Sau Khi Hoà Ly Ta Trở Thành Hoàng Hậu
Chương 1: Hoà Ly Thư Đỏ
Kiếp trước, chén rượu độc trong lãnh cung còn ấm.
Bàn tay đưa chén là bàn tay ai, ta không nhìn rõ. Chỉ nhớ ngoài song cửa hẹp, tuyết rơi trắng như khăn tang. Một mảnh gấm điều rách nát bay lên, rồi rơi xuống, in vào tường vôi lạnh như một vết máu khô.
Ta chết vào giờ Tuất, mùng tám tháng ba năm Cảnh Bình thứ mười ba.
Mở mắt ra, ta trở lại mùng bảy tháng chạp năm Cảnh Bình thứ mười hai. Đúng ngày ta cầm hoà ly thư đến Trấn Bắc vương phủ.
Cổ tay ta còn nguyên. Móng tay ta còn nguyên. Cả cái vết bầm hình cánh hoa mai trên mu bàn tay, do đêm qua ta đập bàn quá mạnh làm rơi nghiên mực xuống, cũng còn nguyên.
Ta cúi đầu. Một giọt nước mắt rớt xuống mặt gương đồng. Vỡ tan thành trăm mảnh nhỏ.
Chỉ một giọt. Ta không cho phép mình có giọt thứ hai.
Cả kiếp trước ba năm ta khóc trong Trấn Bắc vương phủ, ba tháng ta gào rát cổ họng trong lãnh cung, một canh giờ ta van xin trước chén rượu độc. Nước mắt của ta đã đủ rót đầy Tương Hồ. Kiếp này, không còn một giọt nào là uổng phí.
Kiệu dừng trước cổng vương phủ Trấn Bắc.
Bốn phu kiệu đặt kiệu xuống nhẹ như đặt một hộp đồ sứ. Thềm đá bảy bậc, phủ một lớp sương mỏng như da người chết. Trên cao, hai con sư tử đá há miệng ngậm quả cầu đồng, mắt trợn ngược nhìn thẳng vào người tới.
Ta bước xuống. Áo tơ hồ điệp bay sát đất, gấu áo dính chút bụi tuyết. Hoà ly thư niêm son đỏ, đè lên lòng bàn tay ta. Lạnh như đá đầu suối. Đỏ như máu ứa từ đầu ngón tay.
Kiếp trước, đúng ngày này, ta đứng ở chỗ này, ôm một tấm khăn lụa gấm thêu đôi uyên ương. Khăn ấy do chính tay ta thêu cho hắn, mười tám mũi kim mỗi ngày, thêu suốt hai tháng. Ta cầm khăn ấy chạy vào phủ, chạy xuyên qua sân trước, chạy đến tận thư phòng.
Ta khóc. Ta lạy. Ta ôm gấu áo hắn.
“Vương gia, thiếp không có. Thiếp thề với trời cao, bức thư kia không phải của thiếp.”
Hắn không nhìn ta. Hắn lấy tay hất khăn xuống đất, giẫm lên bằng một chiếc giày da lộc màu đen.
“Chu Vãn Ninh, ta cho ngươi một đường sống. Ngươi tự viết hoà ly thư, ta không truy cứu Chu gia.”
Ta không viết. Ta không chịu viết. Cuối cùng ta bị áp vào lãnh cung phía tây. Cửa lãnh cung mười lăm năm rồi không mở. Trên đó có bảy vòng khóa đồng. Người vào đó, không phải ai cũng ra được. Ta là kẻ không ra được.
Ba tháng sau, biểu muội của hắn, Vệ Nguyệt Lam, đứng ngoài song sắt. Tay bưng khay bạc. Trên khay, một chén rượu Kim Bích Hà, loại rượu ngọt nhất Đại Tề, thoảng mùi hoa quế.
“Tỷ tỷ…” Nàng ta cười, đôi mắt uốn cong như trăng non. “Uống đi, uống rồi ngủ sẽ không lạnh nữa.”
Ta cười. Ta uống. Ta chết.
Kiếp này, ta không khóc nữa.
