Hoài Cổ Truyện

Đêm Tân Hôn Ta Thiêu Cả Vương Phủ

Chương 22: Đông Bí Lâu

Cha thiếp đi. Bàn tay ông vẫn còn nắm lấy tay ta, nhưng lực đã tan.

Ba chữ “Đông Bí Lâu” như còn phả hơi ấm trong lòng bàn tay ta.

Ta ngồi bất động. Ngoài cửa, sương thu đọng trên tán cây già, rơi từng giọt xuống hiên gạch. Cứ mỗi giọt rơi, ta lại nghe lòng mình rúng một cái.

Ninh phu nhân đứng đầu giường. Khăn tay chấm khoé mắt, ra vẻ đau lòng. Ta không tin. Nước mắt của người ấy là thứ mua rẻ nhất trong Trấn phủ, khi nào cần thì có, không cần thì cất đi như cất một cái quạt.

“Ngôn Ngôn.” Bà ta hạ giọng, mượt như tơ. “Cha con vừa mê sảng, có nói gì với con không?”

Ta ngước lên. Mắt ta khô rang. Một giọt cũng không có. Ta đã khóc đủ ở kiếp trước, đến kiếp này nước mắt đã cháy thành tro.

“Cha nói…” Ta thấp giọng. “Nhớ mẹ con. Nói người có lỗi.”

Ninh phu nhân dừng khăn giữa má. Bà ta rất giỏi diễn, đóng vai từ ái đến mức người ngoài nhìn qua chỉ thấy một quả phụ hiền lành. Nhưng ta đã sống một kiếp bên bà ta. Ta biết đâu là cơ bắp giật, đâu là mắt chuyển. Mí trái bà ta khẽ giật một cái. Chỉ một cái. Rồi trở về vẻ trầm mặc.

Ta cúi đầu, giả vờ không thấy.

“Con… đau lòng quá.” Ta nói. “Con ra ngoài hít khí một lát.”

Bà ta gật, tiễn ta bằng cái nhìn ta không thấy nhưng cảm được sau lưng. Ta đi ra hành lang, dựa cột. Sương đêm luồn qua ống tay áo, lạnh buốt. Ta khép mắt.

“Đông Bí Lâu”… “ba mười lăm”…

Trong đầu ta, hai mảnh giáp cuối cùng khớp lại.

Kiếp trước ta chưa bao giờ nghe mẹ nói về Đông Bí Lâu. Cha ta cũng chưa từng nhắc. Nơi ấy là thư phòng kín ở góc tây Trấn phủ, chỉ cha và Ninh phu nhân có chìa. Ngay cả các anh em họ nhà Tô cũng không ai bước vào được. Gia nhân trong phủ gọi đó là “chỗ ngồi của lão gia”, đùa rằng muốn vào phải xin ba tuần.

Nhưng hôm nay, cha ta trong cơn mê man, tay run run, kéo ta lại gần, thốt ra ba chữ ấy.

Mà trong hộp trang sức của mẹ ta, mảnh giấy nhỏ ghi hai chữ số… ba, mười lăm… vẫn còn nằm gọn trong ống tay áo ta.

Kệ thứ ba. Cuốn sách thứ mười lăm.

Ta mở mắt. Trăng khuya đã lên đến đỉnh mái. Trong đầu ta, tự hồi lâu, đã có một cái quyết định.

Ta gọi Bích Đào.

Nàng ta bước tới, thấp giọng. “Vương phi.”

“Nửa canh nữa, gặp ta ở hậu viện. Mang một cái đèn nhỏ, cửa che kín. Không được để ai biết.”

Bích Đào nhìn ta, hỏi bằng mắt. Ta lắc đầu. “Chuyện đêm nay, xong rồi ta kể.” Nàng ta gật, không hỏi thêm.

Kiếp trước, Bích Đào là người duy nhất theo ta đến cùng. Kiếp này, ta cho nàng biết vừa đủ, không hơn. Biết nhiều là gánh nặng, ta không muốn nàng ta gánh thay ta.

Ta về phòng cũ trong Trấn phủ, thay ra một bộ áo lụa xẫm màu. Áo sáng và trang phục cưới, ta không đụng đến. Đêm nay ta không đi khoe. Đêm nay ta đi lấy về một thứ mẹ để lại.

