Đêm Tân Hôn Ta Thiêu Cả Vương Phủ
Chương 20: Về Kinh
Tay Uyển Ngôn còn ấm chỗ gõ vào lòng bàn tay hắn.
Đèn dầu trong lều trại cháy leo lét. Ngoài kia, sương thu đã dày, phủ trắng cả gốc thông. Túc vương nhắm mắt, mặt hắn tái nhưng thở đều. Nàng ngồi bên giường, không nhúc nhích, sợ động vào vết thương bên ngực trái.
Nửa canh giờ trước nàng nói ra tất cả. Chuyện trọng sinh. Chuyện áo cưới đỏ. Chuyện canh ba năm ấy. Nói xong, nàng nghĩ mình sẽ khóc. Kết cục không. Chỉ thấy trong người trống trải, như một cái bình vừa đổ hết nước.
Bích Đào bước vào rất nhẹ. Cầm chậu nước ấm. Nhìn nàng, rồi nhìn người trên giường. Không hỏi câu nào.
“Bích Đào.” Uyển Ngôn nói, giọng khàn. “Sáng mai ta cần bút mực. Tấu báo về triều.”
“Vâng, vương phi.”
“Ngươi ra ngoài đứng canh. Không cho ai vào.”
Bích Đào cúi mình lui ra. Cửa lều khép kín. Chỉ còn tiếng thở của Túc vương, và tiếng gió đêm cào vào vách bạt.
Uyển Ngôn cúi đầu. Nhìn tay hắn đang đặt hờ trên chăn. Bàn tay ấy vừa được nàng gõ vào. Ba tiếng. Mỗi tiếng một đáp: ta trọng sinh, ta nói thật, ta chọn ngài.
Nàng đưa tay lên, chần chờ, rồi rụt về. Chưa đến lúc.
Trời sáng, sương chưa tan. Uyển Ngôn ngồi trước bàn nhỏ trong lều bên, viết tấu báo. Từng chữ nàng cân đo như đong thóc.
Thần thiếp Uyển Ngôn kính bẩm bệ hạ. Đêm mười bốn tháng chín, Túc vương phò giá đại săn ngoài thành, không may chạm mặt sơn tặc tại rừng Bắc Hà Xuyên. Vương gia trúng đao ngực trái, tổn thương gân cốt. Y sư kê thang, cần dưỡng tối thiểu mười lăm ngày trong trại săn, không thể di chuyển đường dài. Thần thiếp kính xin bệ hạ chuẩn cho vương gia ở lại dưỡng thương, xin miễn triều bái trong thời gian trên.
Nàng đọc lại. Xoá. Viết lại.
Không nói “thích khách” mà nói “sơn tặc”. Không đề “phục kích” mà đề “chạm mặt”. Không nói ai điều tra. Chỉ nói vương gia bị thương, cần nghỉ.
Nói ít thì kẻ đọc phải tự đoán nhiều. Nói nhiều thì kẻ đọc biết mình đang che.
Nàng gấp tấu. Đóng dấu Túc vương phi. Giao Bích Đào chuyển ra kinh bằng ngựa nhanh.
Chiều hôm ấy, Túc vương tỉnh.
Hắn mở mắt, thấy trần lều bạt đen. Nghe tiếng lửa nổ nhỏ trong hoả lò. Quay đầu, thấy Uyển Ngôn ngồi bên, đang gấp một tấm khăn.
“Nàng còn ở đây.”
“Ta đâu về được.” Uyển Ngôn không ngước lên. “Ngài chưa dậy nổi.”
Hắn cười khẽ, mà cười cũng làm bên ngực rít lên đau. “Ta tưởng nàng nói xong sẽ đi.”
“Ta đâu ngu.”
Hắn nhìn nàng. Đôi mắt dài, hơi mòn, nhưng vẫn sắc. “Nói đi. Ta muốn nghe thêm.”
“Ngài đang thương. Nghe làm gì cho phí sức.”
“Chính vì đang thương nên mới muốn nghe. Người thương thì không giả được.”
Uyển Ngôn ngừng tay gấp khăn. Ngước lên nhìn hắn. “Ngài muốn biết gì?”
“Cái ta chưa hỏi hôm qua. Kiếp trước ta thiêu nàng vào canh mấy?”
Câu hỏi rơi giữa lều như một viên đá lạnh.
Nàng im một hồi. Rồi nói: “Canh ba. Đúng canh ba.”
“Ta khoá cửa trước hay sau khi châm lửa?”
“Khoá trước.”
“Nàng có kịp gọi ta không?”
