Ta Xuyên Thành Muội Muội Út Của Hầu Phủ
Chương 1: Ta Là Muội Muội Út
Sương sớm còn đọng trên khe cửa gỗ nghiến, hơi lạnh len qua tấm rèm lụa mỏng, ta mở mắt trong một tấm chăn bông thơm mùi hoa quế phơi nắng.
Cảm giác đầu tiên không phải là mùi hương, mà là sức nặng. Chăn bông dày cỡ ba lớp, phủ từ cằm xuống tận bàn chân, ấm đến nỗi tay chân ta như tan trong một bát nước đường phèn hầm nóng. Ta thử động đậy ngón tay. Đầu ngón tay mềm oặt, cong lại thành nắm bé xíu, chỉ bằng một quả chuối tiêu vừa mới chín tới.
Ta nhìn xuống.
Rồi ngồi bật dậy như bị lửa dí.
Tay ta. Đôi bàn tay này không phải của ta.
Da trắng hồng như cánh hoa lê buổi sương tan, mỗi ngón tròn múp, các khớp lún phún, cổ tay đeo một chiếc vòng bạc con con có hai quả chuông nhỏ, chỉ lay động một cái là kêu leng keng như tiếng đùa của mèo con.
Ta ngơ ngác nhìn quanh.
Đây là đâu.
Căn phòng bảy bức, trần cao vòi vọi, xà gỗ chạm hình mây cuộn. Rèm giường lụa đỏ nhạt buông đến sàn, thêu đôi bươm bướm bằng chỉ vàng, đường kim khéo đến mức từng cánh nhỏ như bay lên khi có gió lay. Trước giường là một cái bình phong tám cánh khảm ốc xà cừ, ánh nến hắt vào lấp lánh trăm ngàn con đom đóm. Đầu giường, ngay tầm với của một đứa trẻ nhỏ, đặt một chiếc hộp gỗ hoa lê khảm trai, mặt trên chạm một cành lê nở bốn bông.
Ta biết chiếc hộp đó.
Ta đã đọc về nó.
Trong đầu ta bỗng dội lên một cơn ù, chóng mặt, như lúc bị thầy giáo cấp ba gõ bảng bằng thước gỗ vào giữa buổi ngủ gật.
Kiếp trước ta hai mươi lăm tuổi. Ta là một nhân viên văn phòng phổ thông, cày deadline đến khuya, thời gian giải trí duy nhất là nằm bò trên giường đọc truyện cổ trang. Ta có một cuốn sách yêu thích, một bộ dài ba trăm chương tên là “Phượng Hoàng Đài”. Chỉ vì thấy nữ chính đáng thương, ta đọc đi đọc lại đến năm lần liền. Chương ba mươi của bộ truyện có một cô nương phụ tên Cố Tiểu Đường, đích nữ út Định Bắc hầu phủ, bị nữ chính Lâm Tú Vân tráo mảnh ngọc bội gia truyền, vu cho tội trộm gia bảo, bị chính cha đẻ trong lúc giận dữ đuổi ra khỏi phủ giữa đêm mưa. Cô bé mười tám tuổi ấy, đêm đó, chết cứng bên vệ đường ngoại thành, không một ai đến nhặt xác.
Ta còn nhớ ta đọc đến đoạn đó thì bực dọc, đứng dậy lấy chai nước, sặc, ngã đập đầu vào cạnh bàn.
Sau đó là bóng tối.
Sau đó là chăn bông thơm quế.
Sau đó là đôi bàn tay bé bằng quả chuối tiêu.
Ta nuốt nước bọt. Cổ họng khô khốc, thấy có vị nhân sâm hầm còn sót lại. Ta lấy tay chạm lên má mình. Má tròn, mềm, phinh phính, có chút mồ hôi lạnh. Ta đưa tay lên tóc. Tóc buộc hai chỏm cao, mềm oặt như tơ, được thắt bằng dây lụa hồng phai. Ta lắc đầu, hai chỏm tóc rung theo, chiếc vòng chuông ở cổ tay kêu leng keng một tràng ngắn.
Không sai. Ta chính là Cố Tiểu Đường.
Đứa bé sẽ chết vào chương ba mươi.
Nội tâm ta chưa kịp hoảng, có tiếng bước chân, chậm, nặng, ngoài rèm giường.
“Đường Đường tỉnh rồi hử?”
Giọng đàn ông trầm khàn, hơi khan, nghe như tiếng gỗ khô cháy trong lò. Rèm giường vén lên. Một người đàn ông ngoài bốn mươi cúi xuống, ngồi mép giường, tay cầm một cây quạt hương bồ phe phẩy, mắt viền đỏ hoe, râu cạo qua loa lộ vết chân tóc bạc. Áo bào tơ tím đậm bị nhàu ở tay áo, có vệt trà khô, chắc uống mấy chén liền không kịp thay.