“Vương phi trở về?”
Lão quản gia Vương thúc bước ra khỏi cổng, giọng run run. Ta biết ông ta run vì lạnh, không phải run vì mừng.
Ta không đáp. Ta chỉ nâng tấm thư đỏ trên tay lên một chút.
Vương thúc trợn mắt. Miệng há ra như con cá thiếu nước.
“Vương gia… vương gia đang trong Uyên Vũ đường tiếp Vệ tiểu thư. Vương phi… vương phi có muốn để lão nô…”
“Không cần thông báo.” Ta nói.
Giọng ta bình thản. Đến chính ta cũng lấy làm lạ, sao mới một đêm mà giọng ta có thể bình thản đến thế. Đêm qua ta thức trắng. Ta đã khóc đủ cho hai kiếp người trong một canh giờ. Từ canh hai đến canh ba, ta khóc đến kiệt sức. Sang canh tư, ta rửa mặt, ngồi trước gương đồng, tự vấn tóc lên búi cao, cài trâm hoa mai bằng bạch ngọc. Trâm ấy là của mẹ đẻ ta, di vật duy nhất bà để lại.
Canh năm, ta viết hoà ly thư. Bút lông thỏ, giấy Tô Châu, mực Huy Châu. Chỉ ba hàng chữ. Không thừa một chữ. Không thiếu một chữ.
Sáng nay, ta niêm son đỏ. Ta cầm nó đến đây.
Vương thúc không dám cản. Ông ta đứng nép sang một bên, hai tay đan vào nhau, mắt nhìn chằm chằm xuống bậc đá.
Ta bước qua ngưỡng cửa. Cổng vương phủ phía sau khép lại nửa cánh.
Uyên Vũ đường ở trung tâm phủ. Nơi hắn thường tiếp khách quý. Nơi kiếp trước ta đã lạy hắn không biết bao nhiêu lần.
Ta bước vào. Rèm gấm đỏ được vén lên. Hoắc Đình Yến đứng bên cửa sổ, tay cầm chén trà, mặc áo cẩm bào xanh đậm thêu chỉ vàng. Trên đầu là mão bạch ngọc. Vẫn dáng vẻ ấy. Vẫn khuôn mặt như tạc từ đá lạnh ấy.
Kiếp trước ta nhìn khuôn mặt này, ta thấy trời trăng.
Kiếp này ta nhìn khuôn mặt này, ta thấy nấm mộ.
Bên cạnh hắn, ngồi trên trường kỷ, là Vệ Nguyệt Lam.
Nàng ta hôm nay mặc áo hồ điệp phấn hồng, tay áo rộng dài, cổ tay đeo vòng bạch ngọc. Đôi mắt cong cong, đôi má hồng hồng, dáng vẻ nữ nhi tình dài đứt ruột. Vừa thấy ta, nàng ta lập tức đứng dậy. Nét mặt vừa mừng vừa dè dặt.
“Biểu tẩu.”
Nàng ta chào ta. Giọng ngọt như đường phèn.
Ta không nhìn nàng ta. Kiếp trước, ta cũng đã từng bị giọng nói ngọt ngào này lừa. Ta đã từng gọi nàng ta là “muội muội”. Ta đã từng đưa xuyến ngọc cho nàng ta đeo. Ta đã từng dạy nàng ta thêu. Ta đã từng ngủ chung một giường với nàng ta trong đêm đông rét mướt, sợ nàng ta lạnh.
Đủ rồi. Kiếp này ta không có muội muội. Ta chỉ có kẻ thù.
Ta bước tới. Đến giữa gian phòng, ta dừng.
“Vương gia.”
Hoắc Đình Yến quay đầu lại. Ánh mắt hắn quét qua ta, dừng lại nửa khắc ở tấm hoà ly thư đỏ trong tay ta. Chân mày hắn chợt cau lại.
“Ngươi… đây là cái gì?”
Ta không đáp. Ta bước ba bước, đặt hoà ly thư lên án thư sơn son. Tấm giấy đỏ nằm ngay ngắn giữa mặt gỗ đen. Đẹp. Như vệt máu tươi.
