Hoài Cổ Truyện

Đêm Tân Hôn Ta Thiêu Cả Vương Phủ

Chương 27: Đánh Trước Một Bước

Mật báo đến vào canh hai.

Bích Đào bưng khay vào, tay run. Trên khay không có trà, chỉ có một tờ giấy gấp tư. Bốn góc đều lem mực đen như bị người cầm ướt vội.

Uyển Ngôn mở giấy. Nàng đọc bảy dòng. Tay nàng bình. Chỉ có nốt ruồi lệ dưới khoé mắt trái giật một cái rất nhỏ, rồi thôi.

Nàng đẩy tờ giấy về phía đối diện.

“Chàng đọc đi.”

Túc vương cầm. Mắt chàng lướt xuống chậm. Đến dòng thứ tư, ngón tay chàng dừng lại một nhịp. Uyển Ngôn biết dòng ấy tên ai. Lễ bộ thị lang họ Vương. Binh bộ tả thị lang họ Trần. Nội các đại thần họ Hồ. Ba người này suốt năm năm đứng sau chàng, âm thầm chống Đông Cung. Nay tên họ nằm trong tay Đông Cung, gọn lỏn như bảy giọt mực trên một tờ giấy con.

“Nguyệt Nhi giao trọn.” Uyển Ngôn nói. “Ba ngày trong Đông Cung, nàng ta không đi chọn nữ quan. Nàng ta đi đưa danh sách.”

Túc vương gấp tờ giấy lại. Không đáp.

Ngoài song có gió heo may. Gió luồn qua khe cửa, thổi tắt một ngọn nến bên nghiên mực. Bích Đào rón rén bước tới thắp lại. Ngọn lửa nhỏ chao qua chao lại. Uyển Ngôn nhìn ngọn lửa, không nhìn chàng. Nàng biết Túc vương cần một khoảng lặng ngắn trước khi mở miệng.

Chàng mở miệng vào chuông canh ba đầu.

“Ba người kia, nếu bị thanh trừng, phe ta mất một cánh tay. Nếu chỉ mất chức, phe ta vẫn còn ba cái đầu để chờ ngày phản kích. Nếu mất mạng…”

Chàng ngừng. Không nói tiếp.

Uyển Ngôn tiếp lời chàng.

“Nếu mất mạng, phe chàng mất mắt. Mất tai. Mất luôn tin. Đông Cung sẽ nuốt ba bộ trong hai tháng.”

Túc vương nhìn nàng. Đêm nay là đêm thứ ba mươi nàng ngồi trong thư phòng chàng bàn chuyện triều. Ánh mắt chàng đã không còn xa lạ với cái sắc bén của nàng. Nhưng đêm nay, khi nàng nói “phe chàng” thay vì “phe ngài”, chàng khẽ động một cái ở khoé môi.

“Nàng nhìn nhanh hơn ta.” Chàng nói. “Cứ tiếp.”

“Vấn đề là thời điểm.” Uyển Ngôn cầm chén trà bên tay, không uống, chỉ ấm ngón. “Đông Cung không thanh trừng ngay đêm nay. Vì bây giờ thanh trừng ba người, cả triều biết là phe Đông Cung ra tay, thái hoàng thái hậu sẽ mượn cớ can. Đông Cung sẽ đợi. Có thể một tuần. Có thể một tháng. Có thể đợi đến sau lễ đại tế mùa đông, khi vua ra chiếu quang minh chính đại, họ đưa ‘chứng cứ’ vu ba người kia mưu phản. Chiếu thư của vua rớt xuống, ai cãi được.”

Chàng khẽ gõ ngón tay lên bàn.

“Vua chưa gật đầu cho ta ra tay trước. Thái hoàng thái hậu còn chần chờ. Bà chờ Đông Cung tự lộ mình. Nhưng Đông Cung không dại. Diệp Kính đứng sau bức bình phong lụa, chỉ đưa Nguyệt Nhi ra làm quân cờ đi trước. Nếu Nguyệt Nhi lộ, Đông Cung phủi sạch tay.”