Ta chưa kịp nói gì, đã bị ông nhấc lên khỏi chăn, ôm chặt vào lòng.
Cả một tòa núi thịt ấm và mùi trầm nhè nhẹ trùm lấy ta.
“Sốt cả đêm. Cha ngồi đây suốt canh giờ. Con biết cha lo đến mức nào không hử.”
Cha.
Từ này đâm thẳng vào ngực ta.
Kiếp trước ta lớn lên trong một gia đình lạnh nhạt. Cha ta bỏ đi khi ta hai tuổi, mẹ ta đi làm đêm, ta ăn tối một mình từ năm bảy tuổi. Ta chưa từng được ai ôm chặt đến mức nghe thấy nhịp tim đối phương đập bên tai. Ta chưa từng nghe ai nói “sốt cả đêm cha ngồi đây suốt canh giờ” bằng cái giọng khan như sắp khóc thế này.
Ta đang trong lòng người đàn ông này. Ta là đích nữ út của ông. Kiếp này, người đàn ông này, sẽ là cha ta.
Ta đưa tay bé lên. Cả bàn tay lọt gọn trong một khúc râu cạo dở của cha. Ta chạm vào cằm ông. Cằm ram ráp như vỏ vải khô.
“Cha ơi.”
Hai tiếng đó phát ra từ cổ họng bé xíu của ta, giọng khàn khàn vì mới ốm dậy, mềm oặt như bún ướt.
Cha ta khựng lại.
Ông nhìn xuống ta. Mắt viền đỏ hoe tự nhiên rơi một giọt xuống trán ta, ấm nóng, thấm vào tóc mai.
“Đường Đường của cha.”
Ông siết ta chặt thêm một chút. Ta nghe thấy tim ông đập, thình thịch, dồn dập, như trống trận trước giờ xuất binh.
Ta không biết phản ứng của một đứa bé sáu tuổi vừa ốm xong với cha là gì. Ta chỉ biết, kiếp trước ta chưa từng học kịch bản này. Ta cứ dựa má vào ngực cha, nghe tim ông đập, im lặng.
Đâu đó trong đầu ta, một giọng nhỏ hai mươi lăm tuổi thì thầm: “Nè cô, cô đang ăn gian đấy. Ăn gian mất phần của con bé thật rồi.”
Nhưng con bé thật, ở đâu đó trong xác này, chắc đã tan như đường phèn tan trong nước sôi.
Còn ta, ta đang ở đây, và ta muốn giữ lấy cái ôm này.
Cha đặt ta xuống chăn, đẩy gối lên cao, giúp ta ngả lưng thoải mái. Ông sờ trán ta. Rồi sờ tay ta. Rồi lại sờ trán ta.
“Không sốt nữa. Không sốt nữa rồi.” Ông lẩm bẩm, giọng như đang tự trấn an mình.
Ta nhìn ông. Trán cao, mũi thẳng, hai vệt nếp nhăn giữa lông mày sâu hoắm, râu cứng, môi mím. Đây là Định Bắc hầu, tướng quân biên ải, đại tướng cầm hơn hai vạn kỵ binh giữ ba ải phía bắc. Trong sách, ông ta chỉ được nhắc ba câu, hai câu về chuyện quân, một câu về chuyện đuổi con gái ra khỏi phủ trong đêm mưa.
Trong sách, ông đuổi Tiểu Đường ra vì tin lời Lâm Tú Vân.
Nhưng trong đời thật, ngồi trước mắt ta bây giờ, người đàn ông này đang lau mồ hôi lạnh trên tay ta bằng chính vạt áo bào tơ của mình.
Ta thấy ngực mình chua chua như bị ai vắt một quả me lên.
Ta phải sống. Ta phải sống. Ta không cho phép người đàn ông này đuổi con gái mình ra vệ đường một lần nữa.
Ta ngoan ngoãn để cha đút cho một thìa cháo trắng loãng. Cháo hầm đến độ tan như mây, nêm chút muối cực nhạt, có mấy sợi kỷ tử màu đỏ nổi trên mặt. Ta ăn hai thìa. Cha vui. Ăn thêm hai thìa. Cha cười. Ăn đến thìa thứ tám, cha đã vỗ đùi khen “con gái ngoan của cha ăn giỏi hơn cả nhị ca hôm bảy tuổi”.
