Hoài Cổ Truyện

Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh

Chương 8: Kết Vụ 1

Sáng cửa Tây thành, sương chưa tan hết trên mái ngói phường Nam.

Trống Đại lý tự điểm ba hồi.

Ta đứng trong hành lang gỗ, hai tay chắp sau lưng như thói quen của một thư đồng, nhìn ra sân đá bằng. Trên sân, án Vương Kiêu đã thành. Bảng cáo thị dán bốn ngả đường. Chữ mực đen chưa khô: “Nam tử họ Vương, nhị thập nhị tuế, giết nô tì Uyển Cầm, án chém, hành hình canh giờ Ngọ hôm nay tại pháp trường cửa Tây.”

Bên dưới bảng, dân phường Nam đứng thành hai lớp. Có bà lão bán bánh bao đội mê nón nhìn lên, mấp máy miệng đọc từng chữ. Có gã phu chở nước ngừng gánh, đặt đòn xuống, cầm cán chỉ vào tên. Không ai to tiếng. Ai cũng biết Vương thị lang là quan Lễ bộ. Ai cũng biết một nhà quan lớn, hôm nay mất một cái tên trên trời rơi xuống đất.

Ta hít vào một hơi.

Kiếp trước, mỗi lần một bản giám định pháp y được xoá đen tô đỏ, ta cũng đứng thế này. Đứng ở ngoài cửa toà, đợi thẩm phán tuyên. Không xúc động. Không hả hê. Chỉ là ba chữ trong đầu: xác nhận, nguyên nhân, cơ chế. Ba chữ ấy đi trước, tất cả tình cảm đi sau.

Chín trăm năm sau kiếp này, hoá ra vẫn thế.

“Thẩm Yên.”

Tiếng ai đó gọi phía sau. Ta quay lại.

Là Trần đầu mục, tay chân dưới quyền Lục đại nhân. Trần đầu mục bốn mươi, khoẻ như trâu, nói năng cộc lốc kiểu lính lâu năm. Hắn cầm một tấm thẻ tre đưa cho ta.

“Đại nhân sai đưa. Ngươi nhận bổng tháng này.”

Ta cầm thẻ tre. Ba lượng. Đúng như lời Lục đại nhân nói ngày ta vào. Không hụt, không thừa. Ta gật đầu. Trần đầu mục nhìn ta một cái, định nói gì rồi thôi. Cuối cùng chỉ hạ giọng.

“Vụ Vương Kiêu, ngươi làm được. Anh em Đại lý tự không nói ra mồm, nhưng đều biết. Bổn phủ này mấy chục năm chưa ai đọc được sợi vải xanh.”

Ta cúi đầu. “Hạ quan chỉ làm phận sự.”

Trần đầu mục hừ một tiếng, quay đi.

Bổng lộc ba lượng nằm trong lòng ta lạnh như một mảnh đá. Ba lượng đủ đổi hai tháng thuốc cho mẹ nuôi. Đủ thêm nửa chum gạo. Đủ một áo bông mới cho mùa đông sắp tới. Vụ này, một mạng nô tì Uyển Cầm đổi lấy ba lượng bổng và một tấm cáo thị. Trong sổ trời chắc là cân bằng, ta không rõ. Trong sổ ta thì chưa.

Ta nắm chặt thẻ tre, đi ngược hành lang.


Phòng khám tử thi Đại lý tự nằm cuối lang, chếch về hướng Bắc. Cửa gỗ nặng, luôn khép hờ, không khoá. Bên trong, ba chiếc bàn đá bằng phẳng. Trần cao. Ô thoáng bằng lụa mỏng ở góc trên. Không có nến ban ngày, chỉ có ánh sáng lọt qua ô thoáng, đủ để nhìn màu da tử thi. Chỗ này Lục đại nhân dặn không được thắp đuốc, sợ khói làm mờ vết trên xác.

Ta đẩy cửa vào.

Trên bàn thứ nhất là xác Uyển Cầm.

Xác đã ba ngày. Da xanh nhợt, môi tím. Nước giếng ngấm khiến các đầu ngón tay nhăn như vỏ đậu ngâm. Ta rút chiếc quạt lụa gấp cha để lại, phất một cái nhẹ. Mùi tử thi lẫn mùi nước bùn dạt sang một bên. Không nhiều, nhưng đủ.

