Đêm Tân Hôn Ta Thiêu Cả Vương Phủ
Chương 16: Đi Săn Ngoài Thành
Đêm ấy trâm bạc mẹ cắm trên gối, thư nặc danh vẫn nằm trong lòng bàn tay Uyển Ngôn.
Nàng chưa ngủ. Ánh nến sắp cạn, bấc đen quăn lại thành một dấu hỏi nhỏ. Bức thư mỏng, chỉ một câu, chữ viết nghiêng nghiêng giả vẻ nam nhân, nhưng nét cuối lại vắt cong theo thói quen của Tô Nguyệt Nhi.
Nếu ngươi muốn Túc vương sống, hãy bỏ hắn.
Nàng đọc lại lần thứ ba. Ba lần đủ. Chữ vẫn không đổi ý.
Nàng ta không hiểu một điều. Kiếp trước nàng bỏ hắn, nàng chết. Kiếp này nàng bỏ hắn, hắn chết. Cả hai vế đều không có đường sống.
Bích Đào ngồi ngoài trướng, ho khẽ một tiếng. Ánh trăng chậm rãi rời khỏi cửa sổ, kéo theo cái lạnh tháng chín ẩm ướt. Uyển Ngôn thổi tắt nến, gấp thư lại làm tư, giấu vào lớp áo trong. Nàng không đốt. Chữ Nguyệt Nhi còn quý hơn than lạnh.
Chưa kịp chợp mắt, tiếng vó ngựa rát cả sân trước.
Thái giám truyền chỉ đến khi trời còn xanh xám. Giọng lanh lảnh vang lên sau ba lớp bình phong.
“Thánh chỉ, mời Túc vương phi phối cùng Túc vương ra đông thành đại săn, mùng sáu tháng chín, tế thu, xin vương phi chuẩn bị.”
Uyển Ngôn quỳ xuống nhận chỉ. Tay áo phủ lên đầu gối. Sương thu qua khe cửa lùa vào cổ, tê buốt.
Nàng gật đầu. Kiếp trước cũng có đại săn, nhưng không có nàng. Kiếp trước nàng đã chết được nửa canh giờ trước ngày mùng sáu.
Túc vương ngồi trong sương, uống chén trà đầu tiên trong ngày.
Bàn dài, hai mặt hai người. Hắn chưa nói. Uyển Ngôn cũng chưa. Trên bàn có đĩa hạt sen tươi, có bát cháo yến, có bình rượu Đông A còn ấm. Không ai động.
Nàng đặt bức thư ngang bàn.
Túc vương liếc qua. Đọc. Mắt hắn không đổi. Chỉ có ngón trỏ tay trái, cái ngón tay có vết sẹo dài chạy đến khuỷu, khẽ nhấc lên rồi hạ xuống. Rất nhỏ. Rất nhanh. Rất giận.
“Chữ của nàng ta?” Hắn hỏi.
“Chữ của nàng ta.” Nàng đáp.
“Nàng có định làm theo?”
“Không.”
Chỉ hai chữ. Không giải thích.
Túc vương im lặng. Đêm hôm trước ba thích khách trèo tường, đêm hôm nay Nguyệt Nhi gửi thư. Ai đi trước ai, ai đưa đường ai, ba tuổi cũng đoán ra.
“Đại săn ngày mùng sáu.” Hắn nói.
“Ta biết.”
“Nàng ở nhà.”
“Ta đi.”
Hắn ngẩng lên. Đây là lần đầu trong sáng nay hai mắt gặp nhau. Không lạnh. Chỉ dò xét.
“Uyển Ngôn.” Cái tên nàng, từ miệng hắn, tuy vẫn cứng, nhưng đã bớt gờ cạnh của những ngày đầu. “Đại săn không phải chỗ vương phi đi. Rừng đông có gấu, có sói, có sương độc. Ta đi với Đông Cung. Nàng ở đây, ta yên tâm.”
