Sau Khi Hoà Ly Ta Trở Thành Hoàng Hậu
Chương 2: Kỷ Vật Đỏ
Xe ngựa đen đứng chắn ngang đường, gió thu cuộn tấm rèm gấm lên nửa gang tay.
Ta nắm chặt tay áo, móng bấm vào lòng bàn tay đến mức tê buốt.
Tiêu Trường Uyên.
Kiếp trước, chính chàng là kẻ ôm ta lúc ta tắt thở trong lãnh cung phía tây, đôi tay ấy còn ấm, chén rượu độc trong tay ta còn ấm, mà trái tim ta lại lạnh như tro nguội.
Ba tháng sau, chàng cũng chết. Cùng một tay đầu độc.
Ta chớp mắt, giọng chàng vẫn vọng bên tai như một sợi dây hồng chưa dứt: “Chu tiểu thư, có nhớ ta không?”
Có nhớ.
Nhớ đến từng sợi tóc chàng bết mồ hôi lúc cúi xuống bên giường lạnh của ta, nhớ đến bàn tay chàng run rẩy vuốt mắt cho ta, nhớ đến cả tiếng nấc chàng cố nén trong cổ họng khi ta thều thào gọi tên cha mẹ.
Nhưng kiếp này ta chưa được phép nhớ.
Ta ngước mặt, giữ giọng nhạt như sương mỏng: “Tam hoàng tử nhận nhầm người. Ta chỉ là một nữ tử vừa ký hoà ly thư, không quen ai trong hoàng cung.”
Trong rèm, tiếng cười khẽ vọng ra, mang chút gì đó như thoả mãn, mà cũng như xót thương: “Vậy à. Là ta nhớ nhầm. Trên đường về Chu phủ nhiều gió, tiểu thư giữ mình cẩn thận.”
Tấm rèm buông xuống.
Xe ngựa đen lăn bánh, tiếng vó ngựa gõ trên nền đá xanh, xa dần, xa dần, rồi lẫn vào tiếng chuông chiều Ngô Sơn.
Ta đứng đó thật lâu.
Trong ngực có gì như dây hồng chưa dứt, kéo đau về phía đoạn xe ngựa vừa khuất. Nội tâm nàng khẽ đáp lại tiếng chàng, chỉ vọng vào trong: nhớ. Nhưng chưa được nhớ. Kiếp này chưa được nhớ vội.
Ta nhắm mắt, thở ra một hơi dài.
Đường về Chu phủ mới là bước đầu. Trước khi lo chàng, ta phải lo mẹ. Trước khi lo mẹ, ta phải lo chính ta. Trước khi tự tay đội vương miện, ta phải học lại cách bước qua cổng nhà mình mà đầu không cúi.
Ta trèo lên xe, khẽ gọi: “Đi tiếp.”
Người đánh xe già nhấc dây cương, giọng khản mà mừng: “Vâng, tiểu thư.”
…
Chu phủ nằm ở chân Ngô Sơn.
Sau ba năm ta xa nhà, tường vôi đã có chỗ ố xanh, hai cây quế trước cổng lá thưa như tóc người goá phụ. Ba năm không có tay đàn bà đứng đó tỉa sửa, cây quế cũng biết mà buồn.
Cổng vừa mở, ta thấy cha.
Chu Kính Chi, từng là Thượng thư bộ Lễ, từng ngồi trong triều nghe vua gọi “Chu ái khanh”, giờ chỉ là một lão nhân ngồi im như tượng đá bên hồ sen khô, tay cầm ấm trà đã nguội, mắt nhìn xuống chỗ mà ba năm trước là bụi sen của mẹ.
Kiếp trước, ba năm nay ta chưa từng về.
Kiếp trước, ta bận làm chính thất Trấn Bắc vương phủ, bận giả vờ hạnh phúc, bận giữ hoà khí với “biểu muội” của phu quân, bận tin rằng mình là con dâu chi trưởng nên phải giữ thể diện. Đến khi ta chết, cha còn không kịp đến đưa ta đoạn đường cuối.