Trước khi ra, ta mở hộp trang sức mẹ. Cái hộp khảm trai lấp lánh dưới đèn dầu, bụng hộp lót lụa đỏ đã bạc màu, các ngăn nhỏ xếp thành hình chữ điền, mỗi ngăn một mảnh ký ức. Ta chạm nhẹ vào mảnh trâm bạc hoa mai đang nằm giữa. Trâm mẹ. Kỷ vật cuối cùng còn giữ được. Ta khép hộp lại, đặt lên bàn.

Bộ 2 hộp trang sức khảm trai

Bộ 2 hộp trang sức khảm trai

350.000đ

Xem chi tiết →

Ba chữ “Đông Bí Lâu” và ba mảnh khác đã chờ ta cả một kiếp trong lòng hộp này.

Ta ra hậu viện. Bích Đào chờ sẵn, đèn nhỏ giấu trong ống tay. Trăng xế qua bên trái, gió thu lay lá ngô đồng, kêu rào rào như đang che tiếng chân người.

“Đi đường phòng sách.” Ta thấp giọng. “Không qua sân trong. Có chó.”

Bích Đào gật.

Chúng ta đi men theo hành lang tây. Tường Trấn phủ dày, gạch cũ, đêm khuya vắng đến độ ta nghe rõ tim mình đập.

Đông Bí Lâu ở cuối một con ngõ đá, ba bậc thềm cao hơn các gian khác. Cửa gỗ nặng, ổ khoá đồng lớn.

Ta không có chìa.

Nhưng ta có một thứ khác. Kiếp trước, năm ta tám tuổi, mẹ ta còn sống, có lần ta thấy cha giấu một chìa dự phòng dưới viên gạch lỏng ở bậc thềm thứ hai. Lúc đó ta không hiểu ý nghĩa. Kiếp này ta hiểu, ký ức nhỏ nhặt cũng có ngày dùng.

Ta ngồi xuống, đưa tay dò dò dưới bậc. Viên gạch bên trái vẫn lỏng. Ta khẽ nhấc lên. Bên dưới, một chìa đồng cũ nằm gọn, phủ bụi.

Bích Đào há miệng, không nói.

“Đứng canh ngoài.” Ta bảo. “Nếu có người, ho hai tiếng.”

Nàng ta gật.

Ta tra chìa vào ổ khoá. Một tiếng “cách” khô. Cửa mở.

Trong Đông Bí Lâu, không khí đặc mùi mực và giấy cũ. Kệ sách chạy dài lên đến trần, chia thành nhiều tầng, mỗi tầng đánh số bằng chữ chân phương trên gỗ. Ta thắp đèn, che kỹ hai bên, chỉ để lộ một chút sáng phía trước.

Kệ một. Kệ hai. Kệ ba.

Ta dừng lại trước kệ ba. Sách xếp thẳng tắp, gáy hướng ra. Ta đếm.

Một… hai… ba… mười ba… mười bốn… mười lăm.

Cuốn sách thứ mười lăm, một tập thơ Đường in mộc bản, gáy màu vàng nhạt, không có gì đặc biệt.

Ta rút ra.

Sau lưng cuốn sách, kệ gỗ có một khoảng lõm nhỏ. Trong lõm ấy, một bức thư gấp vuông vắn, bọc lụa xanh đã ngả vàng.

Tay ta run.

Ta cầm bức thư ấy lên. Nhẹ hơn ta tưởng. Nhưng nặng hơn tất cả những gì ta từng cầm trong hai kiếp cộng lại.

Ta ngồi bệt xuống nền gỗ. Đặt đèn bên cạnh. Mở bức thư ra.

Chữ mẹ.

Nét chữ mẹ ta, mềm mại nhưng có cốt. Kiếp trước ta nhìn nét chữ ấy mỗi ngày trên chép thơ mẹ dạy. Kiếp này, đã chín năm ta chưa được nhìn.

“Ngôn Ngôn con thân yêu…”

Ta cúi mặt. Không được khóc. Chưa được khóc. Ta hít một hơi thật sâu, giữ giọt nước mắt lại trong họng.

Đọc.

“Ngôn Ngôn con thân yêu, nếu con đọc được bức thư này, mẹ đã không còn. Mẹ không mất vì bệnh như phủ đồn đâu, con ơi. Mẹ mất vì băng huyết, sau khi bị ép uống chén thuốc thứ ba mà bà ấy nói là an thai.”

