Hoài Cổ Truyện

Đêm Tân Hôn Ta Thiêu Cả Vương Phủ

Chương 14: Dạo Vườn Trăng

Vua vẫn còn cười. Tiếng cười ấy lan giữa điện Trường Xuân, chạm vào từng cột son, rồi đọng lại trên vai Nguyệt Nhi như một tảng đá.

Uyển Ngôn không ngoái nhìn. Nàng biết nàng ta đang cúi đầu. Biết má nàng ta đang nóng. Biết đêm nay là đêm đầu tiên nàng ta thua trước mặt người khác.

Ta không thương nàng ta. Ta chỉ tiếc.

Tiếc rằng phải mất một kiếp và bao nhiêu là tro, ta mới đứng được ở chỗ này. Tiếc rằng ánh nến cung yến sáng đến thế, mà kiếp trước ta chưa từng thấy.

Túc vương vẫn khoác áo choàng của hắn lên vai ta. Vải nặng hơn ta tưởng. Có mùi long não pha đàn hương, và ngầm bên dưới là mùi da người đàn ông đã nhiều đêm không ngủ. Cái mùi ấy quen đến độ ta hoảng.

Ta ngước lên. Hắn nhìn ta. Chỉ một khắc. Rồi hắn quay về phía long ỷ, chắp tay: “Bệ hạ, đêm đã sâu. Xin cho vương phi cùng thần dạo vườn nhỏ.”

Vua khoát tay, lông mày còn nhướng vì thích thú: “Đi đi. Đêm rằm mà không dạo vườn thì phụ trăng. Nhưng đừng đi lâu. Ngoài kia gió lạnh, tân phi mảnh mai.”

“Thần nhớ.”

Hai chữ ấy hắn nói không có cảm xúc. Nhưng vua gật đầu như thể vừa nghe câu tình tự.

Ta cúi mình lui ba bước, xoay người theo hắn. Cả điện nhìn theo. Ta biết bao nhiêu ánh mắt đang đo áo ta, đo dáng ta, đo cả bước chân của một tân phi hôm nay lần đầu ra công cộng cùng chồng. Kiếp trước ta chưa bước đến đây. Kiếp này ta bước cạnh hắn.

Bước chân của người từng thiêu ta.

Ra khỏi điện, gió xộc vào mặt. Gió tháng chín Trường An mỏng như tơ, mà lạnh như dao mỏng. Vườn phía sau điện Trường Xuân trồng đầy quế và trúc. Trúc đứng thành hàng, ngăn ánh đèn lồng bên trong. Bên ngoài chỉ còn trăng.

Trăng rằm cung đình khác trăng rằm nhân gian. Sáng hơn. Vô tình hơn. Như một cái gương mài quá sạch, không giữ được hơi thở người soi.

Nội thị dâng đèn lồng tay. Túc vương xua tay. “Không cần.” Chỉ còn hai bên. Vệ sĩ đi cách năm bước phía sau, nội thị đi cách mười bước. Vườn dài, đường lát đá xanh, hai bên có ngọn cỏ tranh cao đến gối.

Hắn đi trước ta nửa bước. Cách mà một quân tử đi cùng thê tử trước công đường. Không quá gần để bị nghi khinh, không quá xa để bị nói bạc.

Ta bước theo. Áo choàng của hắn dài, quét trên đá lát, sát mép áo cưới của ta. Hai màu đen và đỏ cọ vào nhau như lửa tro nằm chung một lò.

Ta không nói.

Hắn cũng không.

Bước đầu tiên đến khóm quế đầu tiên. Hương quế đêm khác hương quế ngày. Nồng hơn, đục hơn, như rượu ngâm mười năm. Ta ngửi mà nhớ. Kiếp trước ta cũng ngửi quế trong đêm. Đêm ấy là đêm ta còn sống nửa canh giờ cuối. Đêm ấy trong Túc phủ có mùi quế bị khói che.

Ta dừng.

Hắn cũng dừng. Không quay lại. Chỉ dừng.

“Vương phi mệt?” Giọng hắn nhỏ, chỉ đủ cho ta nghe.

“Không. Ta ngửi quế.” Ta đáp.

Hắn im. Nửa khắc sau: “Quế trong vườn cung đình trồng đã bảy mươi năm. Cao Tổ trồng. Người đời sau không dám chặt.”

Ta không đáp. Đi tiếp.