Kiếp này, ta về.
Cha ngẩng đầu, nhìn ta, đôi mắt đục ngầu như sương mù trên hồ. Ông không nói gì lâu lắm, chỉ chớp mắt, chớp mắt, rồi khẽ đặt ấm trà xuống.
“Về rồi à?”
Ba chữ. Nhẹ như một tiếng lá rơi.
Ta quỳ xuống trước ông, không phải theo lễ, mà theo lòng: “Cha, con bất hiếu. Ba năm không về thăm mẹ.”
Cha im lặng.
Ông thở dài, nhấc tay đặt lên đỉnh đầu ta. Bàn tay ông gầy, xương ngón nổi lên như rễ cây mùa đông, chạm vào tóc ta lại nhẹ hơn cả một cánh bướm rơi.
“Con đứng lên. Đứng lên đã.”
Ta đứng dậy.
Nước mắt không rơi ra, chỉ ứ trong lồng ngực, đông cứng thành một mảnh sương thu. Cha già hơn nhiều so với kiếp trước ta nhớ. Ba năm nay cha đã ngồi bên hồ sen khô mà đợi con gái, mà ta thì bận sống nốt kiếp lụa gấm không thật của mình.
Cha đưa ta đi qua sân trước, ngang qua hồ sen khô, qua hành lang gỗ đã bạc màu, đến gian phòng cũ ở hậu viện, nơi từng là khuê phòng của ta.
Ông đẩy cửa.
Bên trong sạch sẽ đến kinh ngạc. Chăn gối thay mới, hương trầm thoảng nhẹ, ngay cả chậu hoa lan bên cửa sổ cũng có mấy nhánh vừa nở. Ta biết. Cha vẫn để người dọn phòng này mỗi ngày, ba năm không dứt, như thể đợi con gái mà ông tin là hạnh phúc bên kia Ngô Sơn có ngày sẽ ghé qua nhà.
“Con muốn nghỉ bao lâu cũng được.” Giọng cha khàn, như dây đàn cũ.
“Cha…”
“Nhà này là nhà con. Đừng nghĩ nhiều.”
Ông ngừng một chút, rồi thấp giọng thêm một câu: “Chuyện hoà ly, cha không trách con. Chỉ trách cha không đưa mẹ con về sớm hơn, để mẹ con không phải nhìn thấy hôm nay của con.”
Nói xong, ông xoay người đi.
Cửa khép lại.
Trong gian phòng cũ, chỉ còn ta.
Ta ngồi xuống bên giường, nhìn tay mình. Trong mắt cha, hôm nay của ta là ngày ê chề. Con gái Chu gia ký hoà ly thư ra khỏi vương phủ, thân danh không toàn vẹn. Ông xót, ông không hỏi vì sao, chỉ lặng lẽ nhận về, như người nông đón đứa con lỡ mùa.
Cha đâu biết, hôm nay chưa phải bết bát nhất.
Kiếp trước còn có ngày ê chề gấp trăm lần: con gái ông chết trong lãnh cung, tội danh “ngoại tình lộ liễu”, di thể chôn ở góc rừng phía tây thành, ngay cả bảng vị cũng không được đưa vào tổ đường Chu gia. Cha đã phải cắn răng chịu tiếng “cha của tội phụ”, đầu bạc còn phải cúi đi ngoài chợ.
Nghĩ đến đây, ta nắm chặt tay đến bật máu.
Kiếp này khác.
Kiếp này ta hoà ly trước, ta còn sống, ta còn cha, ta còn cả bức tường vôi ố xanh này che chở. Kiếp này, ta không để cha già thêm một lần nào nữa vì ta. Cây khô còn biết nứt thành lửa, huống hồ con gái Chu gia.
…
Đêm ấy, ta không ngủ.
Ta ngồi trước hòm gấm đen kê ở góc phòng, cái hòm mà từ nhỏ ta đã biết là hòm kỷ vật của mẹ. Sau khi mẹ mất, cha khoá lại, giao cho ta chiếc chìa khoá bằng bạc, dặn: “Khi nào con thật sự cần, mới mở.”