Ta đứng nhìn xác Uyển Cầm rất lâu.

Cô ấy mười bảy tuổi. Nô tì mua từ Giang Nam về, chưa hết ba năm hợp đồng. Trong sổ Vương phủ ghi cô “hoạt bát, ngoan, biết chữ nhỏ”. Ta không biết mặt cô lúc còn sống. Nhưng ta biết cách người ta chết. Trên cổ cô có bốn dấu ngón tay. Trong phổi cô không có nước. Xương móng tay cô còn sợi vải xanh mà ta đã gỡ ra hôm mồng năm.

Ta cúi xuống một chút, khẽ đưa quạt che cho cô. Không phải nghi lễ. Chỉ là thói quen của một pháp y. Trước khi báo cáo, cúi đầu một lần cho người nằm dưới. Trên bàn giải phẫu ở Sài Gòn ta cũng làm vậy.

“Uyển Cầm cô nương.” Ta nói khẽ. “Trưa nay đến canh giờ Ngọ, Vương Kiêu sẽ đền.”

Xác không đáp. Ta không cần đáp.

Ta đứng thẳng dậy, ra khỏi phòng, khép cửa gỗ nặng.

Trần đầu mục bảo canh giờ Tị Lục đại nhân sẽ ký giấy chuyển xác về phường Bắc để chôn. Vương phủ không nhận, phường không có thân nhân, ta xin Lục đại nhân cho chôn ở nghĩa trang cửa Nam, cạnh mộ cha ta.

Lục đại nhân nghe xong, mắt nhìn ta lâu hơn một canh thường lệ. Rồi gật đầu. Không hỏi lý do.

Không hỏi lý do là một loại tin.


Ta đi ra sân trước.

Trong sân, thị vệ đã dẫn Vương Kiêu ra. Hai tay hắn bị trói ngược sau lưng bằng dây thô. Trên tóc còn sót lại búi cứng. Áo xanh tơ, đêm qua nôn ra mật, giờ ố vàng ở vạt. Người hôm qua còn kiêu ngạo trước mặt cha, giờ như một tấm áo cũ vắt trên móc.

Bên cạnh hắn, Vương thị lang bị áp giải sau. Không trói tay. Chỉ tước quan phục, mặc thường phục lụa xám. Râu bạc phất phơ, đầu cúi thấp. Đây không phải Vương thị lang ba ngày trước ngồi trên chiếc ghế thái sư ở phủ chỉ tay bảo “vụ này đóng cho xong”. Đây là một ông lão sáu mươi vừa mất chức, mất con, mất mặt trước cả triều đình trong một sáng.

Ta chợt nhớ câu mẹ nuôi hay nói: gieo gió gặt bão. Cả kiếp trước lẫn kiếp này, câu này không sai đi được nửa chữ.

Lục Vô Ngạn đứng trên thềm cao. Áo đen thêu chỉ bạc, tay trái đeo hộ oản gỗ đen. Ánh sáng buổi sáng đọng trên vai chàng, làm đường sống lưng cứng như một cây bút. Chàng không nhìn Vương Kiêu. Chàng nhìn Vương thị lang.

“Vương đại nhân.” Giọng chàng bằng phẳng. “Con ngài giết người. Ngài che. Chiếu chỉ vừa ban: xoá tên khỏi quan tịch, đuổi về nguyên quán, ba đời không được thi cử.”

Vương thị lang không đáp. Chỉ chớp mắt hai lần. Đôi mắt đục đục lộ ra một ánh gì đó rất ngắn, rồi tắt.

Ta biết ánh mắt ấy. Ta đã thấy nhiều lần trên mặt thân nhân người chết ở phòng giải phẫu. Không phải hối hận. Là tính toán. Ông ta đang tính toán xem cái gì còn cứu được. Kho hàng ngầm dưới nhà. Vò diêm thổ dán tem Trương phủ đã bị Đại lý tự đưa đi. Sổ giao dịch. Người chứng.

Lục Vô Ngạn nói tiếp. “Đúng giờ Ngọ đưa Vương Kiêu ra pháp trường. Trước đó, cho hắn viết di thư một trang. Đại lý tự lưu bản sao.”