Uyển Ngôn buông chén trà. Ngón tay nàng nhẹ như không, nhưng ánh nến hắt lên cổ tay nàng thấy rõ một sợi gân xanh nổi.

“Vậy ta ép Đông Cung ra tay trước.” Nàng nói.

Túc vương ngẩng đầu.

“Ép thế nào?”

Nàng đặt tay lên bàn. Lòng bàn tay ngửa. Trên da nàng có một vết bỏng nhỏ đã lành từ đêm chàng thắp nến ở chương ba. Vết bỏng chỉ nàng và chàng biết.

“Dùng nàng ta làm mồi.”

Túc vương im lặng. Bích Đào rót thêm trà, cúi đầu lui ra góc. Cả phòng chỉ còn tiếng ngọn lửa reo nhẹ.

Uyển Ngôn nói tiếp, giọng đều đều như đang kể chuyện tối vui:

“Cho Nguyệt Nhi ‘vô tình’ biết Túc phủ giấu một vật. Vật ấy phải đủ nặng để Đông Cung không cưỡng nổi lòng đoạt. Vật đủ nặng, chỉ có một loại: tín vật đế vương. Cửu Long Kỳ.”

Túc vương khựng một nhịp.

Ngón tay chàng ngừng gõ trên bàn.

“Nàng biết ta có Cửu Long Kỳ?”

“Ta không biết.” Uyển Ngôn nhìn thẳng chàng. “Ta đoán. Kiếp trước ta không sống đủ lâu để nghe. Nhưng thái hoàng thái hậu bảo hộ chàng, mà bà là người cuối cùng cầm cờ chính thống trong tay. Nếu bà không giao cờ cho chàng, bà giao cho ai? Đông Cung không phải nhánh chính thống. Chàng là. Cờ ắt ở chàng.”

Túc vương nhìn nàng thật lâu. Rồi khẽ cười. Nụ cười của chàng lạnh hơn nến, nhưng khoé môi có nhẹ một chút, rất nhẹ, mà nếu không phải Uyển Ngôn nhìn kỹ, sẽ không thấy.

“Nàng đoán trúng.”

Nàng gật.

“Vậy thì mồi có sẵn. Ta chỉ cần thả tin ra ngoài, để tin trôi đến tay Nguyệt Nhi. Nàng ta nhất định báo Đông Cung. Diệp Kính nhất định muốn đoạt. Đoạt cờ tức đột nhập vương phủ, cầm vũ khí đế vương ra khỏi tường Túc phủ. Đó là tội phản, không phải tội mưu. Vua có tha, thái hoàng thái hậu cũng không tha.”

“Cửu Long Kỳ.” Túc vương gõ hai ngón lên hông chén trà. “Nàng biết vật này quan trọng đến mức nào không? Nếu Đông Cung không cắn, ta để cờ lộ ra, chính ta chết trước.”

“Đông Cung sẽ cắn.” Uyển Ngôn nói. Giọng nàng có một tia rất mảnh, như tơ nhện căng trên gương. “Vì Diệp Kính không đợi được nữa. Vua đương triều già rồi. Sức khỏe không tốt. Diệp Kính vốn có ba tháng để ‘chờ vua thăng hà rồi lên ngôi hợp lệ’. Nhưng ba tháng ấy, chàng làm quá nhiều việc: bảo hộ vương phi trước triều, cứu khỏi ám sát ngoài thành, bắt gián điệp trong Đông Cung. Diệp Kính đang bị rút thời gian. Kẻ bị rút thời gian, không dám chờ nữa. Kẻ không dám chờ, sẽ vồ mồi ngon nhất mà chúng ta bày ra.”

“Cửu Long Kỳ là mồi ngon nhất.” Túc vương nhìn ngón tay chàng đang gõ. “Được. Coi như đường này đi được. Nhưng còn Nguyệt Nhi. Nàng ta phải ‘biết’ tin sao cho tự nhiên. Nếu tin lộ liễu quá, nàng ta sẽ nghi. Nếu tin kín quá, nàng ta không nghe được. Sao nàng thả?”

Uyển Ngôn với tay, kéo ống tay áo trở lại vị trí ngay ngắn. Rồi nàng nói, câu ngắn như cắt lụa:

“Ta thả qua Ninh phu nhân.”