Ta lùi lại một bước, đứng thẳng người, cúi đầu chào.
“Thiếp Chu Vãn Ninh, kính nạp hoà ly thư. Xin vương gia niêm ấn.”
Cả gian phòng chợt im như tờ.
Vệ Nguyệt Lam mở to mắt. Nàng ta đưa tay che miệng, như thể không thể tin vào tai mình. Nhưng ta để ý, ngón tay nàng ta run rất nhẹ. Không phải run vì kinh hãi. Là run vì mừng rỡ. Là run vì một sự việc đã chờ đợi quá lâu, cuối cùng cũng đến.
Kiếp trước ta không nhìn thấy. Kiếp này ta nhìn thấy rất rõ.
Hoắc Đình Yến đặt chén trà xuống. Tiếng sứ chạm vào đá vang lên một tiếng “cạch” khô khốc.
“Ngươi nói lại xem?”
Giọng hắn thấp. Gằn từng chữ.
Ta ngước mắt. Nhìn thẳng vào hắn.
“Thiếp muốn hoà ly.”
Hoắc Đình Yến bước tới một bước. Hắn cao hơn ta gần một cái đầu. Cả gian phòng như bị hắn che khuất một nửa.
“Chu Vãn Ninh, ngươi có biết ngươi đang nói gì không?”
“Thiếp biết.”
“Bức thư kia…”
“Bức thư kia có thật hay giả, thiếp không cần vương gia tra rõ nữa.” Ta ngắt lời hắn.
Kiếp trước, ta van xin hắn tra rõ, hắn không tra.
Kiếp này, hắn muốn tra, ta không cần.
Hoắc Đình Yến ngẩn ra. Ánh mắt hắn quét qua ta một lần nữa, lần này chậm hơn. Như thể lần đầu tiên nhìn thấy ta. Lần đầu tiên nhìn thấy người đàn bà đã ở bên hắn ba năm nay.
Ba năm. Ba năm ta hầu hạ mẹ hắn đến bà ấy nhắm mắt. Ba năm ta quản việc phủ đến từng đồng bạc không sai lệch. Ba năm ta đưa cơm cho hắn trước mỗi buổi hắn phê chuẩn quân báo đến khuya. Ba năm ta tự tay ướp trà sen cho hắn từng chén một.
Ba năm ấy, kiếp trước, bị một chén rượu độc phủi sạch.
Kiếp này, không có ba năm nào cả. Chỉ có một tờ giấy đỏ.
“Vãn Ninh.” Giọng hắn dịu đi một chút. Đây là giọng hắn dùng khi muốn thuyết phục ta. Ba năm nay ta thuộc nó như thuộc giọng gió trên cửa sổ phòng ngủ. “Ngươi bình tĩnh. Chuyện bức thư…”
“Vương gia.” Ta cắt lời. “Thiếp rất bình tĩnh. Thiếp bình tĩnh đến mức tự mình chuẩn bị hoà ly thư từ canh năm. Thiếp bình tĩnh đến mức tự mình niêm son đỏ. Thiếp bình tĩnh đến mức tự mình mang đến đây.”
Ta ngừng một khắc.
“Thiếp không muốn làm vợ ai nữa. Vương gia cũng không cần thiếp làm vợ nữa.”
Vệ Nguyệt Lam bỗng đứng bật dậy. Nàng ta chạy đến, ôm tay Hoắc Đình Yến, giọng run rẩy:
“Biểu ca! Không được! Đình Yến ca ca, huynh đừng nghe biểu tẩu nói. Biểu tẩu chỉ đang giận. Bức thư kia, muội… muội chắc chắn có cách chứng minh cho biểu tẩu. Biểu tẩu, tỷ đừng như thế, tỷ đừng bỏ đi mà.”
Nói xong, nàng ta khóc rưng rức. Nước mắt rơi lã chã xuống áo cẩm bào của Hoắc Đình Yến. Hai chấm nước, hai chấm nước nữa, in vào chỉ vàng như hai đóa hoa mai đỏ.
