Hoài Cổ Truyện

Đêm Tân Hôn Ta Thiêu Cả Vương Phủ

Chương 15: Đông Cung Ra Tay

Ba ngày sau đêm trăng vườn hậu.

Vết bỏng cổ tay ta đã mờ, chỉ còn một chấm hồng nhạt như dấu son ai lỡ tay chấm phải. Đêm đó chàng chạm vào nó, không hỏi. Câu “Ta không hỏi” ấy cứ vang trong đầu ta như tiếng chuông đồng, ba ngày rồi vẫn không tan.

Ta biết chàng đã hỏi. Chàng hỏi bằng cái chạm.

Sáng sớm, ta ngồi trước gương. Bích Đào đang chải tóc. Cửa phòng bị đập gấp. Không phải gõ. Đập.

“Vương phi, thị vệ trưởng xin vào bẩm.”

Ta đặt lược xuống.

Cố Kỳ bước vào, quỳ một gối. Mặt hắn đọng mồ hôi, trời chưa sáng mà đã ướt.

“Bẩm vương phi. Đêm qua canh tư, ba tên thích khách trèo tường phía tây phủ. Chặn được trước khi vào tới hành lang Tuyết Đình.”

Tuyết Đình là viện của ta.

Ba tên.

Ta hỏi: “Sống hay chết?”

“Hai chết. Một bắt sống. Vương gia đang tra.”

Ta ừ. Bích Đào thả lược. Tiếng gỗ chạm bàn khô như cành khô gãy.

Cố Kỳ lui. Bích Đào đứng sau lưng ta, tay run. Nàng ta luôn run trước khi hỏi câu quan trọng.

“Vương phi… ai muốn giết vương phi?”

Ta không quay đầu. Ta nhìn bóng ta trong gương, đáp: “Bích Đào, có những câu không nên hỏi trong phủ. Ngươi biết chứ.”

Bích Đào cúi. “Con biết. Nhưng con sợ.”

“Sợ là đúng.” Ta cầm lược. “Sợ mới sống được.”

Trong sân ngoài, có tiếng bước chân. Không phải bước thị vệ. Bước chậm, không vội. Bước của người biết cả phủ này là của mình.

Chàng đẩy cửa vào. Không có tiếng gõ.

Áo đen tối qua chưa thay, tay áo có một vết nhỏ. Không phải mực. Ta liếc, biết là máu khô, không phải của chàng.

“Nàng đi cùng ta.” Chàng nói. Không giải thích.

Ta đứng dậy. Bích Đào định theo. Chàng chỉ liếc một cái, Bích Đào lui.

Ta đi sau chàng, hai bước sau lưng. Khoảng cách vừa cho một vương phi bên vương phu, vừa cho một quân sư bên chủ tướng. Ta chọn được cả hai.

Qua ba hành lang. Đến Tây viện.

Tây viện là chỗ ta chưa từng đặt chân trong kiếp trước. Kiếp trước ta chết trong đêm tân hôn, chưa kịp bước ra khỏi phòng riêng, huống chi Tây viện. Kiếp này ta cũng chưa được mời. Hôm nay, chàng dẫn ta vào.

Cửa Tây viện đóng. Chàng đứng trước cửa, chưa mở. Chàng quay lại nhìn ta.

“Uyển Ngôn.”

Chàng gọi tên. Trước nay chỉ gọi “nàng”. Tên ta ra khỏi miệng chàng lần đầu, nghe như một hòn than lăn qua đá lạnh, có tiếng.

Ta ngước lên.

“Nàng có mật đạo trong phủ này không?”

Câu hỏi có gai. Ta biết chàng đang thử.

“Ta không có.” Ta đáp. “Ngài có.”

Chàng cười một cái. Không phải cười vui. Cười của người đã thấy đúng cái mình đoán.

“Nàng đã biết ta có.” Chàng mở cửa. “Vào.”