“Ngài đi với Đông Cung.” Nàng nhắc lại chậm. “Ta đi với ngài. Không phải để ngài yên tâm. Để ta yên tâm.”
Hắn khựng nửa giây. Rồi cười khẽ. Cái cười không lộ răng, chỉ khoé môi hơi cong.
“Vương phi có ý mới.”
“Vương phi có mắt.” Nàng nói. “Kiếp trước không có đại săn. Kiếp này có. Nghĩa là kịch bản đã lệch. Kịch bản lệch, thì bẫy cũng lệch. Ngài đi một mình, ta không nhìn được lưng ngài.”
Túc vương uống nốt chén trà. Đặt xuống, đáy chén kêu một tiếng khô, ngắn.
“Được. Đi cùng.” Hắn nói. “Nhưng khi ta vào rừng, nàng ngồi kiệu, không được xuống.”
Nàng cúi đầu. Ba chữ “không được xuống” nghe rất giống ba chữ “không được sống” của thái giám truyền chỉ kiếp trước. Nàng không nhận, cũng không cãi. Trâu cột chưa chắc đã ngoan, chỉ là chưa lỏng dây.
Ngày mùng sáu, trời hanh khô. Đúng cái tiết trời dễ cháy như đêm tân hôn tháng chín năm nào.
Đoàn xa giá rời Trường An lúc giờ Thìn. Hoàng thượng đi kiệu tám người khiêng, trước sau ba trăm thị vệ. Túc vương cưỡi ngựa ô, áo đen viền bạc, tay trái đeo hộ uyển da hươu, che vết sẹo dài. Đông Cung Diệp Kính cưỡi ngựa xám, khăn buộc đầu màu hồ, dáng vẻ ôn nhu như một thư sinh mượn tạm bộ giáp. Uyển Ngôn ngồi trong kiệu hoa dài, rèm hạ nửa vời, một tay đặt trên đầu gối, một tay giấu trong tay áo bóp chặt bức thư của Nguyệt Nhi.
Nàng đếm. Ba trăm thị vệ, chia làm sáu đội, mỗi đội năm mươi. Hai đội đi trước dẹp đường, một đội hộ giá vua, một đội bên Đông Cung, một đội bên Túc vương, một đội còn lại ở giữa. Đội bên Túc vương nàng nhìn kỹ ba lần. Toàn người quen. Hắn biết bố trí.
Kiệu qua cửa Đông thành. Ánh nắng đầu thu lát trên nóc mái ngói, vàng như mỡ gà loãng. Bích Đào ngồi cạnh, nhỏ giọng.
“Cô nương, cô uống chút trà cho ấm bụng.”
“Không uống.” Nàng gạt tay Bích Đào. “Uống thì phải đi giải, giải thì phải xuống kiệu. Hôm nay ta không xuống dễ.”
Bích Đào cười khổ. “Cô nương chuẩn bị kỹ.”
“Không chuẩn bị kỹ, thì lát nữa có người chuẩn bị hộ.”
Nàng ta không cười nữa.
Trại săn ngoài thành cách Trường An ba mươi dặm, dựng ven rừng Đông Lam. Rừng này nàng biết. Kiếp trước nghe cha nói, rừng có ba con đường mòn thợ săn cũ, hai chỗ thác nhỏ, một khe núi dốc hình vòng cung. Kẻ nào muốn giết một vương gia trong rừng, chọn khe núi vòng cung là nhanh nhất, gọn nhất, khó truy vết nhất.
Vua ngồi trên đài cao, cầm chung rượu vàng, nói mấy câu tế thu. Xong, ban lệnh: các vương công tự chọn cung, tự chọn ngựa, giờ Ngọ ai bắn được nhiều thú nhất, được vua thưởng ngọc bội trên đai lưng vua.
Túc vương đứng chào. Đông Cung đứng chào. Hai người liếc nhau một cái. Vua cười lớn. “Hai đệ đi cùng đi. Anh em ruột, đi cùng cho vui. Chớ để lạc nhau.”
