyển Ngôn” ra khỏi miệng chàng, đêm nay khác đêm nào. Có gì nặng ở đó. Có gì run rất khẽ, như dây đàn chưa lên căng đủ.

Nàng không dừng.

“Ta nghe tiếng đuốc châm ngoài rèm. Rèm đỏ, đuốc đỏ, khó phân biệt lúc lửa mới bắt. Ta ngồi ở đây, không đứng dậy. Ta biết đứng dậy cũng chạy không được. Ta ngồi. Ta đợi. Ta cầm trâm bạc mẹ ruột giấu trong tay áo, kề lên cổ. Ta định tự đâm trước khi lửa liếm đến áo cưới.”

“Nhưng ta không kịp.”

“Áo cưới bắt lửa trước.”

Nàng dừng.

Ngoài kia gió rằm đưa qua khe cửa, ngọn nến trên án thư nghiêng thêm một lần, tro rơi xuống bàn.

Diệp Trầm im lặng.

Bàn tay chàng vẫn đặt trên vai nàng. Nàng cảm được từng thớ ngón. Không co, không xiết. Chỉ đặt, như đặt lên một vật quý sắp vỡ.

Lâu sau chàng mới nói.

“Ta đến canh hai.”

Uyển Ngôn ngẩng mắt trong gương.

“Ta đã kể chàng.”

“Nàng kể phía nàng. Ta chưa kể lại từ phía ta.”

Chàng cúi đầu. Trán chàng gần chạm đỉnh đầu nàng. Hơi thở chàng nóng, có mùi rượu tế mới uống, thoảng chút hương thấm từ trầm.

“Canh nhất ta ra vườn, không phải để nhìn trăng. Ta chờ Diệp Kính. Đông Cung phái người ám hiệu, hẹn ta ngoài sảnh phía tây. Ta biết là bẫy, đi để đo bẫy. Đến canh hai ta về. Bước qua ngưỡng cửa phòng, ta thấy nàng ngồi trước gương. Nàng không quay đầu. Sau gáy nàng có một chấm son bà đỡ dâu chấm lên khi trang điểm. Ta nghĩ, đứa con gái này gả cho ta hôm nay, ngày mai có sống nổi không.”

Uyển Ngôn thở nhẹ.

“Chàng lật gối.”

“Ta lật gối. Vì trước khi vào phòng, một cung nữ Đông Cung ám hiệu ba lần bên cửa vườn. Ba lần ám hiệu, nghĩa là thư mật đã trao. Ta biết ai đó lén cài, chưa biết ai. Lật gối chỉ để xác nhận.”

“Chàng đọc.”

“Đọc. Nhận ra chữ tay của tuỳ tùng thân tín Diệp Kính. Nghĩ trong đầu: hoặc nàng là gián điệp, hoặc có kẻ khác dùng nàng làm bung xung. Ta chọn khả năng đầu. Vì canh ấy ta chưa có bằng chứng cho khả năng sau, mà đế đô đêm đó không cho ta thêm nửa canh giờ để phân biệt.”

“Chàng ra khỏi phòng.”

“Ta khoá cửa. Ta đi đến kho củi. Ta tự tay lấy đuốc.”

Diệp Trầm dừng.

Vai nàng dưới tay chàng khẽ nhấc lên rồi rơi xuống, một hơi thở rất dài.

“Đến khi ta trở về, phòng đã bén lửa từ bên trong.”

Nàng ngẩng đầu.

Ánh mắt trong gương chạm ánh mắt.

“Từ bên trong?”

“Rèm phía đông cháy trước. Không phải phía ta để đuốc. Ta bỏ đuốc xuống, chạy vào. Cửa đã khoá bên ngoài, ta phá được thì lửa lên đến rường. Ta thấy nàng. Nàng ngồi. Cầm trâm bạc. Ngón tay đã bỏng. Ta gọi. Nàng không nghe. Ta rướn tới. Rường sập.”

Chàng ngừng.

Bàn tay chàng trên vai nàng lần đầu tiên siết chặt. Không đau. Nhưng chặt.

“Ta không giết nàng. Ta ra lệnh giết nàng. Nhưng người châm lửa trong phòng nàng trước ta, ta chưa từng nói với ai trong triều là ai. Vì nếu ta nói, kẻ đó sẽ biết ta biết. Nàng đã chết rồi, kẻ đó biết thêm cũng vô nghĩa.”

“Ai.”

Uyển Ngôn hỏi. Một chữ.

“Tô Nguyệt Nhi.”

Chàng đáp. Cũng một cái tên.