Trần đầu mục vâng.

Vương thị lang đột nhiên ngẩng đầu, nhìn Lục Vô Ngạn. Ta thấy môi ông ta mấp máy. Định nói gì đó. Cuối cùng chỉ nói được ba chữ.

“Lục đại nhân…”

Lục Vô Ngạn nhìn xuống. Ánh mắt như dao khắc. “Ngài định nói gì?”

Vương thị lang lại chớp mắt. Không nói nữa. Chỉ cúi đầu.

Ta hiểu ba chữ ấy. Vương thị lang biết vụ diêm thổ chưa xong. Ông ta biết trên đầu ông ta còn có người. Ba chữ ấy đáng lẽ tiếp theo là “xin đại nhân”. Xin cái gì thì chưa kịp nói. Vì nói ra sẽ là tự khai.

Lục Vô Ngạn không hỏi. Không truy. Chỉ khoát tay.

“Áp giải.”

Thị vệ đẩy Vương Kiêu đi trước. Vương thị lang đi sau, tay lỏng bên hông, gót giày lụa xám lê trên đá. Ta đứng bên hành lang, nhìn hai bóng người khuất ở cửa lớn.

Trước khi khuất, Vương thị lang liếc ta một cái.

Chỉ một cái.

Ánh mắt ấy không nhìn ta như nhìn một ngỗ tác thấp hèn. Ánh mắt ấy nhìn ta như nhìn một chướng ngại. Ta cúi đầu che đi cặp mắt. Trong lòng ghi lại: Vương thị lang biết ta là người đọc ra sợi vải. Ông ta không quên. Ngày nào đó ông ta sẽ trở lại.


Canh giờ Ngọ.

Pháp trường cửa Tây. Ta không đi. Ngỗ tác không có phận sự ra pháp trường. Phận sự của ngỗ tác kết ở tấm bàn đá phòng khám.

Ta ở lại Đại lý tự, dọn dụng cụ. Bàn đá được lau bằng rượu trắng. Dao găm và kẹp gắp được rửa nước sôi, lau khô, xếp vào hộp gỗ có lót lụa. Ta làm chậm. Từng động tác. Kiếp trước ta dạy sinh viên: dao sạch là danh dự cuối cùng của pháp y. Kiếp này cũng vậy.

Bích Đào, con gái Diệp Nương, mười ba tuổi, đã được Diệp tỷ gửi vào phụ ta ba ngày nay. Con bé đứng bên bàn, cầm một chiếc khăn lụa xanh, mắt long lanh nhìn ta lau dao.

“Thẩm ca ca.” Nó gọi. Ta gật.

“Ngươi có sợ không?”

Ta nhìn nó. “Sợ gì?”

“Sợ… hồn Uyển Cầm cô nương theo về.”

Ta bật cười một tiếng ngắn. Trong đầu ta có mấy giây nhớ lại phòng giải phẫu Sài Gòn, nhớ lại y tá trẻ hỏi ta câu tương tự trong đêm trực khuya. Ta nói với y tá đó câu gì, giờ ta nói lại với Bích Đào câu ấy.

“Nếu Uyển Cầm cô nương theo, ta cảm ơn cô ấy. Cô ấy theo về nghĩa là ta chưa làm hết. Còn thiếu chỗ nào, cô ấy nhắc.”

Bích Đào chớp mắt. Ngẫm một lúc. Rồi gật đầu. “Bích Đào cũng học cách nghĩ của Thẩm ca ca.”

Ta cầm khăn lụa xanh trong tay nó, lau lại lưỡi dao lần cuối, xếp vào hộp. Nắp hộp đóng lại kêu một tiếng khẽ.

Ngoài kia có tiếng trống điểm Ngọ.

Ta không nhìn ra cửa. Chỉ đóng nắp hộp dụng cụ.

Vương Kiêu chết trong tiếng trống đó. Ta biết mà không cần nhìn. Kiếp trước ta cũng biết bao nhiêu kẻ chết mà không cần nhìn: chết vì con dao mổ trong tay ta, chết vì bản giám định có chữ ký ta. Có kẻ đáng, có kẻ oan. Vương Kiêu là kẻ đáng. Ta không tiếc.