Nội tâm ta hét: “Ông ơi, con gái ông vừa mới sốt cả đêm, đừng vắt kiệt bao tử con bé thế chứ.”
Miệng ta thì mở thêm một cái nữa, ngoan như mèo con nhận sữa.
Cha đặt bát cháo xuống, lau miệng cho ta bằng cái khăn lụa trắng, cẩn thận đến nỗi mép khăn không chạm vào lông mi ta. Trong sách “Phượng Hoàng Đài”, nhân vật Định Bắc hầu được mô tả là “tướng dữ, mặt cắt không ra máu, đàn ông trong tay giết trăm người không nhíu mày”. Nhưng ta đang nhìn ông ta lau mép cho một đứa bé sáu tuổi bằng động tác khẽ như phủi bụi trên tranh cổ.
Tác giả ơi, ông tả sai nhân vật của ông rồi.
Cha ngồi bên giường, mở quyển sổ nhỏ trong tay áo, ghi ghi chép chép. Ta liếc, thấy nét chữ ông cực xấu, gãy như dao chém, nhưng dòng đầu ghi rõ ba chữ “Đường Đường”. Bên cạnh là ba dòng: “canh ba sốt bốn mươi”, “canh tư sốt ba mươi tám”, “canh năm sốt ba mươi bảy”. Ông ta ghi từng canh giờ nhiệt độ của con gái.
Ta đóng mắt lại một chút. Ngực ta cay cay.
Ai đó cho ta xin, ta được khóc một chút không.
Cha đóng sổ, bỏ vào tay áo, ngước nhìn ta.
“Đường Đường của cha có muốn cha kể chuyện không?”
Ta gật đầu. Hai chỏm tóc rung leng keng.
Cha lấy giọng, hắng một tiếng, bắt đầu kể chuyện “cha đánh thắng man tộc ở ải Vọng Bắc như thế nào”. Câu chuyện của ông thô ráp, chỗ nào cũng có “chém, đâm, xông”. Ta nghe được ba câu đã biết đây là bản kể trẻ con của ông, đã bớt máu bớt xương đến mức chỉ còn “cha xông vào, giặc chạy, cha thắng”. Nội tâm ta phá lên cười, nhịn không kịp, hai cái má tự động lún xuống thành hai lún đồng tiền.
Cha thấy con cười, mắt ông sáng lên như trẻ được kẹo. Ông kể to hơn, thêm âm thanh “bùm chát chát”, diễn cả tay lẫn tiếng miệng, cây quạt hương bồ trong tay ông biến thành trường thương. Con gái ơi, cha ngươi kìa. Cha ngươi cầm quạt giả làm thương, giễu võ trước mặt ngươi. Đại tướng quân của Đại Cẩn kia.
Ta bật cười. Cười thật. Không phải cười gượng của người hai mươi lăm tuổi, mà cười giòn của thân xác sáu tuổi. Tiếng cười lấp cả căn phòng, chuông ở cổ tay ta leng keng theo.
Cha đứng khựng giữa động tác đâm quạt. Ông nhìn ta cười, mắt ông đỏ lên lần nữa.
“Con bé này.” Ông thở ra. “Con bé này. Nó tỉnh.”
Cha đặt quạt xuống. Ông ngồi trở lại mép giường, kéo chăn bông đắp cho ta đến ngực. Ánh sáng đèn dầu trong phòng lay động, hắt lên khuôn mặt ông một quầng vàng ấm. Ta thấy trên áo bào tơ của ông có mấy giọt cháo bắn vào lúc đút, nhưng ông không lau. Cha ta trông giống một con gấu lớn ngồi canh một ổ mèo con.
Ta hé mắt nhìn đầu giường. Chiếc hộp gỗ hoa lê khảm trai vẫn nằm đó, cạnh gối nghiêng của ta, cách mũi ta khoảng hai gang tay bé.
Bộ 2 hộp trang sức khảm trai
350.000đ
Xem chi tiết →Chiếc hộp không lớn, cỡ bằng hai bàn tay người lớn ghép lại, gỗ hoa lê để mộc lâu năm lên nước bóng như da em bé. Mặt trên khảm ốc xà cừ hình bốn bông hoa lê nở, cánh mỏng đến nỗi tưởng như chạm nhẹ sẽ rung. Bốn góc bọc đồng đen chạm hoa văn mây cuộn, khoá bằng một chiếc nút bấm hình con chuồn chuồn nhỏ. Ta đã đọc thấy chiếc hộp này trong “Phượng Hoàng Đài”, nhưng chỉ có một câu duy nhất, chương một dòng thứ chín: “cha đưa cho con gái út chiếc hộp trang sức đầy tháng, bên trong có di vật của mẹ đẻ”.