Từ khóm quế đầu tiên đến hồ nhỏ giữa vườn còn năm mươi bước. Trăng nghiêng bóng cả hai người xuống đá. Bóng hắn dài, ta ngắn. Bóng ta trải trên bóng hắn. Ta không quen. Ta cả kiếp trước lẫn kiếp này chưa từng có bóng ai đủ lớn để che cho.

Trên cầu đá cong bắc qua hồ, hắn dừng.

Hồ nhỏ. Sen tàn. Lá sen còn giữ một ít sương, ánh trăng đọng trên đó nhìn như tinh cầu bé. Cá dưới hồ động, mặt nước rung. Bóng trăng vỡ thành trăm mảnh, rồi liền lại.

Gương vỡ nào rồi cũng liền, ta nghĩ. Chỉ có gương của ta là không liền được.

Hắn tựa tay lên lan can gỗ. Tay trái. Cái tay có sẹo. Sẹo dài từ cổ tay đến khuỷu, dưới lớp áo lụa đen ta chỉ thấy bóng mờ. Ta biết sẹo ấy có. Kiếp trước ta cũng biết. Nhưng kiếp trước ta chỉ kịp thấy tay hắn cầm đuốc, không kịp thấy tay hắn cầm lan can.

Hắn nhìn hồ. Ta nhìn hắn.

“Ngài không cần công khai bảo vệ ta.”

Ta nói câu ấy nhẹ, như đặt một cánh sen xuống mặt hồ. Không muốn khuấy động. Chỉ muốn hắn biết.

Hắn không quay đầu. Mắt vẫn nhìn hồ. Nửa khắc trôi qua. Ta đếm được ba nhịp thở của mình.

“Ta không bảo vệ nàng.” Hắn nói. Giọng bình thường, như đọc một câu chép trong sách. “Ta bảo vệ vương phi của ta. Nàng khác.”

Ta khựng.

Câu ấy có hai lớp. Lớp trên là pháp lý. Vương phi là danh nghĩa, là ấn triều đình, là mặt của một dòng họ. Bảo vệ vương phi tức là bảo vệ chính bản thân hắn, bảo vệ ngôi vị hắn đang giữ. Bất cứ ai vấy vương phi tức là dám vấy Túc vương. Không phải chuyện của tình. Là chuyện của uy.

Lớp dưới thì ta không dám nghĩ ngay.

Ta cúi đầu. Cúi để hắn không thấy mặt ta có đổi. Ta đã tập cả mấy tháng nay: mặt phải phẳng như mặt hồ tháng mười. Vậy mà nghe câu ấy, đáy hồ trong ta có một con cá quẫy.

“Vương phi khác.” Ta lặp lại, nhỏ. “Ngài định nghĩa ‘khác’ thế nào?”

Hắn quay đầu. Lần đầu tiên trong đêm nay, hắn nhìn thẳng ta. Mắt hắn đen. Kiếp trước ta cũng thấy mắt ấy đen, nhưng là đen của than lạnh sau một trận cháy. Đêm nay mắt ấy đen của mực nghiên mới mài, còn ướt, chưa khô.

“Nàng biết định nghĩa của ta.” Hắn nói. “Nàng biết rất nhiều thứ, Uyển Ngôn.”

Cái tên riêng của ta phát ra từ miệng hắn, không có “vương phi” đứng trước. Không có “Tô thị” đứng trước. Chỉ hai chữ. Uyển Ngôn.

Ta phải dựa lan can gỗ để đứng vững.

Kiếp trước, cả đêm tân hôn hắn không gọi tên ta một lần. Chỉ có tiếng đuốc cháy, tiếng gỗ vỡ, tiếng ta gõ cửa. Tiếng gõ cuối, ta không còn giọng.

Kiếp này, hắn gọi tên ta trên cầu đá dưới trăng.

Trăng đen phải rõ. Trắng đen mà mờ thì người sống không sống nổi. Ta phải rõ. Ta nói:

“Ngài không cần định nghĩa. Ngài chỉ cần cho ta biết ranh giới. Ta biết đứng ở đâu, ngồi ở đâu, cúi đầu ở đâu.”

“Nàng đứng cạnh ta.”

“Cạnh ngài ở triều, hay cạnh ngài ở phủ?”

“Cả hai.”

Ba tiếng. Ngắn. Nhưng nặng.