Ta tiếc Uyển Cầm. Ta tiếc cả xác trẻ trôi sông có thể chưa được vớt lên. Ta tiếc cha ta hai năm trước không có ai đọc được sợi vải, chỉ đọc được “chết bất minh” rồi thôi.

Ba lượng bổng vẫn nằm trong tay áo. Ta chưa lấy ra.


Chiều muộn, Trần đầu mục đến gọi ta. “Đại nhân sai.”

Ta theo hắn qua sân, lên nhà chính. Cửa phòng Lục đại nhân mở hờ. Bên trong có tiếng bút cạo giấy khe khẽ.

Ta đứng ngoài cửa. “Hạ quan Thẩm Yên xin vào.”

“Vào.”

Ta bước vào. Cúi đầu.

Phòng đại nhân bày biện gọn. Một bàn dài. Trên bàn nến sáp trắng đang cháy chậm dù trời chưa tối. Bên cạnh bàn, một chiếc tủ gỗ trắc đen, khoá bằng ổ khoá đồng lớn. Trên tường treo một bức tự trục lụa vàng, chỉ có bốn chữ đen: “trắng đen phải rõ”. Bốn chữ chàng viết bằng thể lệ khắc, cứng.

Chàng ngồi sau bàn. Áo đen chưa thay. Tay trái vẫn đeo hộ oản gỗ. Tay phải cầm bút. Trước mặt chàng là báo cáo vụ Vương Kiêu, đã viết xong ba phần.

Chàng đặt bút. Nhìn ta.

“Ngồi.”

Ta ngồi xuống ghế đối diện. Ghế lạnh, chân ta chạm sàn gỗ ẩm buổi chiều. Ta ngẩng đầu, giữ ánh mắt thẳng, không lén.

“Vương Kiêu xử xong giờ Ngọ.” Chàng nói. “Bản báo cáo đóng vụ. Ba lượng bổng ngươi nhận. Bổng thêm một lượng ngươi được, do công đọc sợi vải xanh. Bổng thêm này Đại lý tự chưa phát cho ngỗ tác nào.”

Ta cúi đầu. “Hạ quan không dám nhận thưởng riêng.”

“Không phải thưởng riêng.” Chàng nói. “Là công. Cầm.”

Chàng đẩy một mảnh thẻ đồng nhỏ qua bàn. Ta nhận, hai tay đưa vào tay áo.

Không khí trong phòng có mùi trầm nhẹ. Trên bàn, cạnh nến sáp trắng, có một chiếc đế đồng nhỏ. Trên đế là một cây nến trầm hương chưa châm.

Nến thơm 'Đen Trầm Tính' — Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm

Nến thơm 'Đen Trầm Tính' — Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm

179.000đ

Xem chi tiết →

Ta nhìn cây nến trầm hương ấy. Loại này ta biết. Cha ta xưa mua từ tiệm hương phường Bắc, mỗi tháng một cây, đốt trên bàn thờ mẹ ta. Cha nói: “trầm hương làm bút mực bớt lem, làm giấy bớt run tay, làm người viết bớt vội.”

Kiếp trước ta không tin. Kiếp này ta nghĩ có lẽ đúng.

Lục Vô Ngạn theo ánh mắt ta.

“Ngươi biết loại nến này?”

“Cha hạ quan xưa hay dùng.” Ta nói. Câu này chân thật. Không phải khoe. Chàng “ừ” một tiếng.

Chàng đứng dậy, đi tới tủ gỗ trắc. Rút chìa khoá từ trong áo. Mở khoá.

Trong tủ có ba ngăn. Ngăn trên chứa các cuộn giấy vụ án cũ, đánh dấu bằng thẻ tre. Ngăn giữa chứa hộp gỗ nhỏ. Ngăn dưới trống.

Chàng lấy ra hộp gỗ nhỏ ở ngăn giữa. Mở nắp.

Bên trong là ba con dấu triện đất nung. Ba con dấu này chính là ba tem diêm thổ ta và chàng tìm được trong kho ngầm Vương phủ đêm mồng bảy. Tem của Trương phủ.

Chàng đặt hộp trên bàn. Ngón tay chàng gõ nhẹ lên nắp hộp.