“Kịp. Ta gọi hai tiếng. Ngài không quay lại.”
Túc vương nhắm mắt. Rất lâu. Uyển Ngôn không giục.
Cuối cùng hắn nói, giọng khàn: “Kiếp này nàng ngồi cạnh giường ta. Ta ngã trước, nàng đỡ. Nàng thấy có gì khác không?”
Uyển Ngôn không đáp ngay. Nàng đặt tấm khăn xuống, gấp tay trong tay. “Khác chỗ ngài hỏi ta. Kiếp trước ngài không hỏi.”
Hắn mở mắt, nhìn thẳng nàng. “Ta nợ nàng một câu hỏi ấy.”
“Ngài chưa nợ ta gì cả.”
“Nàng dối lòng.”
Nàng cười. Cười rất khẽ. “Ta dối cả kiếp. Thêm câu nữa cũng không sao.”
Ba ngày sau, kinh thành hồi âm.
Vua chuẩn cho Túc vương ở lại trại săn dưỡng thương mười lăm ngày. Ban thêm hai y sư ngự dụng cùng thuốc bổ. Câu cuối chỉ vắn: Chờ vương gia hồi phục, về triều bái kiến.
Không hỏi thích khách, không hỏi kẻ chủ mưu. Vua chỉ nói “chờ”.
Uyển Ngôn đọc chỉ, đưa cho Túc vương xem. Hắn liếc một dòng, cười lạt.
“Bệ hạ nhàn nhã ghê.”
“Ngài nghĩ bệ hạ biết?”
“Không biết cụ thể. Nhưng đoán được đại khái. Bệ hạ không hỏi, tức là bệ hạ không muốn ta khai.”
“Vì kẻ chủ mưu là ai đó ngài không muốn ta chỉ ra?”
Túc vương nhìn nàng một cái. Ánh mắt hắn có chút gì đó thoáng giật, rồi tan.
“Nàng thông minh quá, Uyển Ngôn. Ta đôi khi quên nàng mới mười bảy.”
“Mười bảy, nhưng đã hai lượt sống.” Nàng nói bình thản. “Ngài không cần thương ta như thương một cô gái mười bảy.”
Bốn ngày. Bảy ngày. Mười ngày.
Túc vương hồi phục chậm. Vết đao vào ngực trái đứt hai đường gân nhỏ, y sư khuyên nằm nhiều, đừng gắng. Hắn không nghe hoàn toàn. Sáng nào cũng ngồi dậy nửa canh giờ, nghe Uyển Ngôn đọc mấy tấu văn.
Nàng đọc chậm. Đọc rõ. Cố ý bỏ qua các từ chính trị hắn mệt nghe, nhấn vào tên người và địa danh. Hắn nhắm mắt nghe, đôi khi gật, đôi khi lắc đầu bảo đọc lại đoạn nào đó.
Đêm nào Uyển Ngôn cũng tự thay băng cho hắn. Bích Đào từng xin làm hộ, nàng gạt tay đi. Vết thương chỗ ngực nhạy, người lạ chạm không được. Nàng đã học băng bó từ mẹ ruột khi lên tám. Mẹ nàng nói: “Ngôn Ngôn, con gái nhà quan mà biết băng vết dao, mẹ không dạy dư đâu.” Ngày ấy nàng không hiểu. Nay nàng hiểu. Mẹ nàng đã biết đường sau này có ngày phải dùng.
Nước ấm. Rượu trắng. Bông vải. Thuốc dán. Từng lượt băng nàng cuốn quanh ngực hắn, không nhìn hắn. Chỉ nhìn vải. Hắn nằm im, thở nhẹ, không nói câu nào. Cứ ba đêm một lần. Cứ vậy, mười đêm trôi qua.
Trại săn im ả. Bên ngoài lều bạt lớn của Túc vương là hai vòng thị vệ. Bên trong, chỉ có Uyển Ngôn, Bích Đào, và một tiểu đồng chỉ mang trà. Không cho ai khác.
Điều kỳ lạ nàng nhận ra đêm thứ chín: nửa tháng ở trại, không một chữ nào từ Trấn phủ.
Không thư hỏi thăm. Không đồ thăm bệnh. Không mấy dòng “mẹ nghe con dâu vất vả, gửi con miếng nhân sâm”. Ninh phu nhân im như tờ. Cha nàng im như tờ. Nguyệt Nhi im như tờ.
Cả Trấn phủ im như tờ, giữa lúc con gái út đi phò chồng bị thích khách phục kích.