Ta thấy tay mình lạnh. Không phải vì gió. Vì có một sợi dây hồng vô hình vừa được ai đó buộc vào cổ tay ta khi ta không để ý. Sợi dây ấy kiếp trước ta cũng có, cắt bằng dao lửa. Kiếp này, ai buộc lại?

Không phải trời. Trời không buộc lần hai.

Là hắn.

“Ngài buộc dây cho ta.” Ta nói. Không biết mình đã lỡ nói ra tiếng.

Hắn nhíu mày. “Dây gì?”

Ta lắc đầu. “Không có gì. Ta lỡ nghĩ.”

Hắn không truy. Nhưng ta thấy hắn giữ câu ấy lại trong lòng. Giữ cẩn thận, như người ta giữ một mảnh giấy quan trọng chưa mở.

Đi tiếp.

Qua cầu, đường vào một khoảng vườn có đình bát giác. Đình cũ, mái lợp ngói lưu ly xanh. Trăng đến giờ này đã cao gần đỉnh trời. Ánh trăng rót thẳng xuống đình, để lại một vệt sáng trên chín bậc đá.

Hắn dừng ở bậc thứ tư. Ta dừng ở bậc thứ ba, thấp hơn hắn nửa đầu.

“Ta muốn hỏi nàng một chuyện.” Hắn nói.

“Ngài hỏi.”

“Nguyệt Nhi tối nay vấy rượu lên áo nàng. Nàng thay áo cưới. Ta khoác áo choàng. Ba việc này diễn ra trong nửa canh giờ. Nàng đoán trước bao nhiêu?”

Ta nghĩ. Rồi trả lời thật: “Ta đoán nàng ta sẽ ra tay. Không đoán chính xác hình thức. Áo cưới ta đem theo là dự phòng. Còn áo choàng của ngài, ta không tính đến.”

“Nàng không tính đến việc ta bênh nàng?”

“Không.”

Hắn im.

Ta biết câu trả lời của ta có phần bạc. Nhưng ta không thể nói khác. Kiếp trước ta đã học một bài học lớn: đừng bao giờ tính người khác sẽ đứng về phía mình. Người ta có đứng là do người ta, không phải do mình. Ai kỳ vọng, người đó chết trước.

“Vì sao?” Hắn hỏi.

“Vì ngài chưa nợ ta. Ta chưa nợ ngài. Đêm tân hôn ta nói ba điều, ngài chưa đốt phòng. Đó là sòng phẳng. Sòng phẳng thì không có ai nợ ai.”

“Nàng nghĩ hôm nay ta bênh vì nợ?”

“Ta không biết. Ta chỉ biết ta không tính đến.”

Hắn cúi đầu nhẹ. Kiểu cúi đầu của người nghe một câu đúng nhưng chưa vừa lòng.

“Uyển Ngôn.” Lại là tên riêng. “Ta không bênh vì nợ. Ta bênh vì hôm nay nàng đứng dậy mặc áo cưới đỏ giữa triều, không sợ. Ta sống hai mươi hai năm chưa gặp ai không sợ trước mặt vua. Ta bênh vì tò mò.”

“Tò mò không lâu bằng nợ.”

“Đúng. Nhưng lâu bằng cả một đời, nếu tò mò không được thoả.”

Ta ngước lên. Hắn đứng cao hơn ta nửa đầu, dưới mái đình, dưới trăng. Bóng hắn đổ trùm bậc ta đứng. Ta nhớ lại kiếp trước, khi ta nằm trên sàn phòng tân hôn, khói đè lên ngực, ta cũng thấy bóng hắn trùm mình. Chỉ khác, bóng ấy là bóng đao. Bóng bây giờ là bóng người.

Người và đao đều có bóng. Nhưng bóng khác nhau.

Ta thấy trong họng có gì đó dâng. Ta nuốt xuống. Đàn bà con gái nhà thứ nữ không được khóc trước mặt chồng. Càng không được khóc dưới trăng cung đình. Có người thấy, mai sẽ có tin đồn.

“Ngài tò mò gì?” Ta hỏi.

“Tò mò vì sao đêm tân hôn nàng biết trong phòng ta có phong thư.” Hắn nói chậm. “Tò mò vì sao nàng biết ta thắp nến không thắp đuốc. Tò mò vì sao nàng gọi tên Nguyệt Nhi trước khi ta nhắc. Tò mò vì sao nàng biết Đông Cung tài lệnh là gì. Uyển Ngôn, một thứ nữ mười bảy tuổi mới rời khuê phòng, không thể biết ngần ấy chuyện.”