Ta lúc đó đọc lướt qua, chưa thấy hộp là hộp gì. Bây giờ, ta biết. Nó khảm trai đến từng cánh hoa.
Trong hộp có một chiếc kẹp bươm bướm ngọc, và một bức thư ngắn.
Bức thư của người mẹ đẻ mà ta chưa từng biết mặt.
Kiếp trước ta không có mẹ ở nhà đón ta về, kiếp này ta có, nhưng bà đã mất khi ta hai tuổi. Ta chưa từng cầm bức thư đó trong tay. Nhưng ta biết một ngày ta sẽ mở nó, và ta sẽ khóc.
Không phải hôm nay.
Ta liếc cha. Cha đã lấy chăn bông thứ hai đắp thêm lên chân ta, đang xoa nhẹ bàn chân ta qua lớp chăn để ủ ấm. Ánh mắt cha lơ đãng dừng lại trên hộp trang sức, hơi trầm xuống. Ta biết trong đầu ông đang có gì. Ông đang nhớ vợ đầu. Ta nhắm mắt, giả ngủ.
Cha thở dài một tiếng nhẹ. Rồi vươn tay, xoa đỉnh đầu ta. Bàn tay to như quạt, ấm nóng, chai sạn dày lớp da bởi mấy chục năm cầm giáo.
“Đường Đường à,” ông nói nhỏ, gần như tự nói với mình, “con là báu vật của cha. Cha để dành hộp này cho ngày con đủ lớn. Ngày đó chưa tới. Nhưng cha đã gói xong.”
Ta trong chăn hé một mắt. Ta muốn bảo cha: hôm nay con đủ lớn rồi. Nhưng cổ họng ta khoá cứng, không nói ra được. Ta chỉ khẽ cựa quậy, đưa tay bé xíu ra ngoài chăn, nắm lấy tay áo cha.
Tay áo bào tơ trơn mềm, mềm hơn cả chăn. Ta nắm nhẹ, kéo vạt áo cha lên má mình.
Nắm chặt.
Không nói.
Cha khựng người một lúc. Rồi ta thấy vai ông rung một cái nhỏ.
Ta ngửng nhìn. Đại tướng quân biên ải, người đứng trước mặt mấy vạn kỵ binh không nháy mắt, ngồi cạnh giường một đứa bé sáu tuổi, mắt đỏ như ngọn đèn dầu vừa châm.
“Con bé này.” Ông đưa mu bàn tay to đùng lên chấm khoé mắt mình, giả vờ như đang chỉnh lại tóc mai. “Giả bệnh dụ cha chăm là hử?”
Giọng ông run.
Ta lắc đầu. Rồi lại gật. Rồi lại lắc.
“Không hử?” Cha nhìn ta chăm chú. “Hay là hử?”
Ta không trả lời. Ta chỉ kéo tay áo cha ép sát mặt mình hơn. Vạt áo tơ có mùi trầm, có mùi mồ hôi khô của một đêm ngồi canh giường, có mùi thuốc bắc thoảng qua từ tay đút cháo. Ta hít một hơi thật sâu. Mùi này, kiếp trước ta chưa từng ngửi. Kiếp này ta muốn nhớ.
“Cha ơi.”
Ta gọi ông lần thứ hai trong đời này.
Cha cúi xuống, đưa trán mình chạm nhẹ vào trán ta.
“Cha đây.”
Hai chữ đó rơi vào ngực ta như hai viên đường phèn thả vào nước ấm. Tan chậm. Ngọt lâu.
Ta biết mình sẽ không được khóc trước mặt cha. Đứa bé sáu tuổi vừa mới ốm dậy không có lý do gì để khóc lúc này. Ta cắn môi. Cắn thật chặt. Nén cả một khối cay xè vào giữa lồng ngực.
Cha đứng dậy, đi ra cửa gọi vú già.
“Vú Thôi. Đường Đường muốn ăn thêm cháo. Nấu bát khác, thêm ít đường phèn, cho vào ba trái táo đỏ, đun nhỏ lửa cho tan.”
Nội tâm ta lại hét: “Con vừa ăn hết bát cháo còn nghi cha ngoan cường bức ép ăn tiếp, giờ cha còn đi gọi nồi cháo thứ hai.”
Nhưng miệng ta không dám hé. Ta biết, đối với người đàn ông chưa quen thể hiện tình cảm bằng lời, việc gọi thêm bát cháo cho con gái út vừa ốm dậy, đã là câu tình yêu đẹp nhất ông có thể nói ra hôm nay.