Trong Tây viện không có bàn thờ, không có sách. Chỉ có một tủ gỗ đen chạm hoa mai, một cái ghế, một đèn dầu chưa thắp.

Chàng đóng cửa. Trong phòng chỉ hai người.

Chàng đến bên tủ. Đặt tay lên góc phải, ấn nhẹ. Tủ dịch. Sau tủ là một cửa ngách, cao vừa bằng một người cúi đầu.

“Đây là mật đạo phía tây.” Chàng nói. “Chạy thẳng đến hồ Cầm Nguyệt. Từ hồ, có thuyền nhỏ ta đã chuẩn bị. Chèo qua hồ, ra cửa sau vườn Vệ phủ. Có ngựa và người của ta.”

Ta đứng nghe. Nhớ hết.

“Ám hiệu là gì?” Ta hỏi.

“Không phải mật ngữ. Ba tiếng chuông đồng đánh gấp. Nàng bỏ hết, chạy vào Tây viện, ấn tủ chỗ ta vừa ấn.”

“Nếu Tây viện bị chặn?”

“Không bị chặn. Ta bố trí sáu người của thái hoàng thái hậu quanh viện này, ngày đêm.”

Ta cúi đầu.

Sáu người của thái hoàng thái hậu, chỉ để giữ một cửa mật đạo cho ta.

Đây không phải bố trí của Túc vương với vợ danh nghĩa. Đây là bố trí của một quân sư với đồng minh mà hắn không muốn mất.

Ta ngước lên. Nhìn thẳng chàng. Lúc này không được cụp mắt.

“Kiếp trước ngài không có mật đạo này.” Ta nói.

Câu ấy ta không định nói. Ta không định thử chàng như thế. Nhưng đã nói ra.

Chàng khựng nửa nhịp thở. Chỉ nửa nhịp. Chàng vốn không phải người khựng dễ.

“Nàng làm sao biết?”

Ta nhìn chàng. “Kiếp trước ta không sống đến ba ngày. Chỉ sống đến canh ba. Ta chưa từng bước vào Tây viện. Nhưng ta biết ngài không có mật đạo, vì kiếp trước ngài không cần. Ngài không có ai để giấu.”

Chàng nghe. Mặt không đổi. Nhưng khớp ngón tay đặt trên cạnh tủ hơi trắng đi.

Chàng nói, chậm: “Nàng nghĩ ta xây mật đạo này vì nàng?”

“Ta không nghĩ. Ta thấy.”

Chàng im lâu. Đèn dầu vẫn chưa thắp. Trong phòng chỉ có ánh sáng khe cửa hắt vào, mờ như sương thu. Ta thấy cạnh mặt chàng, đường xương hàm, vết sẹo dài từ cổ tay chạy lên khuỷu trong tay áo hé mở.

Cuối cùng chàng nói: “Nàng thấy đúng.”

Ba chữ. Vậy thôi.

Ta cụp mắt. Nếu không cụp, ta sợ trong mắt sẽ có thứ ta chưa muốn cho chàng thấy.

Chúng ta trở về chính điện. Chàng ngồi ghế chính. Ta ngồi ghế bên. Trà đã đưa lên, ta không uống.

“Ba tên thích khách đêm qua.” Ta hỏi. “Ngài tra được gì?”

“Một sống. Ta cắt hai ngón tay, hắn khai chủ.” Chàng nói tỉnh khô như bàn chuyện mưa nắng. “Chủ hắn là Trần Cửu, quản gia riêng của tứ tiểu thư Đông Cung. Tức Đông Cung nữ quan nhị phẩm.”

Ta gõ nhẹ móng tay lên chén trà. Đông Cung nữ quan nhị phẩm là con nuôi Diệp Kính. Kiếp trước ta có nghe qua, chưa gặp mặt.

“Đông Cung ra tay chính thức rồi.” Ta nói.

“Không.” Chàng lắc đầu. “Trần Cửu là con cờ trung gian. Nếu ta cầm hắn, Đông Cung sẽ chối. Ta không có bằng chứng liên hệ trực tiếp.”