“Tem này.” Chàng nói. “Không đưa lên triều. Không nhắc trong báo cáo vụ Vương Kiêu.”

Ta không đáp ngay.

Trong lòng ta có tiếng chuông nhỏ vang lên. Kiếp trước ở phòng giải phẫu, khi ta phát hiện một chi tiết sai với hồ sơ mà giáo sư bảo “để đó, không cần ghi”, ta cũng nghe chuông này. Chuông này báo: có kẻ đang giấu, không phải ngươi.

Ta ngẩng đầu. Giữ giọng bình.

“Đại nhân, tem này là bằng chứng lớn nhất.”

“Ta biết.” Chàng nói. Không né.

“Vì sao không dâng?”

Chàng nhìn ta. Ánh mắt như dao khắc, nhưng không có ác. Chàng nói, giọng chậm hơn thường lệ.

“Vì dâng lên triều thì tem này biến mất trong ba ngày. Trương Nguyên Chương là Lễ bộ thượng thư. Bút phê của hắn đi trước bút phê của Đại lý tự thiếu khanh. Ngươi hiểu?”

Ta hiểu.

Ta cũng hiểu thêm một điều nữa mà chàng chưa nói: nếu chàng chỉ đơn thuần muốn bảo toàn bằng chứng, chàng có thể lưu tem này trong kho án của Đại lý tự, đóng dấu Đại lý tự thiếu khanh. Chàng không làm vậy. Chàng cất trong tủ khoá riêng của phòng chàng.

Đây là tủ riêng của Lục Vô Ngạn, không phải tủ án của Đại lý tự.

Chàng đang giấu thứ này cho chính chàng, không phải cho triều đình.

Chuông trong lòng ta vang lên lần hai. Chuông này báo: chàng có mối thù riêng với Trương Nguyên Chương. Mối thù riêng đủ để một Đại lý tự thiếu khanh dám tự tay giấu bằng chứng.

Ta cụp mắt xuống, che ánh mắt trước khi chàng đọc được.

“Hạ quan hiểu.” Ta nói.

Lục Vô Ngạn im mấy giây. Sau đó chàng đậy nắp hộp, đưa lại vào tủ, khoá.

Chàng quay lại ghế, ngồi xuống. Nhìn ta.

“Thẩm Yên.”

“Có.”

“Ngươi biết ta đang giấu. Ta biết ngươi biết.”

Câu này ném xuống bàn như một viên đá lạnh. Ta không né được.

Ta ngẩng đầu. “Vâng.”

Chàng gật đầu. “Vậy ta nói ngươi rõ thêm một câu. Ngươi đọc được sợi vải xanh, ngươi tìm ra Vương Kiêu, ngươi giúp Đại lý tự đóng vụ. Nhưng ngươi cũng đọc được điều thứ hai mà cả sân này chỉ có ngươi đọc: Vương phủ chỉ là mắt xích. Bên trên còn người. Đúng không?”

Ta gật.

“Vậy ngươi tiếp tục làm ngỗ tác. Đọc xác. Đọc dao. Đừng đọc triều đình. Việc đọc triều đình để ta.”

Ta cúi đầu. “Hạ quan tuân.”

Chàng nhấc bút, tiếp tục viết bản báo cáo còn dở. Không nhìn ta thêm.

Ta biết ý chàng. Chàng đang bảo hộ ta. Chàng biết một thiếu niên ngỗ tác mười tám tuổi đâm đầu vào Trương phủ nghĩa là chết. Chàng bảo ta giữ trong khoang thân phận. Nhưng chàng cũng đã hé cho ta thấy: chàng đang tự mình đi đâm đầu. Chàng có lý do riêng, đến mức không giao bằng chứng cho triều.

Ta không hỏi lý do riêng của chàng.

Không phải vì không muốn biết.

Vì nếu hỏi ngay hôm nay, có thể chàng sẽ nghi ta có mưu đồ ngoài phận sự. Một thiếu niên ngỗ tác mới vào ba tuần không nên biết quá nhiều quá sớm. Ta đủ khôn để đợi.

Ta đứng dậy, cúi mình. “Hạ quan xin lui.”

“Đi.”

Ta lui ra, khép cửa phòng chàng.