Đông Cung khoanh tay. “Muội đệ vâng lời.”
Túc vương gật. “Thần đệ vâng lời.”
Nàng ngồi trong kiệu, cách đài cao chừng năm trượng, rèm hạ ba phần tư. Nhìn nghiêng thấy khoé mắt Đông Cung nhấc lên. Nghe vua nói “đi cùng”, khoé mắt đó có ánh cười. Không phải cười vua, cười thân tình. Cười khác. Cái cười của kẻ đã đợi câu này lâu lắm.
Túc vương lên ngựa vào rừng. Đông Cung theo sau nửa bước. Đội thị vệ Túc vương năm mươi người rẽ theo, tán ra thành vòng cung. Đội Đông Cung năm mươi người cũng rẽ theo. Hai đội đi cùng nhau vào bìa rừng.
Nàng ngồi trong kiệu, ngón tay bấm đốt. Đếm bước ngựa.
Một trăm bước. Hai trăm. Ba trăm. Đội Túc vương và Đông Cung nhập vào bìa rừng, tán vàng lá khuất mất bóng.
Đếm đến bảy trăm bước, nàng thấy điều lạ.
Từ bìa rừng phía nam, có mười tên thị vệ áo xám tách khỏi đội chính, cưỡi ngựa vòng theo hướng đông bắc. Không hô, không kèn, không thổi tù. Chỉ lặng lẽ tách. Kiểu tách của kẻ đã bàn sẵn ai đi ai ở lại.
Nàng nheo mắt. Áo xám không phải áo Túc vương. Túc vương phủ áo đen. Áo xám là màu của một đội thị vệ tạp binh, mà đội này ban sáng nàng thấy đi hộ vua.
Chưa hết. Thêm ba mươi giây, từ bìa rừng phía tây, thêm một nhóm nữa. Lần này bảy tên, áo màu tro, cầm cung dài. Tách khỏi đội chính, chạy vòng lên phía bắc.
Hai nhóm. Hướng đông bắc và tây bắc. Nếu vẽ trên bản đồ rừng, hai đường đó gặp nhau ở đâu?
Khe núi vòng cung.
Nàng cắn môi. Vị máu nhẹ.
“Bích Đào.” Nàng gọi. Giọng bình.
“Cô nương.”
“Bạn có nhớ khe núi vòng cung trong rừng Đông Lam không?”
Bích Đào ngẩn ra. “Cô nương hỏi cái gì lạ vậy?”
“Nhớ hay không?”
“Nhớ. Nhưng khe đó cách trại săn năm dặm. Sao…”
“Túc vương vào rừng bên tay ai?”
“Bên tay phải.”
“Đông Cung?”
“Bên tay trái.”
“Ba trăm bước sau đội Túc vương có ai tách ra không?”
“Không thấy, thưa cô nương. Bìa rừng che.”
Nàng hạ rèm kiệu xuống hẳn. Ngoài không nhìn thấy trong. Trong nhìn ra qua khe nhỏ, vẫn thấy đài cao, vẫn thấy vua ngồi uống rượu, vẫn thấy Đông Cung ban nãy đã đi rồi mà chỗ ngồi vẫn còn ấm.
Nàng hít một hơi dài. Không khí trại săn có mùi ngựa, mùi khói bếp, mùi thuốc súng nhẹ. Mùi thuốc súng ở đâu ra? Đại săn dùng cung, không dùng súng.
Ai đem thuốc súng đến đại săn?
Kẻ muốn đốt.
Nàng rùng mình. Không phải vì lạnh. Vì đã có lửa lần nào nàng thấy quen đâu.
Nàng lật lại bức thư trong tay áo. Chữ nàng ta.
Nếu ngươi muốn Túc vương sống, hãy bỏ hắn.
Nàng ta gửi thư đêm trước. Sáng nay có thánh chỉ đại săn. Chiều nay hai đội thị vệ tách ra hướng khe núi vòng cung. Ba mắt xích. Kiếp trước không có mắt xích nào trong ba mắt này. Kiếp này có đủ.