Túc vương ngẩng đầu.

“Đích mẫu nàng?”

“Đúng.” Uyển Ngôn khẽ nghiêng đầu. “Từ đêm ta vạch bà ở phòng riêng, bà ngậm miệng. Nhưng bà vẫn còn một kênh cũ về Đông Cung, chưa ai chặn. Ta để bà ‘nghe lỏm’ ta viết thư báo về Trấn phủ, thư nói: ‘Túc vương phủ đêm mùng bảy sẽ di chuyển một vật, vật ấy giấu trong hầm sau thư phòng, chỉ có Túc vương và Vương phi cùng vào lấy, không cho thị vệ đi kèm.’ Ninh phu nhân sẽ báo Nguyệt Nhi qua kênh cũ. Nguyệt Nhi sẽ tự khớp với tin đã có sẵn từ Đông Cung: Túc phủ có vật lạ.”

“Ninh phu nhân, nàng dùng bà làm loa.”

“Bà nợ ta một chén rượu độc.” Uyển Ngôn nói. Giọng nàng bình. “Bà không dám không đưa loa cho ta.”

Túc vương thở ra. Rất nhẹ. Chàng đứng dậy, đi hai bước tới cửa sổ. Ngoài kia, trăng đầu tháng mảnh như nhành liễu. Chàng nhìn ra ngoài, không nhìn nàng, một hồi.

“Đêm mùng bảy.” Chàng nói. “Còn bốn ngày. Bốn ngày ta phải bày Cửu Long Kỳ vào hầm giả, dựng đường mật thám giả, chuẩn bị thái hoàng thái hậu đến trước một canh giờ. Nàng biết một khi cờ ra khỏi hộp kín, không thu về được. Nếu bốn ngày này Đông Cung không cắn, ta thân bại danh liệt.”

“Cắn.” Uyển Ngôn nói. “Diệp Kính sẽ cắn. Kiếp trước Diệp Kính chờ chàng ba năm để đoạt ngôi. Kiếp này chàng ép hắn chờ ba tháng. Hắn cắn. Nhất định.”

Túc vương quay lại. Ngón tay chàng vẫn còn giữ chút hơi lạnh của khung cửa. Chàng nhìn Uyển Ngôn. Cái nhìn ấy có gì đó Uyển Ngôn không quen. Không phải đề phòng. Không phải tin. Là một thứ nằm giữa, như đang cân, mà cân bằng một cái cân mà chàng chưa từng dùng.

“Uyển Ngôn.”

Nàng ngước lên.

“Chàng nói.”

“Nàng đang dùng chị em ruột, danh nghĩa, làm mồi.”

Uyển Ngôn không cười. Cũng không lặng. Nàng cầm chén trà đã nguội, uống một ngụm. Ngụm trà trôi xuống cổ, mát như đá.

“Nàng ta đã không phải chị em ruột ta từ khi mẹ ta chết.”

Túc vương im. Chàng đã nghe nàng nói câu này bằng nhiều biến thể khác trong ba mươi đêm qua. Nhưng đêm nay, câu này ngắn nhất, và lạnh nhất.

“Kiếp trước.” Uyển Ngôn nói, ánh nến hắt lên nốt ruồi lệ dưới khoé mắt trái của nàng thành một dấu chấm nhỏ như giọt sương thu, “Nguyệt Nhi cầm phong thư Đông Cung, luồn vào phòng tân hôn của ta, cắm dưới gối. Chị em ruột không làm thế. Ngay cả kẻ thù trong một sảnh, cũng không làm thế. Ta chỉ vừa ngủ hai canh, đã cháy trong áo cưới. Trước khi cháy, ta còn nghe tiếng nàng ta cười ngoài sân. Cười. Chị em ruột không cười khi em cháy.”

Chàng bước lại bàn. Ngồi xuống.

Chàng nói:

“Ta hiểu.”