Nàng đưa chuyện này với Túc vương đêm thứ mười. Hắn nghe, nhắm mắt, im. Rồi nói: “Kẻ im tiếng đang chuẩn bị chuyện lớn.”
Đêm thứ mười một, hai người bàn.
Túc vương ngồi tựa gối. Uyển Ngôn ngồi ghế thấp, tay cầm cây bút than, vẽ những vòng tròn nối nhau trên giấy.
“Nguyệt Nhi.” Nàng nói. “Đây là vòng trong cùng. Tay trực tiếp cài phong thư. Tay trực tiếp mời rượu cung yến. Tay trực tiếp gửi Đông Cung tài lệnh.”
Nàng vẽ vòng thứ hai. “Ninh phu nhân. Tay dạy Nguyệt Nhi. Tay dựng cả kế hoạch. Cả hai mẹ con là mắt xích trung gian.”
Vòng thứ ba. Lớn. Xa. “Kẻ đứng sau. Đông Cung.”
Túc vương gật.
Nàng viết thêm một dấu chấm ngoài vòng ba. Cách hẳn. “Và một kẻ nữa. Trong triều. Cao chức.”
Túc vương mở mắt. “Nàng đoán được ai?”
“Ta không đoán được tên. Nhưng ta biết có. Vì Đông Cung một mình không đủ sức thuê thích khách vào rừng săn của bệ hạ. Phải có kẻ mở đường trong đội thị vệ hoàng gia. Phải có kẻ ém chuyện đội tuần rừng đêm ấy. Không phải Đông Cung tự làm được.”
Hắn im. Nàng biết hắn đã có tên. Hắn không nói.
“Ngài không tin ta?”
“Ta tin. Chỉ chưa muốn nàng biết. Biết tên ấy sớm quá, nàng sẽ chú ý. Người trong triều nhìn nàng, sẽ thấy nàng chú ý. Rồi họ biết ta đã cho nàng biết.”
“Ngài cẩn thận quá.”
“Ta phải cẩn thận. Nàng đã chết một lần vì ta không cẩn thận.”
Câu này rơi nhẹ. Nhưng rơi trúng.
Uyển Ngôn cúi đầu, tiếp tục vẽ vòng tròn. Không nói gì thêm.
Nửa canh giờ sau, khi nàng chuẩn bị đứng lên đi ngủ, hắn gọi khẽ.
“Uyển Ngôn.”
“Vâng.”
“Hai vòng trong cùng: Nguyệt Nhi và Ninh phu nhân. Ta muốn nàng dọn trước. Đông Cung để ta lo. Kẻ trong triều để ta lo. Nhưng Trấn phủ, nàng phải tự tay dọn.”
Nàng nhìn hắn. “Ngài giao cho ta cả Trấn phủ?”
“Ta giao cho nàng chỗ nàng nợ. Nợ mẹ nàng. Nợ chính nàng. Ta lấy đi coi như ta cướp.”
Uyển Ngôn im lặng một lúc. Rồi cúi đầu rất khẽ. “Ta nhận.”
Đêm thứ mười ba, có khách.
Diệp Kính, Đông Cung thái tử, cưỡi ngựa dẫn hai thị vệ đến trại săn “thăm hỏi hoàng thúc”. Đây là lần thứ ba trong nửa tháng.
Uyển Ngôn nghe báo, đứng trong lều bên, không ra ngay. Nàng chỉnh trang tóc, thay bộ áo lụa sương màu tro. Không diêm dúa. Không lộng lẫy. Đúng dáng một vương phi đang chăm chồng bệnh.
Nàng bước ra khi Diệp Kính vừa xuống ngựa. Cúi đầu chào đúng lễ. “Điện hạ đường xa vất vả. Vương gia đang ngủ, thần thiếp thay mặt tạ lễ.”
Diệp Kính nhìn nàng. Cười nhẹ. “Chị dâu nói năng vẫn giữ lễ. Đệ nghe nói hoàng thúc bị thương nặng, không yên tâm, tự đến xem thử.”
“Đa tạ điện hạ có lòng. Vương gia đã bớt, ba ngày nữa có thể dậy đi lại chút. Chỉ chưa nói chuyện dài được. Nếu điện hạ vội, để thần thiếp thay lời thưa hộ.”
“Không vội.” Diệp Kính vẫn cười. “Đệ mang chút trà quý bệ hạ thưởng, muốn tự tay đưa cho hoàng thúc. Đệ đợi được.”
Uyển Ngôn cúi mình. “Vậy xin điện hạ theo thần thiếp. Chỗ trà nghỉ đây.”