Nghĩa là kịch bản của Nguyệt Nhi lần này không phải phong thư dưới gối. Là phục kích trong rừng. Là mượn tay Đông Cung. Là đổ máu Túc vương trên đất vua.
Nếu Túc vương chết trong đại săn của vua, thì đó là “tai nạn”. Trấn phủ không mất mặt. Đông Cung không mắc tội. Nguyệt Nhi vẫn ngồi trong Đông Cung yên vị. Ninh phu nhân vẫn cười trong vườn đông.
Còn nàng. Nàng hoặc là góa phụ Túc vương, hoặc là “vợ đã bỏ chồng”, hoặc là chết cháy nốt phần còn lại của kiếp này trên bãi cỏ ngoài thành.
Nàng khép mắt một cái. Mở ra. Tay không còn run.
“Bích Đào.”
“Cô nương.”
“Ngựa của ta để đâu?”
Bích Đào ngước lên. “Ngựa? Cô nương… không có ngựa. Đại săn không mang ngựa cho vương phi.”
“Ngựa của thị vệ Túc vương thì có chứ?”
“Có. Bên đằng kia. Nhưng cô nương không được cưỡi…”
“Không phải cưỡi cho vui.” Nàng nói. “Cưỡi cho sống.”
Nàng ta há miệng, chưa kịp thốt.
Nàng kéo tay áo bên trái xuống. Lộ ra cổ tay, có vết bỏng nhỏ, viền tròn như đồng xu, nơi đêm tân hôn Túc vương thắp nến. Vết bỏng chưa lành hẳn, còn đỏ. Nàng chạm ngón cái lên, nhấn. Đau. Đau thì tỉnh.
“Nàng nghe rõ này.” Nàng nói. “Ta ra khỏi kiệu. Nàng đi theo ta. Không được gọi bất kỳ ai. Không được la. Không được rơi khay. Nàng có làm được không?”
Bích Đào nhìn nàng. Ánh mắt nàng ta chớp một cái. Rồi gật. “Cô nương bảo gì, con làm nấy.”
Nàng lấy trâm bạc hoa mai trên tóc xuống. Cầm chặt trong tay phải. Đầu trâm nhọn, viền lạnh. Trâm mẹ để lại, kiếp trước nàng chưa dùng đâm ai, kiếp này chưa chắc.
“Trâm này ta cầm.” Nàng nói với Bích Đào. “Ngựa nàng chọn cho ta. Chọn con chân dài, lông ngắn, không mang chuông. Ta không muốn ai nghe.”
“Vâng.”
Nàng vén rèm kiệu.
Sương thu chạm mặt. Ánh nắng chếch tây, đổ dài trên bãi cỏ. Xa xa, bìa rừng Đông Lam xanh sẫm, gió lùa qua tán lá kêu như tiếng ai đó thổi tù rất khẽ.
Nàng bước một bước. Chân chạm cỏ, cỏ khô kêu khẽ.
Nàng bước bước thứ hai. Đầu ngoảnh nhìn đài cao. Vua đang uống rượu, không để ý. Thị vệ hộ giá quay lưng về phía kiệu. Không ai thấy Túc vương phi vừa xuống kiệu, chân đi giày thêu, tay cầm trâm bạc, mắt sáng như hai đốm than mới đỏ.
Bích Đào theo sau, tay xách vạt váy.
Đi năm bước, nàng nghe từ bìa rừng phía đông vọng ra một tiếng gì đó rất khẽ. Không phải tiếng thú. Không phải tiếng cung. Là tiếng đao chạm đao lần đầu. Rất mỏng. Rất nhanh. Rất giống tiếng nắp quan tài đóng lại.
Nàng ngoảnh về phía Bích Đào. Giọng nàng không run.
“Đi theo ta. Túc vương gặp phục kích.”