Ta biết ngày này sẽ đến.

Kiếp trước ta không kịp chuẩn bị. Kiếp này ta chuẩn bị bốn mươi ba đêm rồi. Từ đêm tân hôn đến hôm nay, mỗi đêm ta đều tập câu trả lời cho câu hỏi ấy.

Nhưng đứng trước mặt hắn dưới trăng, ta lại quên cả câu.

Ta chỉ nói được câu này: “Ngài muốn biết bây giờ, hay khi khác?”

“Khi khác.” Hắn đáp không nghĩ.

Ta hơi ngạc nhiên. “Vì sao?”

“Vì hôm nay nàng vừa đứng dậy trước triều. Nàng mệt. Ta không hỏi câu nặng khi nàng mệt. Ta hỏi khi nàng khoẻ.”

Ta cúi đầu.

Câu này của hắn không nặng bằng câu “ta bảo vệ vương phi của ta”, nhưng lại là câu làm ta cắn môi. Cắn nhẹ. Đủ để có vị máu nhạt.

Từ nhỏ ta không quen có người đợi ta khoẻ. Ninh phu nhân đợi ta yếu. Nguyệt Nhi đợi ta yếu. Kiếp trước Túc vương đợi ta yếu. Kiếp này Túc vương đợi ta khoẻ.

Đợi khoẻ khó hơn đợi yếu. Yếu là thời điểm ai cũng làm được. Khoẻ là thời điểm phải có lòng.

“Ngài lạ.” Ta buột nói.

“Ta lạ?”

“Ta chưa gặp người đàn ông nào đợi vợ khoẻ mới hỏi câu nặng.”

Hắn cười. Không thành tiếng, chỉ nhếch một khoé. Lần đầu ta thấy hắn cười. Cười của Túc vương không giống cười của người thường. Nó lành, như thể trong lòng hắn có một khe hở rất nhỏ, khe ấy vừa hé.

“Ta cũng chưa gặp cô nương nào đủ tỉnh để biết ta lạ.” Hắn đáp.

Ta ngoảnh mặt.

Trăng đã lên đỉnh.

Ánh trăng chiếu xuống đình bát giác. Chín bậc đá trắng như xương. Không khí lạnh. Sương bắt đầu đọng trên mái ngói lưu ly, ngưng thành hạt nhỏ. Sương thu năm nay xuống sớm.

Hắn bước xuống một bậc. Đứng ngang ta.

Áo choàng của hắn phất qua tay ta. Nhẹ. Mà ta giật.

“Uyển Ngôn.” Lại tên riêng.

“Vâng.”

“Đưa tay ra.”

Ta ngẩng lên. “Tay gì?”

“Tay phải.”

Ta không hiểu, nhưng ta vẫn đưa. Từ nhỏ ta được dạy: khi đàn ông trong nhà bảo, con gái đưa. Hỏi sau. Ta bây giờ là vương phi, được phép hỏi trước. Nhưng ta đưa tay theo phản xạ. Cái phản xạ ấy hơi cay.

Bàn tay ta ra khỏi ống tay áo cưới. Trắng. Lạnh. Ánh trăng chiếu, thấy rõ mỗi mạch máu nhỏ dưới da.

Hắn không cầm. Chỉ ngửa tay hắn dưới tay ta, để tay ta lơ lửng trên tay hắn không chạm. Rồi hắn nhìn cổ tay ta.

Cổ tay ta có một vệt đỏ nhỏ. Không lớn. To bằng hạt đỗ. Nằm ở mặt trong, gần chỗ đo mạch. Vết bỏng.

Ta không kịp giật tay lại.

Vết ấy là của đêm hắn thắp nến. Canh ba, đêm tân hôn. Hắn châm nến lên. Ta đứng cạnh. Không hiểu vì sao ta khi ấy đưa tay đón que diêm giấy hắn đang cầm. Có lẽ vì kiếp trước ta không được đón. Có lẽ vì lửa của hắn ở kiếp này, ta muốn biết nó nóng bao nhiêu, so với lửa hắn ở kiếp trước.

Giọt sáp nến nóng rơi xuống cổ tay ta. Ta không kêu. Ta cắn răng. Hắn không thấy.

Bỏng nhỏ. Nhưng bỏng lâu. Cả tháng nay, mỗi khi ta rửa tay, ta vẫn thấy vết ấy nhức.