Ta nằm lại trong chăn. Nhìn trần nhà cao vòi vọi. Trong đầu ta có một trang giấy trắng đang hiện dần từng dòng.
Dòng thứ nhất: Ta không phải Cố Tiểu Đường.
Dòng thứ hai: Nhưng Cố Tiểu Đường là ta, từ hôm nay.
Dòng thứ ba: Trong sách, cha ta tin Lâm Tú Vân, đuổi ta ra khỏi phủ đêm mưa, ta chết ở tuổi mười tám. Từ hôm nay đến ngày đó, có mười hai năm.
Dòng thứ tư: Mười hai năm đủ dài. Đủ dài để một đứa bé sáu tuổi làm cho cha ruột thương đến mức, dù trời sập, ông cũng không tin lời một cô nương xa lạ mà đuổi con gái út của mình ra vệ đường.
Ta không định đối đầu Lâm Tú Vân bằng vũ lực. Ta không có vũ lực. Ta chỉ là một đứa bé sáu tuổi, tay bằng quả chuối tiêu, tóc buộc hai chỏm cao, chuông cổ tay kêu leng keng.
Ta có mười hai năm để tích một khoản vốn không ai lấy trộm được: tình cảm của gia đình này.
Nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa. Cha đối với ta thế nào, ta phải đối lại với cha thế đó. Mẹ ta chưa gặp, các huynh chưa gặp, tam ca chưa về. Nhưng ta có thời gian.
Ta có thời gian.
Trong đầu ta, người hai mươi lăm tuổi thở phào một tiếng nhỏ. Có kế hoạch rồi. Không hoảng nữa.
Cô nàng đứng dậy trong tâm trí ta, xắn tay áo, nói nhỏ với chính ta: “Được. Ta ở lại đây. Ta không đi nữa. Cây lê này, ta phải giữ.”
Cha đi vòng lại giường, ngồi xuống, đặt tay lên trán ta. Ông thấy ta mở mắt, dịu giọng: “Sao còn chưa ngủ. Có ngoan không hử.”
Ta cười. Hai lún đồng tiền lún xuống hai bên má.
“Con ngoan mà.”
Cha cười theo. Ông cúi xuống, hôn nhẹ lên đỉnh đầu ta, ngay chỗ hai chỏm tóc buộc.
Cửa phòng bên ngoài có tiếng gõ nhẹ. Vú Thôi bưng khay cháo đường phèn bước vào, cúi đầu chào. Cha nhận khay, đặt lên chiếc bàn con cạnh giường, ngồi cẩn thận múc từng thìa nhỏ, thổi nguội, rồi mới đưa lên miệng ta.
Cháo mới có vị đường phèn tan lịm, mấy trái táo đỏ hầm mềm chảy trong lưỡi, thơm ngọt như một sáng mùa xuân đầy nắng. Ta nuốt.
Trong lòng ta, người hai mươi lăm tuổi lặng đi rất lâu.
Trong sách, chương ba mươi có mưa. Trong đời thật, ngay lúc này, có nắng sớm đang len qua khe cửa, có mùi cháo đường phèn, có bàn tay cha to đùng đang cầm thìa gỗ nhỏ xíu. Ta không biết mình đã làm gì ở kiếp trước để được lần này. Nhưng ta biết ta sẽ không bỏ nó rơi xuống đất.
Cha múc thêm thìa nữa. “Nào, một thìa nữa cho ngoan.”
Ta há miệng.
Ngay lúc đó, có tiếng bước chân vọng lại từ ngoài hành lang. Không phải một tiếng, mà là hai. Nhẹ, gấp, xen với tiếng cười non nớt của trẻ nhỏ, giọng vỡ giọng đục lẫn nhau, mỗi bước đạp đều rung cả gạch lát.
“Cha ơi cha ơi. Vú Thôi nói muội muội tỉnh rồi phải không.”
“Muội muội muội muội. Nhị ca đem quả chín đến cho muội đây!”
Ta trong chăn cứng đờ một giây.
Cha đặt thìa cháo xuống, quay đầu ra cửa, cười vỡ cả nếp nhăn.
“Đại ca nhị ca của con đến rồi. Muốn ngồi dậy đón huynh không hử?”
Tim ta đập một nhịp lỡ. Kiếp trước ta không có anh chị em. Ta chưa từng nghe ai gọi ta bằng hai tiếng “muội muội” bằng cả trái tim thế này.
Ta hít một hơi thật sâu. Tay còn nắm chặt vạt áo cha, không buông.
Rèm cửa bên ngoài lay động. Hai tiếng bước chân đã tới ngưỡng phòng.