“Không.” Uyển Ngôn lắc đầu. Rất khẽ. “Chàng chưa hiểu. Chàng chỉ đang thấy ta cứng, chàng nghĩ ta trả thù. Ta không trả thù nàng ta vì kiếp trước. Ta dùng nàng ta vì kiếp này. Nếu ta không dùng, nàng ta cũng đưa danh sách. Nếu ta không dùng, nàng ta cũng vào cung. Nếu ta không dùng, đêm mùng bảy kiếp này ta có thể nằm ngủ, nhưng đêm mùng bảy sau cũng có thể tôi cháy lần nữa. Nàng ta là mồi mà chính nàng ta muốn làm. Ta chỉ đưa cho nàng ta cái móc câu.”

Túc vương nhìn tay nàng. Ngón tay nàng gầy. Trên móng có một chấm son đỏ đã tróc từ hôm cưới, nàng chưa tô lại. Chàng nhìn cái chấm son ấy thật lâu. Rồi chàng thở ra, không nặng, không nhẹ, chỉ là một hơi thở của người đã chọn.

“Được.” Chàng nói. “Ta đồng ý. Bốn ngày. Ngày mai ta cho người dựng hầm giả. Ngày kia ta báo thái hoàng thái hậu. Ngày kìa ta bày Cửu Long Kỳ. Đêm mùng bảy ta chờ Đông Cung tới cửa.”

Uyển Ngôn gật.

“Còn một việc.”

Chàng nhướn mày.

“Ninh phu nhân. Sau khi bà truyền tin đêm nay, ta sẽ bảo Bích Đào canh cửa Trấn phủ. Nếu bà chạy về báo lại Đông Cung lần thứ hai, coi như bà đổi chủ. Ta phải xử.”

“Nàng định xử thế nào?”

“Bằng chén rượu bà tự mang tới phòng ta.” Uyển Ngôn nói. Nàng không cười. “Ta hứa với bà đêm ấy, ta giữ chén cho bà. Chén này chỉ nghiêng khi bà nghiêng trước.”

Túc vương gật một cái. Cái gật ngắn, không có sắc thái. Nhưng trong ánh mắt chàng lóe lên một thứ mà Uyển Ngôn nhận ra: chàng đang không thương cảm Ninh phu nhân, chàng đang tính công dụng của Ninh phu nhân sau bốn ngày. Chàng và nàng, đêm nay, cùng lạnh như nhau. Không phải ngẫu nhiên. Là bởi hai người đang đi cùng một đường lửa.

Nàng đứng lên.

“Ta về phòng.”

“Uyển Ngôn.”

Nàng dừng lại.

Túc vương nhìn nàng. Chàng nói, giọng chàng đã bỏ hết cái sắc lạnh vừa nãy, còn lại đúng một chút gì như trầm hương chưa cháy hết:

“Đêm mùng bảy, nàng ở Tây phòng. Có mật đạo. Nếu có gì lệch, nàng vào đó. Đừng ra tiếp Diệp Kính.”

“Ta không ra tiếp.” Uyển Ngôn nói. “Ta ra tiễn.”

Nàng bước khỏi thư phòng.

Ngoài hành lang, Bích Đào đã đứng chờ. Cầm đèn lồng đỏ. Ánh đèn hắt lên gương mặt nha hoàn, cô còn tái. Uyển Ngôn nắm cổ tay Bích Đào, siết một cái, rất nhẹ.

“Đi.”

Về phòng, nàng ngồi trước gương. Không tháo trang phục. Chỉ nhìn gương.

Trong gương có một cô nương mười bảy tuổi, tóc còn cài cây trâm bạc hoa mai mẹ để lại. Cô nương ấy khuôn mặt bình. Không có giọt nước mắt nào. Không có nụ cười nào. Chỉ có nốt ruồi lệ dưới khoé mắt trái, thẫm hơn ngày thường một chút.

Uyển Ngôn nhìn nốt ruồi lệ. Rồi nhìn cây trâm hoa mai. Rồi nàng nói với gương, khẽ như nói với mẹ:

“Con dùng nàng ta. Mẹ đừng trách con. Nàng ta cầm dao đâm con hai lần, con chỉ đâm lại một.”

Ngọn nến trên bàn trang điểm cháy thẳng. Không lay.