“Vậy tại sao ngài để hắn khai?”

“Vì ta không cần khai để bắt Đông Cung. Ta cần khai để biết mục tiêu. Ba tên vào phủ đêm qua không đi hướng phòng ta. Đi thẳng hướng Tuyết Đình.”

Tuyết Đình.

Ta gõ móng tay chậm lại. Trong đầu, mảnh ghép cựa mình.

“Mục tiêu là ta.” Ta nói khẽ.

Chàng gật.

Nàng ta đã biết. Ba ngày trước, ở cung yến Trung Thu, Nguyệt Nhi bị Túc vương phủ áo lên vai ta, mất mặt trước cả triều. Trong ba ngày, nàng ta không thăm hoàng hậu, không đi phú thái tự, không tiếp khách. Ta cho Bích Đào theo dõi qua nha hoàn Trấn phủ. Nàng ta ngồi trong phòng ba ngày ba đêm.

Nàng ta không ngồi khóc. Nàng ta ngồi bày cờ.

“Là Nguyệt Nhi.” Ta nói.

“Có thể.” Chàng đặt chén xuống. “Nhưng Nguyệt Nhi không có tay Đông Cung ra nhanh thế này. Là Đông Cung mượn tay Nguyệt Nhi, hoặc Nguyệt Nhi mượn tay Đông Cung. Cả hai ta đều tính.”

Ta nhìn chàng. “Ngài đã tính cả hai. Vậy tại sao ngài dẫn ta vào Tây viện sáng nay?”

Chàng nhìn ta. Không tránh.

“Vì ta không muốn tính đến phương án thứ ba.” Chàng nói. “Phương án nàng chết.”

Trong lồng ngực ta có gì đó rơi. Không phải rơi vì nghe câu ấy. Rơi vì ta biết chàng nói thật.

Ta hít vào. Đặt chén trà không uống xuống bàn.

“Ta không chết đâu, Túc vương.” Ta nói. “Ta còn nhiều việc chưa xong.”

Chàng đứng dậy. Đi vòng bàn, đến bên ghế ta. Ta không quay đầu. Ta nhìn vào chén trà.

Chàng đứng ngay bên. Tay chạm nhẹ vào cổ tay ta, chỗ có vết bỏng đêm canh ba mấy tháng trước.

Cái chạm ấy giống hệt đêm vườn hậu. Nhưng lần này chàng nói.

“Vết bỏng nhạt đi rồi.”

“Ừ.” Ta đáp.

“Nàng bôi thuốc gì?”

“Bích Đào bôi mật ong với lá bồ công anh. Bích Đào học từ mẹ ta, mẹ ta học từ y phụ.”

Chàng gật. Không rút tay.

“Mẹ nàng.” Chàng nói. Chỉ hai chữ. Nhưng có trọng lượng. Chàng biết chuyện mẹ ta chưa minh oan. Chàng biết ta đến Túc phủ không chỉ vì đêm tân hôn, mà vì cả một mối oán.

“Ngài đã điều tra gì về mẹ ta chưa?” Ta hỏi.

“Đã. Chưa xong. Ta có một mạch, chưa nối được với Ninh phu nhân trực tiếp. Đợi ta thêm một tuần.”

Ta ừ.

Chàng rút tay ra. Đi lại ghế của mình, ngồi.

“Nàng nhớ ám hiệu chưa?”

“Ba tiếng chuông đồng gấp. Chạy Tây viện. Ấn tủ. Chạy mật đạo. Ra hồ Cầm Nguyệt. Lên thuyền. Qua vườn Vệ phủ. Có ngựa.”

Chàng gật.

“Còn một điều. Nếu nàng chạy, không quay đầu tìm ta.”

Ta ngước lên. “Ngài nghĩ ta sẽ tìm ngài?”

“Ta không biết nàng nghĩ gì. Nhưng ta biết đêm tân hôn nàng đã ngồi đợi ta đến canh ba. Nàng có thói quen chờ.”