Nàng dẫn Diệp Kính vào một cái lều nhỏ dùng để tiếp khách. Không dẫn vào lều Túc vương. Cửa lều bên kia, hai thị vệ đứng gác, tay đặt hờ chuôi kiếm.
Trà bày ra. Uyển Ngôn tự tay rót, đưa Diệp Kính chén trước. Nàng biết trà quý bệ hạ thưởng chưa chắc là trà quý. Nhưng nàng không nói ra. Chỉ đưa. Chỉ mời.
Diệp Kính nhấp một ngụm. Đặt xuống. “Chị dâu, đệ có chuyện muốn hỏi thẳng.”
“Điện hạ cứ hỏi.”
“Đêm rừng ấy, hoàng thúc có nhớ được kẻ nào không?”
“Vương gia nói kẻ chết trong rừng, thị vệ đã kiểm thi. Bốn tên đều xăm hoa hồng bên vai trái. Sát thủ mướn của phường Long Nhai. Bệ hạ đã ban lệnh điều tra.”
“Long Nhai.” Diệp Kính lặp lại chậm. “Đệ có nghe. Bọn ấy nhận việc từ bất kỳ ai chi vàng. Khó truy chủ mưu.”
“Vâng. Ta cũng nghe vậy.” Uyển Ngôn cười nhạt. “Nên vương gia mới nói: bệ hạ ban lệnh điều tra, mà tra ba tháng chưa chắc ra.”
Diệp Kính nhìn nàng. Ánh mắt hắn đọng lại một khoảnh khắc trên đôi mắt nàng, rồi trượt xuống chén trà.
“Chị dâu thông tường sự đời.”
“Thần thiếp học từ vương gia. Còn non nớt.”
Nói tới đây, không ai nói thêm. Diệp Kính uống hết chén trà, đứng dậy cáo từ. Trước khi ra, hắn quay lại nhìn cái lều lớn phía sau lưng nàng.
“Nhắn hoàng thúc: đệ chúc hoàng thúc mau khoẻ. Đế đô còn chờ hoàng thúc về.”
“Thần thiếp xin nhớ.”
Ngựa Diệp Kính đi xa. Uyển Ngôn đứng nhìn đến khi bụi thu tan trên đường, mới quay vào.
Túc vương đang ngồi tựa gối, đã tỉnh. Nghe thấy hết.
“Nàng đối được với nó.” Hắn nói.
“Ta chỉ đưa trà. Ta chưa đối gì.”
“Đưa trà là đối. Nàng không rót nhiều, không rót ít, không thêm câu chuyện, không giữ nó ngồi lâu. Nàng đưa nó đi mà nó tưởng nó đi vì nó muốn.”
Uyển Ngôn không cười. Nàng bước tới bàn, rót nước ấm cho hắn. “Ba lần rồi. Ba lần Diệp Kính tới đây. Không phải thăm hỏi. Là để xem ngài đã chết hay chưa.”
“Ta biết.”
“Ngài không giận?”
“Giận không giết được ai. Chỉ có ăn miếng trả miếng mới giết được.”
Uyển Ngôn nhìn hắn. Câu ấy đúng thứ nàng nghĩ suốt mười ngày qua.
Ngày mười lăm, Túc vương có thể ngồi ngựa nửa canh giờ. Y sư gật đầu cho phép về kinh, với điều kiện đi chậm, nghỉ chặng.
Uyển Ngôn thu xếp trại. Hai người bàn tối lần cuối.
“Về kinh, ta không ra mặt vội.” Túc vương nói. “Ta xin bệ hạ cho nghỉ thêm nửa tháng dưỡng ở phủ. Nàng thay ta gặp mấy quan thân tín.”
“Ta sẽ đi Trấn phủ trước.”
“Nàng còn tính về nhà mẹ?”
“Không phải thăm. Ta cần nhìn Ninh phu nhân với đôi mắt sau lần rừng này. Nàng ta chắc chắn đã biết. Nàng ta sẽ có phản ứng. Ta muốn xem phản ứng ấy trước khi nàng ta kịp lo dựng vẻ mặt.”
“Nàng cẩn thận.”
“Bích Đào theo ta.”
Túc vương lặng một hồi. “Uyển Ngôn.”
“Vâng.”
“Nếu Trấn phủ có gì lạ, đừng gồng. Về Túc phủ. Ta đợi nàng.”
Nàng nhìn hắn. Câu ấy nàng đợi từ đêm mười một, không đợi được. Nay hắn tự nói ra.
“Ta nghe.”