Ra đến hành lang, ta hít một hơi dài. Trong tay áo, thẻ bổng ba lượng và thẻ đồng bổng thêm chạm nhau kêu một tiếng khẽ. Trong đầu ta, ba chữ “tủ khoá riêng” khắc chặt hơn cả tem diêm thổ khắc trên đất nung.


Đêm về.

Nhà ta ở phường Nam, hẻm số ba, ba gian gỗ ẩm, mái tranh vá bằng lá cọ. Mẹ nuôi đang ngồi trên giường, tựa gối. Tay chai vẫn cầm cây bút nhỏ, đang chép Đạo Đức Kinh cho khỏi run. Thấy ta về, mẹ ngẩng đầu.

“Yên tử.”

“Mẹ.”

Ta cởi áo ngoài, giặt tay. Bích Đào đã nấu cháo. Ta bưng bát cháo lên cho mẹ, ngồi bên giường, đút từng thìa. Mẹ nuôi vừa ăn vừa nhìn ta. Đến thìa cuối, mẹ đặt tay lên tay ta.

“Yên. Hôm nay Đại lý tự có chuyện gì. Con mặt lạnh hơn ngày thường.”

Ta bật cười khẽ. Mẹ nuôi mắt tuy đục nhưng vẫn đọc ta như đọc chỉ tay. Ta không giấu được. Chỉ nói vắn tắt.

“Đóng một vụ. Con trai quan lớn giết nô tì.”

Mẹ nuôi thở dài. “Nói có sách, mách có chứng. Đọc được sợi vải rồi thì đóng vụ, con làm đúng. Nhưng nhà quan lớn, con dè chừng. Kẻ mất mặt hôm nay là kẻ nhớ dai.”

Ta nhìn mẹ. Không đáp. Chỉ gật.

Mẹ nuôi vuốt tay ta. Bàn tay mẹ ấm hơn ta nghĩ. Ta chợt nghĩ, cha đẻ ta hai năm trước chết bất minh, cha nuôi (cha của Thẩm Yên gốc) chưa từng có, giờ ta chỉ còn mẹ nuôi này. Nếu ta để mất mẹ vì đâm đầu vào Trương phủ, ta không đáng làm con.

Ta đắp chăn cho mẹ, thổi đèn đầu bàn. Chỉ để một đèn dầu nhỏ ở góc.

Ta ra bàn ngoài. Trên bàn có một cuốn sổ tay ta khâu bằng chỉ đỏ, giấy dó. Đây là sổ ta ghi từng vụ án và từng manh mối kiếp này. Không phải sổ Đại lý tự. Là sổ riêng của ta.

Ta rút quạt lụa gấp cha để lại, đặt bên sổ. Trong lòng có một tiếng nói khẽ: cha, hôm nay con đóng vụ đầu. Cha có nghe không?

Ta lấy trong tay áo cây nến trầm hương ta ghé mua ở tiệm hương phường Bắc lúc chiều, trên đường về. Loại giống loại đặt trên bàn Lục đại nhân. Cây nến gói trong giấy dó, dây gai buộc, một thẻ tre nhỏ khắc chữ “tam trầm”.

Ta đặt nến trầm hương vào đế đồng nhỏ (đế này là đồ mẹ nuôi để lại từ hồi cha đẻ ta còn sống, cha đẻ ta cũng hay đốt trầm khi viết báo cáo pháp y).

Ta lấy đá lửa. Đánh. Châm.

Ngọn lửa nhỏ nhảy lên, đứng thẳng, rồi ổn.

Khói trầm mảnh bay lên như một sợi tơ, thẳng, rồi tan trong bóng đèn dầu.

Mùi trầm khô, đằm, có một chút ngọt sau đáy. Mùi này cha ta đêm nào cũng thắp khi viết. Mùi này Lục Vô Ngạn hôm nay đặt trên bàn báo cáo mình. Mùi này hai cha con và một người xa lạ đang cùng ngửi trong một đêm cách nhau hai năm và mấy trăm bước hẻm phường Nam.

Ta mở sổ tay giấy dó.

Cầm bút. Chấm mực.

Viết:

Ngày mười hai tháng hai, niên hiệu.