Nghệ diễn xuất. Kiếp trước ta không thấy. Kiếp này ta thấy rất rõ.
Ta đứng nhìn. Ta không nói gì.
Ta chỉ nhớ đến cái miệng cười của nàng ta bên ngoài song lãnh cung, tay bưng khay bạc, giọng ngọt như đường phèn. Ta nhớ đến bàn tay nhỏ nhắn ấy ném lá sen khô vào chậu than sắp tàn của ta, cười khúc khích: “Tỷ tỷ, ngoài này lạnh, tỷ đừng buồn.”
Ngón tay ta trong tay áo đột nhiên siết lại. Chặt đến rướm máu.
Cứ khóc. Cứ khóc thêm đi. Kiếp này, mỗi giọt nước mắt của ngươi, ta sẽ tính lãi trả từng giọt. Nợ máu trả máu, nợ nước mắt trả nước mắt.
Hoắc Đình Yến gạt tay Vệ Nguyệt Lam ra, mặc dù không mạnh. Hắn nhìn ta. Ánh mắt hắn đã đổi. Trong đó có sự sửng sốt, có sự tức giận, và có một chút hoang mang.
“Chu Vãn Ninh.” Hắn nghiến răng gọi tên ta. “Ngươi là con gái Chu gia. Cha ngươi là Chu Thượng thư. Nếu ngươi bước ra khỏi cổng phủ này với tấm giấy này, Chu phủ nhà ngươi mất mặt đến đâu, ngươi có biết không?”
Ta cười.
Không phải cười nhạt. Không phải cười lạnh. Ta cười thật. Một tiếng “hừ” ngắn bật ra từ cổ họng.
Cha ta. Chu Thượng thư. Người đàn ông kiếp trước gửi ba tháng ta nằm trong lãnh cung không có một dòng thư hỏi thăm. Người đàn ông kiếp trước nghe tin ta chết, chỉ nói một câu: “Bất hiếu nữ.” Người đàn ông kiếp trước lấy tang lễ ta để đổi lấy một chức Tham tri chính sự.
Cha ta không mất mặt đâu, vương gia. Cha ta chỉ mất một đứa con gái không sinh ra được con trai cho vương phủ mà thôi.
“Vương gia không cần lo cho Chu phủ.” Ta nói. “Chu phủ có thể tự lo được.”
“Chu Vãn Ninh!” Hắn quát. “Ngươi bạc tình đến thế sao?”
Bạc tình.
Hai chữ ấy như hai mũi kim đâm vào tai ta.
Bạc tình. Chính là cái miệng này của hắn, kiếp trước cũng đã gọi ta là “bạc tình”. Khi hắn nghe Vệ Nguyệt Lam khóc lóc trình bức thư giả tình lên. Khi hắn đọc dòng chữ giả mạo do biểu muội hắn viết. Khi hắn không thèm nghe ta thanh minh một câu.
“Chu Vãn Ninh, ngươi bạc tình. Ngươi bội bạc. Ngươi phụ ta.”
Ba câu ấy, kiếp trước hắn nói với ta trong đêm giông tuyết. Ba câu ấy, kiếp trước là bản án tử của ta.
Kiếp này ta không đợi hắn nói ba câu. Ta chỉ đợi một câu. Câu này là đủ rồi.
Ta nhìn hắn. Ánh mắt ta bình thản như mặt hồ mùa đông đóng băng.
“Vương gia dạy phải. Thiếp bạc tình. Thiếp bội nghĩa. Vương gia không cần giữ một đứa bạc tình như thiếp trong phủ nữa. Xin vương gia mở lượng, niêm ấn giùm thiếp.”
Ta chắp tay. Cúi đầu.
Bình thản. Đến chính hắn cũng thấy sợ.
Ta thấy tay hắn run một cái. Chén trà đặt trên án thư khẽ chao. Nước trà xanh sóng sánh, mấy giọt bắn ra ngoài, tí tách rơi xuống nền gạch xanh.