Kiếp trước ta chưa từng mở.
Ba năm ở vương phủ, ta bận làm dâu, bận gánh chức chính thất, bận giữ hoà khí với thứ phi biểu muội, bận cả tin vào những nụ cười ngoài mặt của người xung quanh, đến mức chìa khoá đó rơi vào đáy tráp nữ trang mà ta cũng quên bẵng đi. Đến lúc bị đẩy vào lãnh cung, cả chiếc tráp nữ trang cũng chẳng còn ai đưa theo.
Kiếp này ta không quên.
Ta rút chìa khoá bạc từ trong ngực áo. Tay run một chút. Không phải sợ. Là run vì chờ. Ba năm chưa mở, mười lăm năm chưa gọi tên, cả một dòng sông ứ trong ngực chỉ đợi đêm nay.
Khoá mở. Nắp hòm bật lên với tiếng “cạch” khẽ.
Bên trong, ba lớp lụa đỏ.
Lớp trên cùng là mấy cuốn kinh mẹ hay chép, chữ thảo mảnh như liễu rủ. Lớp thứ hai là một chiếc áo cưới cũ, kim tuyến đã ố vàng, viền tay còn dấu son mẹ chấm ngày cưới. Lớp thứ ba, dưới đáy hòm, được bọc trong khăn gấm tím thẫm.
Ta nâng khăn gấm lên, tay chậm lại.
Trong khăn, một chiếc vòng cổ nằm im, hạt châu đỏ như máu sắp đông.
Ta thở ra một hơi dài.
Vòng cổ hạt châu đỏ của mẹ.
Ngày mẹ cưới cha, đây là vật đầu tiên bà Trấn Bắc lão vương phi, tri kỷ của mẹ, gửi tặng. Bà thân chinh đến Chu phủ, đích thân đeo lên cổ mẹ, cười bảo: “Muội muội, đeo cái này, sau này có chuyện gì cứ tìm chị.”
Kiếp trước ta cũng đã thấy chiếc vòng này rồi.
Ta thấy trên ngực mẹ ngày bà nằm trên linh sàng, hạt châu đỏ ánh lên trong ánh nến vàng vọt, như một giọt máu chưa khô. Cha khóc, tự tay tháo vòng ra, cất vào hòm này. Bấy giờ ta còn không hiểu vì sao cha khóc đến mức nắm cái vòng mà bàn tay ông rung như cành liễu gặp bão.
Rồi ta đi lấy chồng.
Rồi ta chết.
Rồi ta chưa bao giờ đeo lại.
Kiếp trước, cả đời ta chưa từng đeo chiếc vòng của mẹ. Ta bỏ mặc nó ở hòm gấm đen này, bỏ mặc luôn cả sợi dây hồng nối ta với mẹ. Đến lúc ta uống chén rượu độc trong lãnh cung, tay ta rỗng, cổ ta trống, không có mẹ, không có cha, không có ai.
Ta cầm chiếc vòng lên. Hạt châu ấm.
Ấm như tay mẹ những đêm ôm ta ru ngủ. Ấm như mùi trầm mẹ hay xức lên tay áo, mùi trầm mà ba năm qua ta cứ ngỡ mình đã quên. Ấm như cái ôm mẹ dành cho ta lần cuối trước ngày ta lên kiệu về vương phủ, khi bà thì thào: “Vãn Ninh, mẹ đau lòng.”
Kiếp trước ta không hiểu vì sao mẹ đau lòng.
Kiếp này ta hiểu.
Mẹ biết. Mẹ đã biết từ khi ta còn chưa lên kiệu. Mẹ biết Trấn Bắc vương phủ có gì đó không đúng, mẹ biết bà lão vương phi tri kỷ đã mất trong hoàn cảnh mờ ám, mẹ biết ta gả vào đó là bước vào một cái rọ, mà chính bà không nói được ra, không cứu được ta, cuối cùng ôm bí mật xuống mồ.