Vụ Vương Kiêu đóng. Vương Kiêu xử trảm giờ Ngọ. Vương thị lang xoá tên khỏi quan tịch, đuổi về nguyên quán. Bổng ba lượng cộng một lượng thưởng.

Ta dừng bút một khắc. Nhìn ngọn nến. Khói trầm vẫn thẳng.

Viết tiếp:

Manh mối lớn thứ nhất: Ba tem diêm thổ dán trên vò kho ngầm Vương phủ mang dấu Trương phủ. Chủ tem: Trương Nguyên Chương, Lễ bộ thượng thư.

Trương Nguyên Chương, mắt xích một.

Ta lại dừng. Nến trầm hương cháy chậm, sáp chảy xuống đế đồng thành một giọt nhỏ. Ta nhìn giọt sáp ấy, nghĩ đến ba con dấu triện đất nung trong hộp gỗ nhỏ ở tủ khoá riêng của Lục Vô Ngạn.

Ta lại chấm mực, viết dòng cuối:

Lục Vô Ngạn giữ ba con dấu Trương phủ, không dâng triều, khoá riêng trong tủ phòng chàng. Chàng có mối thù riêng với Trương Nguyên Chương. Chàng chưa nói ra. Ta chưa hỏi. Ngày nào đó chàng sẽ nói, hoặc ta sẽ đoán.

Ta dừng bút.

Nhìn dòng cuối.

Bút mực đỏ (mực ta pha loãng cinnabar theo công thức cha để lại, dùng khi ghi manh mối mật) đứng trên giấy dó như một vệt máu nhỏ. Ta phất quạt lụa nhẹ một cái cho mực khô. Đóng sổ. Buộc chỉ đỏ. Cất vào ngăn kín dưới đáy hộp đồ nghề.

Ta thổi tắt đèn dầu. Không thổi tắt nến trầm hương. Nến ấy cháy hết trong đêm, khói tan lên xà nhà, thấm vào lớp tro trên bát hương cha ta ở góc nhà, thấm vào chăn mỏng của mẹ nuôi.

Ta ngồi trước bàn thêm một canh. Không ngủ ngay.

Trong đầu ta, ba mảnh cờ đầu tiên đã đặt xuống bàn.

Mảnh một: Vương Kiêu đã chết, Vương thị lang đã xoá tên. Kẻ mất mặt hôm nay là kẻ nhớ dai, mẹ ta nói không sai. Ta phải phòng.

Mảnh hai: Trương Nguyên Chương là mắt xích một. Kẻ này giết cha ta, ta chưa có bằng chứng, nhưng ta có linh cảm. Linh cảm này ta sẽ nuôi cho thành bằng chứng.

Mảnh ba: Lục Vô Ngạn giấu tem. Chàng đang tự mình đi vào một trận cờ mà chàng chưa nói lý do. Ta phải đứng cạnh chàng đủ gần để đọc, đủ xa để không bị nghi.

Ta phất quạt lụa gấp thêm một cái. Mùi trầm thoảng lên. Ngoài cửa sổ, sương phường Nam đang xuống, đọng trên lá chuối.

Ta khẽ nói với ngọn nến, không cho ai nghe.

“Trắng đen phải rõ. Cha, con hứa.”

Ngọn nến không đáp. Khói vẫn thẳng, rồi tan.

Ta đứng dậy, khép cửa, đi vào chỗ ngủ. Đêm phường Nam yên. Mai còn vụ khác. Xác chưa đến, nhưng ta biết sẽ đến. Kiếp trước ba nghìn xác qua bàn ta. Kiếp này mới ba tuần, mới một vụ. Đường còn dài.

Ta nhắm mắt.

Trong bóng tối sau mí mắt, có ba con dấu đất nung xếp thành hàng. Có ba chữ đen trên tự trục lụa vàng ở phòng chàng: trắng đen phải rõ. Có một dòng bút mực đỏ trong sổ ta: mắt xích một.

Chàng có bí mật với Trương.

Ta có bí mật với cả kiếp trước lẫn kiếp này.

Bí mật của ta và bí mật của chàng chưa gặp nhau. Nhưng cùng một đêm nay, cùng một mùi trầm hương, hai bí mật đang đứng bên nhau, chưa chạm.

Ngày nào đó sẽ chạm.

Ta không sợ.