Ta đọc chậm. Từng chữ.

“Mẹ mang thai lần thứ hai. Cha con chưa biết. Mẹ định qua tháng thứ tư sẽ nói, vì lần đầu mẹ bị sảy sớm, không muốn cha vui rồi lại buồn. Nhưng bà ấy biết trước cha. Không rõ bằng cách nào.”

“Ba ngày liền, bà ấy đưa thuốc đến, nói là an thai. Đi cùng bà ấy có một nữ y đứng chờ, mẹ không dám không uống. Ngày thứ ba, uống xong nửa canh giờ, bụng mẹ đau như xé. Mẹ biết. Đến lúc ấy mẹ biết, thuốc đó không phải an thai. Đó là thuốc phá.”

Ta đặt bức thư xuống, khép mắt. Cổ ta nghẹn.

Mẹ ta chết vì băng huyết. Mẹ ta không được cứu. Cả phủ, kể cả cha ta, đều tin bà là bệnh cũ tái phát. Chín năm nay không một ai nghi ngờ. Chín năm nay ta để tang mẹ, mà không biết mẹ tang mình còn oan hơn cả tang.

Ta mở mắt, đọc tiếp.

“Con ơi, mẹ không có sức viết dài. Bút mẹ tê rồi. Nhưng mẹ phải để lại cho con một điều nữa, nếu con lớn lên đủ để đọc thứ này. Con hãy nhớ.”

Ta cầm bức thư chặt hơn.

“Nguyệt Nhi… không phải con ruột của cha con.”

Ta dừng.

Cả gian Đông Bí Lâu đột nhiên yên đến độ ta nghe rõ tiếng đèn cháy. Cả người ta lặng đi. Máu ta như dừng chảy nửa nhịp, rồi dội trở lại tai, ù đặc.

Ta đọc lại. Chín chữ. Không sai một chữ.

“Nguyệt Nhi… không phải con ruột của cha con. Bà ấy vào Trấn phủ khi đã có mang, giấu ba tháng đầu. Ngày Nguyệt Nhi sinh, phủ nhận là non tháng. Mẹ biết, vì mẹ ở cùng phủ, mẹ đếm từng ngày. Nhưng mẹ không có bằng chứng, con ơi. Mẹ chỉ có mắt của mẹ. Nếu một ngày con có sức, con hãy đào lên. Đừng để nàng ta lớn lên trong phủ cha con mà thừa hưởng huyết mạch của một người không phải nhà Tô.”

Bức thư đến đây thì chữ nghiêng dần, chữ cuối cùng nhoè đi. Có một vệt ngón tay, dài, đỏ nhạt, hằn lên góc giấy. Máu mẹ ta.

Ta không kịp giữ nữa. Một giọt nước mắt ta rơi xuống bức thư, hoà vào vết máu chín năm cũ. Một giọt. Không hơn. Ta không cho phép mình khóc thêm.

“Mẹ.”

Ta gọi khẽ. Không có ai đáp. Chỉ có ngọn đèn nhỏ đang cháy, và mùi mực xưa cũ trong không khí.

Mẹ ta chết oan. Mẹ ta để lại cho ta một bức thư viết bằng tay run và một câu ám ngữ dài chín năm. Chín năm ấy Nguyệt Nhi đã lớn lên trong Trấn phủ, ăn cơm nhà họ Tô, gọi cha ta là cha; và khi ta cưới về Túc phủ, chính nàng ta lén tay đặt phong thư dưới gối để đứa con… của kẻ khác… được yên vị.

Ta cười. Cái cười khô. Cười đến tê môi.

“Nàng ta…” Ta thấp giọng. “Không phải chị của ta. Không phải máu của cha ta. Không phải người của Trấn phủ.”

Một mảnh đá lớn nằm trong ngực ta chín năm nay tan ra. Rồi thay vào chỗ ấy, một khối lửa khác thắp lên. Lạnh. Trắng.

Kiếp trước Nguyệt Nhi vu ta. Ta chết trong áo cưới, trong lửa. Ta tưởng đó là ganh ghét chị em. Ta trách mình đã không sớm phòng nàng ta.

Kiếp này ta biết rồi. Nàng ta vu ta không phải vì ganh ghét. Nàng ta vu ta vì huyết. Vì gốc gác nàng ta là Đông Cung phái cũ. Vì mẹ nàng ta cần Nguyệt Nhi làm cầu bắc sang Đông Cung. Vì trong huyết quản nàng ta không có nửa giọt máu nào của cha ta.