Ba năm sau, mẹ cũng đi. Đi trong một trận bệnh mà cả đám lang y giỏi nhất Lâm An cũng không hiểu.
Vòng cổ mã não đỏ — chuỗi hạt cổ điển
52.895đ
Xem chi tiết →Nước mắt ta cuối cùng cũng rơi. Một giọt. Rồi hai giọt. Rơi lên hạt châu đỏ, lăn xuống, ướt cả ngón tay ta.
Ta thề với gương vỡ trên bàn trang điểm, thề với ngọn nến sắp lụi bên giường, thề với chính ta trong mảnh gương phản chiếu.
Mẹ, con sẽ minh oan cho mẹ.
Cho bà Trấn Bắc lão vương phi, tri kỷ của mẹ, người mà kiếp trước cả triều đồn là chết vì bệnh phổi, còn con thì đến lúc nằm trong lãnh cung mới nghe được rằng đó là bị đầu độc, cùng một loại đến trước con mười lăm năm.
Cho chính con, người bị vu ngoại tình bằng một bức thư giả tình niêm son đỏ, chết trong lãnh cung mà đến bảng vị cũng không được vào tổ đường.
Cho ba người phụ nữ, mẹ, bà lão vương phi và con, mà mười lăm năm qua bị bàn tay nào đó vẽ nên chuỗi vu oan như dây hồng nối liền.
Ta đeo chiếc vòng lên cổ. Hạt châu đỏ chạm vào xương đòn, nóng như một mảnh than vừa cời từ bếp lò lên.
Dây hồng chưa dứt.
Kiếp này ta khoác nó vào cổ chính ta, không phải để chờ ai đến kéo, mà để tự ta kéo về phía sự thật. “Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”, người xưa dạy vậy, huống hồ ta đã từng chết một lần.
…
Đêm càng khuya, sương thu càng dày.
Ta ngồi trước gương, đầu ngón tay chậm chạp lăn hạt châu ở giữa vòng.
Hạt này lớn hơn các hạt bên cạnh một chút, đường viền cũng lệch một sợi tơ. Kiếp trước ta không để ý. Kiếp này, khi tay ta run rẩy chạm vào, ta cảm giác được bên trong nó không đặc.
Rỗng.
Bên trong hạt châu đỏ giữa vòng, có gì đó rỗng.
Ta nheo mắt trước ánh nến. Chưa dám mở. Chưa đến lúc. Nếu mẹ đã giấu, mẹ đã tính đến ngày ta cần, mẹ sẽ có cách gợi ý cho ta. Ta không được đập vỡ bằng bàn tay run loạn của một người vừa trọng sinh chưa đầy một ngày.
Ta ép hạt châu vào ngực, giữ nó chạm vào tim.
Bên ngoài, tiếng trống canh vọng lại. Canh ba.
Cả Chu phủ ngủ say. Chỉ có ta, và tiếng gió lay tàu chuối ngoài sân.
Đúng lúc ta định thổi tắt nến, ngoài cửa sổ phía tây có tiếng “phịch” rất khẽ.
Không phải tiếng chuột. Không phải tiếng gió. Là tiếng chân người vừa đáp xuống nền đất, cố nén mà vẫn để lại một tiếng dội.
Ta lập tức thổi tắt nến, nép sát vào tường.
Trong bóng tối, ta nghe rõ tiếng thở khò khè của một lão nhân, cùng tiếng vải sột soạt cọ vào lá cây quế ngoài sân.
Rồi một giọng nói rất khẽ, gần như không thành tiếng, vọng đến bên cửa sổ: “Chu tiểu thư… Chu tiểu thư có đó không?”
Giọng đàn bà. Già. Run rẩy. Thoáng nghe quen quen.
Ta nắm chặt cây trâm bạc trên bàn, một tay giữ vạt áo, chậm rãi tiến ra cửa sổ.