Đêm cuối cùng ở trại, nàng thay băng cho hắn lần cuối. Vết đao đã khép, chỉ còn đường da hồng, sau này sẽ thành sẹo dài. Sẹo mới thêm vào tay hắn cũ có một cái. Nay ngực hắn thêm một cái. Nàng cuốn băng lần cuối, thắt gọn. Hắn nhìn nàng.
“Nàng học băng ở đâu?”
“Mẹ ta.”
“Mẹ nàng biết y?”
“Mẹ ta biết đủ để một người mẹ dạy con gái không bị chết dễ dàng.”
Hắn im. Rồi nói, rất nhẹ: “Ta muốn gặp mẹ nàng một ngày. Nếu được.”
Uyển Ngôn cắn môi. “Ngài sẽ gặp. Trên bàn thờ Vân di nương ở Trấn phủ. Ngài đi cùng ta ngày cúng giỗ.”
“Được.”
Kiệu về kinh mất ba ngày.
Ngày đầu đi chậm. Túc vương ngồi kiệu lớn, có y sư cùng. Uyển Ngôn ngồi kiệu nhỏ theo sau. Đường lá thu đã rụng nhiều, sương buổi sáng đọng trên mui kiệu, nhỏ thành giọt xuống áo lụa. Nàng ngồi trong kiệu, tay đặt lên đầu gối, mắt nhìn ra khe rèm. Cây bên đường trơ cành, gió xoáy lá vàng theo bánh xe.
Trong bụng nàng có ba chuyện đang đè. Một: kẻ trong triều Túc vương chưa chịu nói tên. Hai: Đông Cung sẽ ra tay tiếp, sớm muộn, sau khi biết Túc vương không chết. Ba: Trấn phủ nửa tháng im như tờ.
Chuyện thứ ba đè nặng nhất.
Ngày thứ hai, mưa. Đoàn dừng lại nhà trạm. Uyển Ngôn ngồi bên cửa sổ, nhìn mưa đập trên tàu lá chuối. Trong lòng nàng vẫn thấy trống. Cái trống từ đêm nói ra sự thật vẫn chưa được lấp. Nhưng có một chỗ khác đã đầy: chỗ nàng đứng trong cái vòng tròn Túc vương giao. Trấn phủ. Ninh phu nhân. Nguyệt Nhi.
Nàng nghĩ đến câu mẹ ruột từng dặn trước khi chết: “Người ta gieo gió, con gặt đừng gieo bão. Nhưng nếu không tránh được, thì gặt gió thôi.”
Ngày ấy nàng nghe không hiểu. Nay nàng hiểu: Ninh phu nhân đã gieo gió. Nàng không định gieo bão. Nhưng nàng sẽ gặt đủ, không thừa không thiếu. Trắng đen phải rõ.
Ngày thứ ba, chiều tà. Kiệu vào cổng nam kinh thành. Trường An buổi chiều thu, mái ngói thẫm lại dưới nắng nghiêng, mùi thịt nướng bay từ mấy dãy phố hàng ăn. Bình thường. Bận rộn. Không ai biết đêm rừng vừa qua.
Uyển Ngôn thở ra một hơi nhẹ. Về đến rồi.
Kiệu đến cổng Túc vương phủ. Thị vệ mở cổng, cúi mình đón. Bích Đào chờ sẵn ở bậc thềm, tay ôm áo choàng ấm cho vương phi.
Nàng ta tái mặt.
Uyển Ngôn bước xuống kiệu. Chân vừa chạm đất, đã thấy sắc mặt Bích Đào. Trong nghề hầu, nha hoàn không bao giờ để lộ sắc mặt trước khi thưa. Bích Đào để lộ, nghĩa là chuyện đủ nặng để lễ nghi không giữ được nữa.
“Vương phi.” Bích Đào nói, giọng khẽ đến mức Uyển Ngôn phải cúi xuống mới nghe rõ. “Có tin từ Trấn phủ. Từ sáng nay. Chủ nhân… Trấn công… ngã bệnh nặng. Y sư vào ba lượt, chưa dám khẳng định sống được qua tháng.”
Uyển Ngôn khựng lại một giây.
Chỉ một giây.
Rồi nàng đặt tay lên vai Bích Đào, siết. Áo choàng ấm rơi xuống đất. Trong đầu nàng, cái vòng tròn nàng vẽ trên giấy đêm mười một hiện lên rõ mồn một: Nguyệt Nhi, Ninh phu nhân, Đông Cung, và cái dấu chấm chưa có tên.
Ninh phu nhân đã ra tay.
Không phải với nàng.
Với cha nàng.