Ta đâu phải chỉ đối đầu với một Tô Nguyệt Nhi cạnh tranh chị em. Ta đối đầu với một đứa con ngoại thất được nuôi trong Trấn phủ chín năm để một ngày kia mở cửa cho phái phản.

Ta ngồi im, tay còn cầm bức thư. Đèn dầu cháy, ánh vàng in lên gạch cũ. Đâu đó rất xa, tiếng gà gáy canh đầu.

“Vương phi.”

Bích Đào thấp giọng ngoài cửa. “Vương phi, có tiếng chân từ sân trong.”

Ta bừng tỉnh. Bàn tay ta bấm mạnh vào lụa xanh, gấp nhanh bức thư, đặt vào ngực áo, sát ngay chỗ tim. Đứng dậy. Đầu ta còn ù. Chân ta còn tê. Nhưng ta không dám để ai bắt được ta ở đây.

Ta xếp cuốn thơ Đường trở về vị trí cũ. Xoay gáy sách sao cho không lệch một ly so với lúc ta rút ra. Kệ ba, sách mười lăm. Sách trả về, bí mật trả về, chỉ có ta mang đi thứ mẹ để lại.

Ta thổi tắt đèn. Ra cửa. Khoá lại. Đặt chìa đồng vào chỗ cũ dưới viên gạch lỏng bậc thềm thứ hai. Nhấn nhẹ. Viên gạch nằm im như chưa hề bị nhấc.

Bích Đào đứng chờ dưới bóng cây ngô đồng, mắt tròn. “Vương phi ổn không?”

Ta không trả lời. Không có sức trả lời.

Chúng ta đi vòng đường sau, không qua sân trong. Có ai đó vừa đi ngang phía đông. Bóng người mờ trong sương. Áo màu tối, đèn không mang. Không phải gia nhân đi tuần. Người trong Trấn phủ không đi tuần vào canh hai bằng cách ấy.

Ta không đứng lại. Bích Đào cũng không. Chúng ta trở về hành lang phòng ta, bước chân nhẹ như mèo bắt chuột.

Đến trước cửa phòng, ta khoá tay Bích Đào, dừng lại. “Bích Đào.”

“Vương phi?”

“Đêm nay chưa xảy ra.” Ta thấp giọng. “Không có kệ ba. Không có sách mười lăm. Không có ta ra ngoài. Ngươi hiểu.”

Bích Đào cúi đầu. “Nô tì hiểu.”

Ta đẩy cửa. Vào trong. Khép lại.

Rồi ta mới cho phép mình dựa vào cánh cửa, trượt xuống. Chân ta không còn giữ nổi ta.

Bức thư trong ngực áo còn ấm hơi tay ta. Ta lôi ra, mở dưới ánh nến bàn học. Đọc lại câu cuối. Câu chín chữ.

Nguyệt Nhi không phải con ruột của cha con.

Ta nhìn nét chữ mẹ. Nhìn vết máu khô chín năm.

Trong đầu ta, hình ảnh Nguyệt Nhi đứng ở Trấn phủ đón ta ba ngày sau cưới, mặc áo hồng nhạt, mắt xạm khi thấy ta không tổn thương… nay có thêm một tầng nghĩa. Nàng ta không xạm vì ta sống. Nàng ta xạm vì ta sống nghĩa là mẹ nàng ta thất bại lần đầu. Và mẹ nàng ta không dễ dàng thất bại lần thứ hai.

Ta lại nghĩ về Ninh phu nhân. Về đôi mắt bà ta chín năm nay đối với ta, luôn có một tầng lạnh không giấu được kỹ. Trước đây ta nghĩ bà ta lạnh vì ta là thứ nữ. Nay ta biết. Bà ta lạnh vì mỗi lần bà ta nhìn ta, bà ta nhìn thấy cái bụng mẹ ta ngày ấy, cái bụng bà ta đã hạ thủ. Ta là hoá thân của một tiếng ghê tay.

Gậy ông đập lưng ông. Câu tục ngữ ta nghe từ nhỏ, nay mới hiểu. Bà ta gieo gió chín năm, không một ngày nghĩ mình sẽ gặp bão. Bây giờ bão đang đứng ngay trong Trấn phủ, mặc áo lụa xẫm, cầm bức thư mẹ để lại.