Hôm nay hắn thấy.

Hắn thấy vì áo cưới của ta ống tay hẹp. Hắn thấy vì ta vừa ngoảnh mặt sang bên, ống tay tuột xuống nửa tấc. Hắn thấy vì hắn có mắt của người quen nhìn dấu vết.

“Nàng bỏng khi ta thắp nến.” Hắn nói.

Không phải câu hỏi. Câu khẳng định.

Ta muốn giật tay về. Không rút được. Không phải hắn giữ, mà là mắt hắn giữ.

“Chuyện nhỏ.” Ta đáp. “Ta không để ý.”

Hắn không nói. Chỉ nhìn vết bỏng lâu hơn ta muốn.

Sương thu rơi thêm hạt nữa xuống mái đình. Ta nghe thấy tiếng rất nhỏ, tiếng sương đọng chạm ngói. Trong đêm cung đình yên đến độ, tiếng ấy nghe như tiếng kim rơi vào đĩa bạc.

Rồi hắn nói câu ấy. Câu ta không quên trong bao nhiêu năm sau đây.

“Nàng bỏng khi ta thắp nến. Ta không hỏi.”

Bốn chữ cuối, “ta không hỏi”, nặng hơn bốn chữ đầu. Vì trong bốn chữ ấy có một hàm ý ta không dám nói ra: hắn biết ta có bí mật. Hắn biết vết bỏng này không đơn thuần là chuyện của một giọt sáp. Hắn biết đằng sau vết bỏng có cả một câu chuyện, có cả một đời của ta.

Hắn không hỏi.

Không phải vì hắn không muốn biết. Mà vì hắn chờ.

Chờ ta tự nói.

Ta thấy trong lồng ngực, cái con cá quẫy hồi nãy quẫy tiếp. Lần này mạnh hơn. Nó gõ vào xương sườn. Nó không muốn ở dưới nước nữa. Nó muốn lên.

Ta không thể để nó lên. Chưa được. Chưa phải bây giờ.

Ta rút tay. Lần này rút được, vì hắn không cản.

“Ngài không hỏi.” Ta lặp lại. “Ta không đáp.”

“Vậy là công bằng.” Hắn nói.

“Công bằng.”

Ta cúi mình. “Đêm khuya, ta xin lui trước.”

Hắn không giữ. Không đưa tay. Chỉ nghiêng đầu, đủ để ta biết hắn đã tiễn.

Ta xoay người. Bước xuống bậc thứ nhất. Áo cưới nặng, kéo lê trên đá. Đá trắng, áo đỏ. Máu chảy trên xương.

Ta đi được ba bước. Rồi hắn gọi.

“Uyển Ngôn.”

Ta dừng, không quay.

“Vâng.”

“Vết bỏng ấy,” giọng hắn không lớn, nhưng trong đêm nghe rõ như trống điểm canh, “ta sẽ nhớ nó nằm ở đâu. Sau này nếu nàng còn bỏng vì lửa của ta, ta muốn biết trước.”

Ta đứng chết.

Một câu ấy không phải câu tình. Cũng không phải câu chính trị. Cũng không phải câu hứa. Nó là câu gì thì ta chưa nghĩ ra. Nhưng ta biết, từ đêm nay trở đi, mỗi lần ta rửa cổ tay, ta sẽ nghe câu ấy vang lên.

Gậy ông đập lưng ông. Kiếp trước hắn đốt ta. Kiếp này hắn thắp nến cho ta thấy đường. Hai ngọn lửa của cùng một người, hai kiếp. Cùng một tay, cùng một đêm rằm. Chỉ khác cách châm.

Ta không quay lại. Ta không dám quay lại. Ta nói vào bóng trúc phía trước:

“Ta nhớ.”

Rồi ta đi.

Bước ra khỏi vườn trăng, ta vẫn nghe tiếng bước của hắn. Hắn không đuổi theo. Hắn chỉ đứng đó, ở đình bát giác, dưới trăng đỉnh trời. Ta không quay đầu, nhưng ta biết. Bóng hắn vẫn đổ trên chín bậc đá trắng. Không di chuyển.

Ra đến cửa vườn, thị nữ đón. Ta trả áo choàng cho nội thị. Vải nặng rời khỏi vai, ta nhẹ đi mà lại thấy trơ trọi. Cái mùi long não đàn hương còn bám trên gáy ta. Nó ở lại lâu hơn ta muốn.