Hoắc Đình Yến, tướng quân Trấn Bắc, người đã giết ba vạn quân Bắc Nguyên trong trận Tuyết Hà, người mà cả kinh thành gọi là “Yến bắc vương”, tay hắn đang run.
Vì một tờ giấy đỏ. Vì một câu “thiếp bạc tình” bình thản như nước.
Kiếp trước ta không dám nghĩ có ngày ta làm hắn run. Kiếp này ta làm được rồi.
Hắn im lặng rất lâu.
Vệ Nguyệt Lam ở bên cạnh vẫn khóc. Nàng ta khóc như con thỏ non bị đánh. Đôi vai gầy run bần bật. Nhưng ta để ý, mắt nàng ta cứ liếc về phía Hoắc Đình Yến từng khắc một. Đợi hắn quyết định.
Cuối cùng Hoắc Đình Yến ngồi xuống. Hắn cầm ấn Trấn Bắc vương. Ấn khắc bằng ngọc lam điền, một mặt khắc rồng cuộn, một mặt khắc bốn chữ “Trấn Bắc vương chi ấn”. Ấn ấy nặng nửa cân.
Ấn ấy hạ xuống. Kêu một tiếng “cạch”.
Trên hoà ly thư đỏ, giờ đã có ấn xanh của hắn. Đỏ với xanh, chồng lên nhau, như máu tươi phủ lên rêu cũ.
Ta nhặt tờ giấy lên. Cẩn thận gấp lại. Nhét vào tay áo.
Không cúi đầu. Không lạy. Không nói lời cảm ơn.
Ta quay lưng, bước ra khỏi Uyên Vũ đường.
Sau lưng, ta nghe tiếng Vệ Nguyệt Lam khóc lên một tiếng “Đình Yến ca ca!” và tiếng chén trà vỡ tan trên nền gạch.
Vỡ đi. Kiếp này, gạch cháy tro tàn, không nối lại được.
Ra khỏi vương phủ, tuyết đã bắt đầu rơi.
Từng bông nhỏ, mỏng như cánh bướm, rơi xuống bậc thềm đá. Cổng phủ đóng lại sau lưng ta. Hai con sư tử đá vẫn há miệng ngậm quả cầu đồng, nhưng ánh mắt chúng như không còn dữ dằn nữa. Chúng chỉ là hai khối đá. Ta cũng chỉ là một người đàn bà cầm hoà ly thư.
Đường Tương Hồ dài rất dài. Kiệu của Chu phủ đã đi rồi. Ta cho kiệu về trước vì ta không muốn bọn phu kiệu chờ ngoài cổng vương phủ trong giá rét.
Ta đi bộ.
Hài đỏ của ta lún trong tuyết mỏng. Áo hồ điệp mỏng của ta bay theo gió. Trâm bạch ngọc trên đầu ta lạnh như một mảnh trăng.
Ta không lạnh. Kiếp trước ta đã lạnh đủ ba tháng trong lãnh cung rồi. Kiếp này, giá rét ngoài trời chẳng đáng gì.
Ta đi. Một bước. Hai bước. Ba bước.
Trong lòng ta không có nước mắt. Chỉ có một ngọn lửa. Ngọn lửa ấy đang cháy. Cháy chậm, cháy sâu. Cháy đủ mười lăm năm để không bao giờ tắt.
Mười lăm năm.
Ta biết. Chuỗi vu oan này không dừng ở đời ta. Mẹ đẻ ta chết mười lăm năm trước cũng vì một bức thư. Cũng có dấu son đỏ. Cũng có một người đàn bà đứng cười.
Kiếp trước ta không biết. Kiếp này ta đã biết.
Từ thái phi, người bảo mẫu đầu tiên của Đông cung, chết cùng năm với mẹ ta. Có người nói bà treo cổ trong lãnh cung. Có người nói bà tự uống rượu độc. Có người nói bà bị bức tử vì tội thất tiết.
Kiếp trước ta không hỏi. Kiếp này ta phải hỏi cho ra.
Vì lãnh cung ấy, chính là lãnh cung nơi ta chết.