Câu này chàng nói bình thường, như nhận xét thời tiết. Nhưng ta nghe, tim chậm nửa nhịp.

“Ta không chờ.” Ta đáp. “Ta chỉ không có chỗ chạy.”

“Bây giờ nàng có.” Chàng nói. “Nếu ba tiếng chuông đánh, chạy. Không chờ ta.”

Ta cúi đầu. “Vâng.”

Trở về Tuyết Đình, đã quá giờ ngọ. Ta không ăn trưa. Bích Đào bưng chén canh sen ép ta uống. Ta uống hai thìa, đặt xuống.

Trong đầu ta đi qua đi lại một vòng.

Đông Cung đã ra tay. Nguyệt Nhi đã leo thang. Kiếp trước đến giờ này ta đã chết cháy đen dưới rường phủ, ba tháng rồi. Kiếp này ta đang ngồi trong Tuyết Đình, tay còn ấm chỗ chàng chạm.

Cùng một thời điểm, hai cuộc đời khác nhau như lửa và than.

Ta biết mình đã ra khỏi đường cũ. Nhưng ra khỏi đường cũ có nghĩa là bước vào đường chưa ai đi. Không còn biết trước sẽ có gì.

Nàng ta, người kiếp trước là chị em ruột danh nghĩa của ta, kiếp này còn nhanh chân hơn kiếp trước. Kiếp trước nàng ta đợi đến đêm tân hôn mới nhét phong thư. Kiếp này chỉ ba ngày sau khi bị Túc vương phủ áo lên vai ta, nàng ta đã mượn tay Đông Cung phái thích khách.

Nàng ta gấp. Nàng ta không quen bị mất mặt.

Ta nhắm mắt. Nghĩ theo cách của Ninh phu nhân, mẹ nuôi nàng ta, mẹ ruột của mọi âm mưu trong Trấn phủ. “Ăn miếng trả miếng” là câu bà thường dạy con gái. Bây giờ Nguyệt Nhi đang trả miếng.

Miếng của bà, bao giờ cũng có độc.

Ta mở mắt. Gọi Bích Đào.

“Bích Đào. Ngươi đi bảo Cố Kỳ, tối nay tăng canh gấp đôi quanh Tuyết Đình. Không phải quanh viện Túc vương. Chỉ quanh Tuyết Đình.”

“Vâng.”

“Còn nữa. Ngươi tự tay pha trà cho ta tối nay. Không nhận trà từ nha hoàn ngoài.”

“Vâng.”

Bích Đào định lui. Ta gọi lại.

“Bích Đào.”

“Vâng, vương phi.”

Ta nhìn nàng ta. Nha hoàn theo ta từ Trấn phủ, người duy nhất kiếp trước không phản. Bích Đào có gương mặt tròn, mắt to, dáng gầy như một cành dâu non. Nàng ta chưa từng ngã ngựa, chưa từng thấy máu, chưa từng nghe ta nói thật về chuyện kiếp trước.

Ta hít vào. “Nếu tối nay có chuyện, ngươi đừng theo ta.”

“Vương phi…”

“Nghe lời ta. Nếu có chuyện, ngươi trốn vào bếp, chui vào đống củi. Ta không cần ngươi đi cùng.”

“Con không đi cùng, con sao yên tâm?”

“Con không đi cùng, ta mới yên tâm.” Ta cầm tay nàng ta. “Kiếp này ta không để ai chết vì ta nữa. Nghe chưa?”

Câu “kiếp này” ta buột ra. Bích Đào không hỏi. Nàng ta chỉ nắm tay ta chặt thêm, gật.

Đôi khi ta nghĩ, giữa cả cái vương phủ này, chỉ có Bích Đào là biết ta có bí mật mà không tra hỏi. Nàng ta không hỏi vì tin. Ta trọng cái tin ấy hơn cả ngai vàng.

Chiều muộn, trời có sương. Sương thu Trường An mỏng như lụa xé, phủ lên mái ngói xanh Túc phủ, làm cả cái phủ trông như một chiếc gương mờ.