Ta gấp lại bức thư. Cho vào một hộp gỗ nhỏ ta mang theo, khoá kỹ. Đặt hộp gỗ vào đáy hộp trang sức mẹ ta, đè bằng mảnh lụa cũ. Không ai đụng vào lụa của mẹ ta. Cả bà ta cũng không dám.

Ta thổi tắt nến bàn. Còn một cây đèn ngủ nhỏ, ta không tắt. Ánh vàng nhỏ chiếu lên góc gương.

Ta ngồi xuống bên gương. Nhìn bóng mình.

Da trắng như tuyết đầu đông. Mắt hạnh dài. Một nốt ruồi nhỏ dưới khoé mắt trái. Nốt ruồi lệ, mẹ ta gọi vậy. “Con của mẹ có nốt ruồi lệ, sau này khóc cho ai đó nhiều lắm đây.”

Kiếp trước ta khóc cho chính ta. Ta khóc trong áo cưới đỏ, khóc dưới rường vương phủ, khóc đến khi tro rơi lên môi.

Kiếp này ta không khóc nữa. Nốt ruồi lệ này, ta để dành. Nó sẽ khóc cho mẹ ta, khi đầu Nguyệt Nhi rơi. Nó sẽ khóc cho mẹ ta, khi Ninh phu nhân uống chén rượu cuối. Nó không khóc trước.

Ta chạm nhẹ tay lên trâm bạc hoa mai còn giắt trên tóc. Kim loại lạnh dưới ngón tay. Trâm mẹ. Trâm ta chọn thay cho trâm phượng vàng bà ta đưa. Trâm ta đã cắm đêm tân hôn kiếp này, thay cho cây trâm đã đâm ta chết kiếp trước.

Mẹ ơi. Con nghe rồi. Con thấy rồi. Con đọc rồi.

Con sẽ đào lên. Từng lớp một.

Ngoài cửa sổ, sương thu vẫn rơi. Trăng chếch bên tây. Còn nửa canh nữa là gà gáy canh ba.

Ta nghĩ về Túc vương phủ. Về hắn. Về câu ta phải viết cho hắn ngay khi trời sáng. Ba dòng, không hơn.

Nguyệt Nhi không phải con của cha ta. Bà ấy vào phủ đã có mang. Ta có bằng chứng chữ tay mẹ ruột.

Ba dòng này, ta biết Túc vương sẽ hiểu. Hắn sẽ biết ba dòng này mở ra được gì. Một mắt xích lớn trong lưới hắn đang giăng. Một quân cờ hắn có thể lật khi cần đánh Đông Cung.

Nhưng ba dòng này, khi ta hình dung khuôn mặt chàng lúc đọc, một cái gì đó xa xa trong ngực ta khẽ nhói. Không phải nỗi đau. Không phải giận. Một thứ khác. Một thứ ta chưa gọi tên được, và cũng chưa được phép gọi tên. Chưa đến lúc. Còn quá nhiều máu chưa đòi xong.

Ta gạt cái nhói ấy ra sau, nhét vào một ngăn nhỏ trong ngực, khoá lại. Y như cách ta khoá bức thư mẹ vào hộp trang sức.

Nhìn gương lần cuối.

Bóng trong gương không còn là Tô Uyển Ngôn ngồi trên kiệu hoa đỏ đêm rằm nữa. Không còn là Tô Uyển Ngôn cúi đầu chờ chồng trong áo cưới đỏ ngày cưới nữa. Bóng trong gương là một kẻ mang trong ngực bức thư chín năm, một mối thù chín năm, và một cái tên mới cho người ở đối diện.

Không phải chị em.

Là ngoại tộc.

Ta nhắm mắt. Trong bóng tối sau mí mắt, câu chín chữ của mẹ vang lên lần nữa, chậm và rõ.

Nguyệt Nhi… không phải con ruột của cha con.

Ta mở mắt. Trên bàn học, giấy trắng và bút. Đèn ngủ cháy êm.

Ngoài phòng, trăng đã đi hết một canh. Ba dòng gửi Túc vương phủ đang chờ ta viết. Nhưng trước khi cầm bút, ta ngồi thêm một khắc.

Chỉ một khắc.

Cho mẹ ta.

Cho ta ngày mai không được yếu nữa.

Trắng đen phải rõ. Kiếp này, phải rõ.