Đi được hai con phố, tuyết đã rơi dày hơn. Cả kinh thành phủ trong màu trắng. Tiếng vó ngựa ở đâu đó gõ nhịp trên đá lát đường. Xa vọng lại tiếng chuông chùa Linh Ẩn. Buổi trưa đã trôi qua.
Ta ngước đầu. Cười với tuyết trắng.
Hoàng hậu năm nay ta muốn tự tay đội vương miện.
Câu ấy đêm qua ta nói với mình trong gương. Ta lặp lại lần nữa trong lòng. Nghe rất nhẹ. Nhưng vững như kim khắc trên đá.
Đúng lúc ấy, một tiếng “hí” của ngựa. Rồi tiếng bánh xe gỗ nghiến trên tuyết.
Một chiếc xe ngựa đen từ ngã tư trờ tới, chặn ngang đường ta.
Xe không có huy hiệu. Mái xe trơn, không hoa văn. Bốn con ngựa ô, lông đen như mực, mắt sáng như hai viên hồ phách. Người đánh xe mặc áo bào đen, mão đen, chỉ thấy cằm nhọn dưới vành mão. Không thấy mắt.
Ta dừng bước. Bàn tay trong tay áo âm thầm siết chặt một cây trâm nhọn.
Trâm hoa mai bằng bạch ngọc, đầu trâm mài sắc như dao. Đây là đêm qua ta tự mài. Kiếp này, nếu có ai muốn hại ta, ta muốn kẻ đó cũng phải trả một chút máu.
“Ai ở trong xe?” Ta hỏi. Giọng bình thản.
Rèm gấm phía trước xe hé ra. Một bàn tay đàn ông, ngón dài, khớp xương rõ, cầm chén sứ. Rồi rèm vén lên hơn.
Một người ngồi trong xe.
Áo cẩm bào đen thêu chỉ ngân trắng, hoa văn hình mây. Cổ áo dựng cao. Trên đầu là một chiếc mão bạc mộc mạc. Khuôn mặt trắng như ngọc. Đôi mắt đen sâu, khoé mắt hơi lên, lông mi rất dài.
Ta ngẩn ra.
Ta biết người này. Ta biết rất rõ.
Tiêu Trường Uyên. Tam hoàng tử. Con thứ ba của đương kim hoàng đế.
Người mà cả kinh thành gọi là “vô năng”. Người kiếp trước đến đám tang mẹ hắn cũng không đủ nghi trượng đi kèm. Người kiếp trước ai ai cũng cho là một hoàng tử bỏ đi.
Người kiếp trước, đêm ta chết trong lãnh cung, đã một mình lẻn qua bảy vòng khóa đồng, ôm ta khi ta trút hơi cuối.
Ta không nhớ hết. Ta chỉ nhớ, khi ta gần tắt thở, có một cánh tay áo đen thêu chỉ ngân trắng phủ lên người ta. Có một giọt nước ấm rơi xuống trán ta. Có một giọng nam trầm ấm ghé sát tai ta:
“Vãn Ninh, kiếp sau đừng vào cung nữa.”
Rồi ta chết.
Ba tháng sau, ta nghe văng vẳng qua giấc mộng, người ta nói Tam hoàng tử Tiêu Trường Uyên uống nhầm rượu độc trong tiệc mừng thọ Hoàng hậu, chết đúng đêm đầu xuân.
Kiếp này, chàng ngồi trước mặt ta. Sống. Nhìn ta.
Rèm gấm vén hẳn lên. Chàng cúi đầu chào ta. Nửa nụ cười trên môi, nhẹ như sương thu.
Giọng chàng trầm ấm, như tiếng cầm trong đêm khuya:
“Chu tiểu thư, có nhớ ta không?”
Ta đứng lặng.
Tuyết rơi trên hài đỏ. Tuyết rơi trên trâm bạch ngọc. Tuyết rơi trên hoà ly thư đỏ đang nằm trong tay áo ta.
Bàn tay ta cầm cây trâm nhọn, không hay biết đã lơi ra tự lúc nào.
Trong đầu ta chỉ có một câu.
Chàng ấy… cũng trọng sinh sao?