Nàng khép mắt. Hai hàng mi run. Nốt ruồi lệ dưới khoé mắt trái đêm nay dưới ánh nến hoá đỏ, như một giọt máu chưa ráo, giống hệt cái đêm nàng vạch mặt Ninh phu nhân trong phòng cũ.

“Ta biết,” nàng nói. “Ta biết từ khi Bích Đào nhặt được mảnh vải áo nàng ta trong đám tro trước cửa vương phủ. Nàng ta không tin ta chết chỉ vì phong thư của Đông Cung. Nàng ta muốn chắc chắn. Cạn tình cạn nghĩa đến nước ấy, mười tám năm sống chung một cửa cũng không đủ giữ tay nàng ta lại.”

Diệp Trầm cúi thấp hơn. Trán chàng chạm đỉnh đầu nàng.

“Kiếp này ta đến trước phong thư.”

Bàn tay chàng rời vai nàng. Dịch xuống, đặt lên bàn trang điểm. Bên cạnh chiếc trâm hoa mai vừa tháo, bên cạnh hộp phấn son, chàng bày ra một chiếc lư trầm nhỏ. Lư đồng ba chân, thân khắc chín cánh hoa mai. Trong lư có sẵn một cây nến trầm hương chưa châm.

Chàng lấy diêm.

Châm.

Ngọn lửa nhỏ nhảy lên, đứng thẳng, rồi ổn. Nến trầm hương cháy chậm, khói bay lên mảnh như một sợi tơ mỏng, thẳng, rồi tan.

Nến thơm 'Đen Trầm Tính' — Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm

Nến thơm 'Đen Trầm Tính' — Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm

179.000đ

Xem chi tiết →

Chàng đặt lư nến bên cạnh trâm bạc.

“Kiếp trước canh ba ta thắp đuốc. Kiếp này canh ba ta thắp nến. Nàng nói đêm ấy trong phòng cũ, nàng cầm trâm bạc kề cổ. Đêm nay ta để trâm cạnh nến. Nàng không cần cầm nữa.”

Uyển Ngôn nhìn lư trầm.

Khói mảnh lên, tan trong bóng đèn. Trầm hương ngấm vào lớp lụa đỏ áo cưới treo trên giá, chậm rãi thấm. Mùi trầm khô, đằm, có một chút ngọt sau đáy. Mùi ấy đêm nào mẹ ruột nàng cũng thắp trong phòng riêng khi ngồi đọc kinh. Nàng ngồi trên đùi mẹ, ngửi mùi trầm, ngủ quên. Mẹ nói: “Uyển, mùi trầm là mùi bình an. Ai ngửi được mùi trầm mà không sợ, người ấy về nhà rồi.”

Chín năm mồ côi, nàng chưa dám đốt trầm.

Kiếp trước đến chết cũng không.

Kiếp này, đêm nay, chàng châm.

Nàng nhấc mắt.

“Chàng chọn nến này?”

“Ta chọn. Sáu tháng trước ta phái người đi tìm khắp Trường An trầm hương thượng phẩm. Phía nam có một xưởng nhỏ ở Kỳ Sơn, ba đời làm nến trầm dâng thái miếu. Ta đặt riêng một mẻ cho đêm nay. Không phải để át mùi rượu. Để nàng ngồi trước gương, ngửi được mùi mẹ nàng.”

Uyển Ngôn quay đầu.

Lần đầu tiên trong đêm, nàng không nhìn chàng qua gương nữa. Nàng ngước lên. Mắt nàng chạm mắt chàng, không có tấm đồng ở giữa.

Diệp Trầm nhìn nàng.

Chàng cúi xuống. Không hôn lên môi. Chàng cúi xuống, hôn lên khoé mắt trái, ngay trên nốt ruồi lệ. Môi chàng ấm. Nốt ruồi đỏ dưới ánh nến trầm hoà vào môi chàng, không phân được đâu là ruồi, đâu là môi, đâu là bóng nến.

Rồi chàng lùi lại nửa gang.

“Tô Uyển Ngôn.”

Chàng gọi đủ họ.

“Kiếp trước ta ra lệnh giết nàng. Kiếp này ta ra lệnh giữ nàng. Cả triều biết, cả cung biết, cả Trường An biết. Chỉ có một điều ta chưa nói với triều, không nói với cung, không nói với Trường An. Nói riêng với nàng.”

Uyển Ngôn chờ.

“Ta yêu nàng.”

Ba chữ.

Ba chữ rơi trong phòng đêm rằm, giữa mùi trầm hương, giữa ánh nến, giữa trâm bạc đặt cạnh lư đồng, giữa áo cưới đỏ treo trên giá. Rơi. Đứng. Không tan.

Uyển Ngôn nhắm mắt.

Chín năm chờ mẹ. Mười bảy năm chờ chồng. Hai lần chờ cái chết. Đêm nay có ba chữ.