Ta đứng ngoài hiên Tuyết Đình. Trong tay cầm một cây trâm. Không phải trâm phượng vàng của Ninh phu nhân. Là trâm bạc hoa mai của mẹ.

Ta chưa cắm lên tóc. Chỉ cầm.

Nếu tối nay ba tiếng chuông đồng đánh, ta sẽ cắm trâm này trước khi chạy. Không phải vì đẹp. Vì trâm này của mẹ. Nếu ta chết, ta chết cùng vật của mẹ. Nếu ta sống, ta sống cùng vật của mẹ.

Trong sân, gió thu qua rặng trúc. Trúc reo như một câu chuyện dài không lời.

Bích Đào chạy ra.

“Vương phi. Có người từ ngoài phủ gõ cửa sau. Đưa thư.”

“Ai đưa?”

“Không biết. Chỉ nói ‘thư cho vương phi’. Rồi đi ngay. Cố Kỳ theo nhưng mất dấu ở góc phường Đông.”

Bích Đào chìa phong thư. Không có ấn. Chỉ có mực đen trên giấy trắng, viết “Túc vương phi”.

Ta nhận. Cầm chưa mở.

Ta ngước lên nhìn trời. Trời tây có một vệt mây đỏ như máu loãng, dài như một sợi dây hồng bị giật đứt.

Đến đêm, Bích Đào đã đi ngủ trong gian phụ. Nến trầm hương trong phòng cháy chậm. Ta ngồi bên án, phong thư trước mặt.

Ta mở.

Trong phong bì, một tờ giấy. Không phải giấy tốt. Là giấy thô, loại các nha hoàn Trấn phủ vẫn dùng để chép sổ. Cố tình chọn để trông giống nha hoàn viết, không phải chủ nhân viết.

Nhưng ta không cần nhìn giấy. Ta chỉ cần nhìn chữ.

Trên tờ giấy, một dòng.

“Nếu ngươi muốn Túc vương sống, hãy bỏ hắn.”

Chỉ một dòng.

Ta đọc. Đọc lại. Đọc lần thứ ba.

Trong phòng, nến trầm hương lép bép. Ngoài cửa sổ, sương thu đang xuống. Ta cầm tờ giấy sát ánh nến. Nhìn nét chữ.

Nét cong trên chữ “phi” có đuôi hất ngược không tự nhiên. Giống tay đang cầm bút bị run một chút rồi tự chỉnh lại. Đó là nét của một người đang cố giả một tay khác.

Nhưng ta biết tay thật.

Kiếp trước, ta đã chép cùng nàng ta một bộ Nữ Giới ba tháng ròng, dưới cây tùng già ở vườn nam Trấn phủ. Nét chữ của một người, ta không quên. Dù nàng ta có cố giả bao nhiêu, cái đuôi hất ngược trên chữ “phi” là thói quen tay của nàng ta, không sửa được.

Là Nguyệt Nhi.

Ta cầm tờ giấy. Ánh nến rung. Trong ánh nến rung, chữ Nguyệt Nhi đỏ lên rồi tối đi, đỏ lên rồi tối đi, như một ngọn lửa nhỏ đang thở.

Ngoài cửa sổ, sương thu dày. Trong lòng ta, có gì đó vừa cứng lại, vừa nóng lên.

“Trắng đen phải rõ.” Ta nói khẽ, với chính ta.

Cầm tờ giấy, đặt lên bàn. Ta ngước lên nhìn gương. Trong gương, một Uyển Ngôn mười bảy tuổi, tóc chưa vấn xong, trâm bạc mẹ chưa cắm. Sau lưng gương, ta thấy bóng Uyển Ngôn kiếp trước, cháy đen dưới rường vương phủ.

Bóng ấy đứng sau ta. Cười.

Cười vì cuối cùng ta cũng hiểu, cuộc chơi thật sự vừa mới bắt đầu.