Ánh trăng khuyết chiếu qua khe cửa. Ta thấy khuôn mặt gầy khắc khổ của một ả hầu già. Búi tóc bạc lệch, khăn tay quấn ở cổ, tay bấu chặt song cửa gỗ. Ta nhận ra bà ngay: Trương ma ma, hầu cận thân tín của bà lão vương phi Trấn Bắc phủ, người mà kiếp trước ta chỉ thoáng gặp trong đám tang bà lão vương phi hơn mười năm trước.
Bà đã già lắm rồi.
Bà đã ngoài sáu mươi. Vậy mà bà trèo tường vào Chu phủ giữa đêm canh ba.
Ta mở then cửa sổ. “Trương ma ma?”
Trương ma ma khựng lại, mắt đục ngầu trong ánh trăng, hai hàng nước mắt lăn nhanh xuống má đầy nếp gấp. Bà không nói được thành lời, chỉ ép ngực xuống bậu cửa, một tay run rẩy đưa ra.
Trong tay bà, một bức thư gấp làm tư.
Giấy đã ố vàng, mép sờn rách, dây gai buộc quanh sắp đứt. Ở một góc thư, có dấu son đỏ đã mờ, hình dáng lạ, không phải triện của bất kỳ nhà quan nào ta biết. Cái dấu son ấy hình như là một cánh sen chín cánh, mà cánh giữa lại thiếu một nét.
Ta chưa vội đưa tay.
Kiếp trước ta đã từng bị một bức thư đẩy vào lãnh cung. Kiếp này, ta cẩn trọng với bất cứ mảnh giấy nào chìa ra trước mặt.
Trương ma ma dường như hiểu.
Bà bấu chặt song cửa hơn, giọng vỡ thành từng miếng: “Cô nương… Chu tiểu thư… đây là thư của phu nhân… không, là của lão vương phi. Phu nhân trước lúc chết đã dặn… chờ ngày cô nương hoà ly mới được đưa.”
Ta chấn động.
Bà lão vương phi Trấn Bắc phủ chết đã mười lăm năm.
Trong mười lăm năm ấy, mẹ ta cũng đã đi ba năm. Trong mười lăm năm ấy, ta chưa từng nghe ai nhắc đến việc bà lão vương phi có để lại thư từ gì. Cả đến cha, người thân với Trấn Bắc lão vương gia hơn ruột thịt, cũng chưa từng hé một câu.
Vậy mà bà lão vương phi đã tiên liệu được ngày ta hoà ly.
Bà tiên liệu được đến ngày đêm nay, bà bảo Trương ma ma trèo tường mà giao thư. Bà nằm trong lòng đất mười lăm năm, mà tay bà vẫn còn dài đến tay ta qua canh ba đêm nay.
“Ma ma…” Ta nắm tay bà qua song cửa. Bàn tay bà lạnh, xương gò lên như củi khô. “Ma ma vào trong đi. Nói cho ta nghe.”
Nhưng Trương ma ma lắc đầu quầy quậy, giọng run bần bật: “Không được… không được vào… Vệ tiểu thư có tai mắt khắp nơi… ngay cả đêm nay lão nô trèo tường sang đây, cũng phải giả bệnh nằm ba ngày mới lừa được đám hầu trẻ trong phủ…”
Vệ tiểu thư.
Vệ Nguyệt Lam.
Ta hít một hơi lạnh vào ngực.
Kiếp trước, mười lăm năm nay Vệ Nguyệt Lam đã cắm rễ trong Trấn Bắc vương phủ với danh nghĩa biểu muội của Trấn Bắc vương, một tiểu thư nhu mì lễ độ mà cả kinh thành ai cũng thương. Ai ngờ, cả đến đám hầu già của bà lão vương phi cũng phải sợ ả đến mức không dám thở mạnh trong chính phủ mà ả không phải chủ.
Rắn độc trong tay áo. Cả mười lăm năm rắn nằm trong tay áo Vệ gia mà không ai biết.
“Ma ma an tâm.” Ta khẽ nói, giọng thấp mà chắc như tạc. “Đêm nay không ai biết ma ma qua đây. Ta sẽ giữ bức thư cho ma ma.”