Về đến sương phòng dành cho Túc phủ trong cung, Bích Đào đã đợi. Nàng ta thấy mặt ta thì cúi đầu, không dám hỏi. Chỉ dâng khăn nóng. Ta lau tay. Lau đến cổ tay phải, ta dừng.

Vết bỏng vẫn ở đó. Bằng hạt đỗ. Đỏ nhạt.

Kiếp trước ta không có vết này. Vì kiếp trước ta chưa từng đưa tay đón que diêm giấy của hắn. Vết này là dấu của kiếp này. Dấu độc nhất. Dấu ta không muốn ai thấy.

Hôm nay hắn thấy.

Ta đưa khăn nóng lên vết bỏng. Nóng chạm nóng, không hết đau, chỉ chuyển đau. Ta nhìn khăn. Nước bốc hơi lên tay. Sương thu ngoài cửa sổ vẫn đọng. Trong ngoài, hai loại sương.

“Vương phi,” Bích Đào nhỏ giọng, “trở về Túc phủ ngay đêm nay, hay sáng mai?”

“Sáng mai.”

“Bên Tô phủ có gửi tin tới. Nguyệt Nhi sáng nay xin phép mẹ vào cung ba ngày.”

Ta ngước.

Nguyệt Nhi vào cung. Không phải vì thái tử Diệp Kính. Kiếp trước tháng chín nàng ta không vào cung. Nàng ta chờ đến tháng mười một, sau khi ta chết, mới được đưa vào cung “chọn nữ quan”. Nay nàng ta vào sớm hai tháng.

Vì hôm nay ở cung yến ta đã làm nàng ta mất mặt. Nàng ta không thể chờ. Nàng ta phải đánh trước.

Ta đặt khăn xuống.

“Bích Đào.”

“Vương phi.”

“Đêm nay ngươi không được ngủ. Ngươi ngồi bên cửa sổ, canh. Nếu có ai từ Đông Cung sang, dù là thị nữ cấp thấp, ngươi cũng phải nhớ mặt.”

“Vâng.”

Ta nhìn ra ngoài cửa sổ. Trăng đã bắt đầu chếch. Ánh trăng không còn chiếu thẳng vào phòng. Đến canh tư, trăng sẽ lặn hoàn toàn.

Đêm nay không có canh ba như đêm tân hôn. Nhưng đêm nay cũng nguy. Nàng ta đã vào cung. Nàng ta không ngủ. Đích mẫu ở Tô phủ chắc chắn cũng không ngủ. Túc vương ở đình bát giác chắc chắn cũng chưa về.

Cả cung đình đêm nay không ngủ.

Ta thổi tắt cây nến trên bàn. Đêm nay ta không cần nến. Kiếp trước ta cần đuốc. Kiếp này ta chỉ cần đôi mắt mở.

Ta nằm xuống. Cổ tay bỏng nhức. Ta để cổ tay ra ngoài chăn, để nó lạnh.

Trước khi khép mắt, ta nghĩ đến câu cuối của hắn. “Nếu nàng còn bỏng vì lửa của ta, ta muốn biết trước.”

Ta cười trong bóng tối. Cười nhẹ, không thành tiếng.

Kiếp trước ta chết vì lửa của hắn mà hắn không biết. Kiếp này hắn muốn biết trước. Trời có thay đổi. Người cũng thay đổi. Sợi dây hồng ai đó buộc vào cổ tay ta lúc trên cầu đá, giờ ta cảm được nó thít nhẹ.

Ta không tháo. Chưa tháo. Có thể sẽ không tháo.

Nhưng ta cũng chưa buộc chặt. Đêm nay ta phải giữ tỉnh. Sáng mai còn có Nguyệt Nhi. Còn có phong thư nặc danh chưa viết. Còn có Ninh phu nhân đâu đó trong Tô phủ đang tính lối tiếp theo.

Ta khép mắt.

Ngoài cửa sổ, Bích Đào ngồi im. Sương thu đọng thêm hạt.

Trong bóng tối, ta nghe rất khẽ, một tiếng gót chân trên đá lát vườn.

Không phải chân của thị vệ Túc phủ. Thị vệ Túc phủ đi giày da, tiếng dày. Chân này đi giày lụa, tiếng mỏng.

Chân của một nữ nhân.

Ta mở mắt.