Nàng mở mắt. Đưa tay lên. Cầm bàn tay chàng đặt trên bàn cạnh lư trầm. Tay chàng vẫn còn hơi nóng của diêm vừa châm.

“Chàng đến trước phong thư.”

Nàng lặp lại câu đã nói.

“Kiếp này chàng đến trước phong thư. Ta đợi được. Chín năm ta đợi mẹ về nhà. Đêm nay ta đợi thêm ba chữ ấy, không lâu.”

Nàng gần lại.

Vòng tay chàng khoát ra. Ôm lấy nàng, khoác cả long bào đỏ lẫn áo lụa mềm trắng của nàng vào cùng một vòng ngực. Trong ngực chàng có tiếng tim đập chậm, nặng. Nàng ngửi được mùi trầm bay lên từ lư nến, ngửi được mùi vải long bào mới cắt còn hơi hồ, ngửi được mùi bồ kết trên tóc chàng vừa gội chiều nay.

Nàng nghĩ. Trong đầu chỉ một câu ngắn.

Về nhà rồi.

Diệp Trầm khoát tay, chỉ về phía cửa.

Chàng không cần gọi. Bích Đào đứng bên ngoài từ nãy, hiểu ý. Cánh cửa gỗ trầm đen phủ kim đóng lại chậm. Then chốt bên trong sập xuống. Một tiếng “cạch” khô.

Kiếp trước tiếng “cạch” ấy khoá nàng lại với đuốc. Kiếp này khoá phòng lại với nến.

Bên trong nến trầm hương cháy. Cháy chậm. Cháy đều. Cháy đến sáng.

Ngoài phòng.

Bích Đào bước lùi hai bước khỏi cửa tân phòng. Cúi chào rất thấp, dù không ai nhìn. Tay áo nàng lau nhanh mắt một lần. Không có nước. Cúi rồi thẳng người.

Nàng đi.

Hành lang khôn ninh cung đêm rằm dài, đèn lồng đỏ treo hai bên, cứ mười bước một chiếc. Bích Đào đi qua chín chiếc đèn. Rẽ về phía đông. Ra khỏi cấm cung chính, xuống một điện phụ. Điện phụ ấy vốn dành thờ những phi tần đã mất mà chưa có con cháu nhang khói, trong đó có mấy bàn nhỏ, mỗi bàn một bát nhang.

Uyển Ngôn hôm dọn về khôn ninh cung, đã xin thái hoàng thái hậu đặt trong điện phụ ấy một bàn thờ nhỏ cho Vân di nương. Không rình rang. Chỉ một bát nhang, một bức chân dung nhỏ vẽ chì, một chén trà.

Bích Đào đi thẳng đến bàn ấy.

Trong tay nàng có ba nén nhang mới. Đêm rằm đại hôn, ai cũng lo nến cưới, không ai nhớ nén nhang cho người đã khuất. Chỉ Bích Đào nhớ. Nàng đã nhớ chín năm.

Nàng châm nhang từ ngọn nến bàn thờ chính. Ba nén cháy đều. Nàng cắm vào bát.

Bàn tay nàng chưa buông thân nhang. Nàng cúi.

Nàng thấp giọng.

“Cô mẹ.”

Chỉ hai chữ. Bích Đào hầu Uyển Ngôn từ khi Vân di nương còn sống. Ngày còn nhỏ nàng gọi Vân di nương là “cô mẹ”, như con gái nhà thường gọi chủ mẫu người mình phục dịch. Chín năm nay nàng vẫn gọi thầm mỗi lần cắm nhang, không dám gọi to.

“Cô mẹ, con gái cô về nhà rồi.”

Nhang cháy. Khói bay lên mảnh, đi qua vành mắt Bích Đào, hoà vào bóng tối trên rường điện phụ.

Bích Đào đứng thêm một canh giờ.

Không nói thêm câu nào. Không có ai nghe. Ngoài điện, trời rằm tháng chín cao và trong. Trăng đầy, không bị mây che. Trên nóc khôn ninh cung, gió đêm đưa qua ngọn tùng, tùng lay chầm chậm.

Bên trong tân phòng, áo cưới đỏ treo trên giá. Trâm bạc hoa mai đặt bên lư nến trầm hương. Nến cháy. Cháy đến sáng.

Ngoài cửa, hai chiếc đèn lồng đỏ treo song song. Một đèn khắc chữ “Song Hỷ”. Một đèn khắc chữ “An”. Gió qua, đèn lay. Bóng chữ “Song Hỷ” chồng lên bóng chữ “An”, in trên nền đá xanh của hành lang.

Chồng lên. Không tách ra.

Đến sáng.