Trương ma ma thở phào, rồi lại nghẹn ngào: “Cô nương… phu nhân dặn… đọc rồi phải đốt. Không được để bất cứ ai thấy… không được để cả lão gia thấy… Phu nhân nói, đây là thư mở khoá… mở khoá lãnh cung phía tây…”
Đầu ta ong lên một tiếng.
Lãnh cung phía tây.
Kiếp trước, ta chết ở lãnh cung phía tây.
Kiếp trước, lãnh cung phía tây bị đóng cửa mười lăm năm, người trong triều thầm thì rằng nơi đó chôn một bí mật của tiên đế, không ai được nhắc đến. Cả bà lão vương phi Trấn Bắc phủ, cả Từ thái phi mà kiếp trước ta chỉ nghe qua hai chữ “mất tích”, đều liên quan đến lãnh cung phía tây ấy.
Vậy mà, trong bức thư ố vàng này, bà lão vương phi đã viết sẵn.
Đã viết sẵn từ mười lăm năm trước, chờ đúng ngày ta hoà ly ra khỏi vương phủ, chờ đúng đêm canh ba này, chờ Trương ma ma trèo tường đưa đến tay ta.
Tay ta run.
Ta đưa tay, chậm rãi cầm lấy bức thư từ tay Trương ma ma. Giấy còn ấm hơi bà. Dấu son đỏ trên góc thư ánh lên trong ánh trăng, đỏ như hạt châu ta vừa đeo lên cổ, đỏ như dây hồng đang siết ngang tim ta.
Trương ma ma nhắm nghiền mắt, hai giọt nước lớn lăn xuống, giọng nghẹn: “Chu tiểu thư… phu nhân của Chu phủ và lão vương phi của chúng ta… hai chị em thân như ruột thịt… hai chị em cùng bị hại… cô nương phải thay hai người mà đứng ra…”
Ta gật đầu, không nói được nên lời.
Trương ma ma vén khăn lau nước mắt, cúi lạy ta ba cái qua song cửa, rồi lặng lẽ nép mình vào bóng cây quế, thoăn thoắt trèo lại tường rào. Bóng bà mất hút vào ngõ nhỏ ngoài phủ, chỉ còn lại tiếng chó sủa xa xa và tiếng trống canh vừa điểm.
Ta khép cửa sổ.
Ngồi phịch xuống đất.
Bức thư nằm trong lòng bàn tay ta. Nhẹ như một chiếc lá thu, mà nặng như cả mười lăm năm oan tình chưa được nói.
Ta không dám mở ngay.
Ta sợ mở ra là toàn bộ dây hồng chưa dứt sẽ đứt phựt trong lồng ngực. Ta sợ mở ra là ba năm nay mình đã sống trên tro nóng mà không biết. Ta sợ mở ra là mẹ vẫn chưa đi, chỉ là gửi mình vào một trang giấy chờ ta bóc.
Đèn nến trong phòng đã tắt từ lúc nào. Ánh trăng khuyết chiếu qua khe cửa, hắt lên hạt châu đỏ trên cổ ta, hắt lên dấu son đỏ ở góc thư trong tay ta.
Hai đốm đỏ. Một cổ ta. Một trong tay ta.
Ngoài kia, kinh thành Lâm An đang say ngủ. Bên trong Chu phủ, cha ta đang ngủ. Trên đường ra kinh, không biết Tiêu Trường Uyên có ngủ chưa. Trong Trấn Bắc vương phủ, Vệ Nguyệt Lam đang mưu tính chuyện gì.
Còn ta ngồi đây, một tay giữ bức thư niêm son đỏ mười lăm năm, một tay nắm chặt hạt châu đỏ trên cổ.
Nội tâm nàng vọng lên như một tiếng chuông cuối cùng trước khi canh tư điểm: bút mực đã sẵn. Người đứng dậy là ta. Kẻ phải trả giá là kẻ đã đẩy mẹ, đẩy bà lão vương phi, đẩy con gái Chu gia vào chuỗi vu oan mười lăm năm.
Ta thở ra, giọng khẽ như tự nói với chính ta:
“Mẹ. Con mở ra đây.”