Ngoài cửa, gió heo may đã lặng. Trong sân Túc phủ, mùi trầm hương đêm khuya nồng lên, dày như một tấm khăn phủ lấy cả phủ.

Đêm ấy Uyển Ngôn không ngủ.

Nàng ngồi tới canh tư. Thảo trong đầu bảy đường đi của tin. Đường thứ nhất, Ninh phu nhân giữ lời. Đường thứ hai, bà đổi lời. Đường thứ ba, Nguyệt Nhi nghi và không báo. Đường thứ tư, Nguyệt Nhi báo nhưng đổi ngày. Đường thứ năm, Đông Cung nghi cờ giả. Đường thứ sáu, thái hoàng thái hậu đổi ý. Đường thứ bảy, chính Túc vương đổi ý.

Bảy đường, mỗi đường nàng đều có một câu đối. Nàng gấp chăn, để bảy câu đối trong ngăn giữa của rương gỗ, khoá lại. Chìa khoá cài trên trâm bạc hoa mai. Trâm ấy nàng sẽ đội đến khi mọi việc xong.

Canh tư điểm.

Bích Đào rón rén vào. Trên tay có tờ giấy nhỏ. Không phải mật báo mới. Là thư của Túc vương.

Uyển Ngôn cầm. Mở.

Trong thư chỉ có một dòng chữ, nét bút chàng hơi run cuối chữ, như viết vội:

Bốn ngày. Nếu nàng đổi ý, gõ ba tiếng vào tường thư phòng ta. Ta rút cờ.

Uyển Ngôn cầm tờ thư, ngồi lặng.

Rồi nàng châm lửa nến, đốt tờ thư. Tro rơi xuống chén trà nguội, tan như một cánh hoa đen.

Nàng không đổi ý. Chàng biết. Nhưng chàng vẫn viết. Câu ấy không phải cho nàng. Câu ấy chàng viết cho chính chàng, để đêm mùng bảy, nếu có gì lệch, chàng biết chàng đã cho nàng một lối lùi.

Uyển Ngôn nhắm mắt.

Bên ngoài, gà gáy canh năm.

Ngày thứ nhất bắt đầu.

Sáng hôm ấy, Uyển Ngôn dậy sớm. Điểm trang nhẹ. Không cài trâm phượng. Chỉ cài trâm bạc hoa mai. Nàng viết một bức thư ngắn về Trấn phủ, giấy dùng loại giấy hoa văn Ninh phu nhân từng khen ở lần đối trà. Nội dung thư viết cho Bích Đào, hỏi thăm sức khỏe cha, cuối thư nàng “vô tình” thêm một dòng ngắn:

Bích Đào, đêm mùng bảy nếu bà truyền tin, cứ lấy đường cửa sau bếp Đông. Ta không muốn thị vệ đi cùng bà xuống hầm sau thư phòng lấy vật.

Bức thư được giao cho một tiểu tì thân tín của Ninh phu nhân, tiểu tì này Uyển Ngôn biết tên nhưng chưa từng gọi. Tiểu tì cúi đầu nhận. Đi ra khỏi Túc phủ.

Uyển Ngôn ngồi trước gương. Cầm khăn lau tay. Không cười. Không thở phào.

Nàng biết, từ khoảnh khắc bức thư ra khỏi tay, “mượn dao giết người” đã trở thành một mũi tên bay ra khỏi cung. Không quay lại được nữa. Mũi tên ấy sẽ ghim vào Nguyệt Nhi, hay ghim vào chính nàng, chỉ còn bốn ngày để biết.

Ba canh sau, Túc vương phái người đến nói: hầm giả dưới thư phòng đã dựng xong. Cửu Long Kỳ đêm nay sẽ chuyển vào hầm. Thái hoàng thái hậu ngày mai sẽ đến bí mật.

Ngày thứ hai, mọi việc diễn theo kịch bản Uyển Ngôn viết.

Ngày thứ ba, tin từ Trấn phủ báo lại: Ninh phu nhân đêm qua đã cho tiểu tì thân tín “về nhà thăm mẹ”. Tiểu tì ấy, thị vệ Túc phủ theo dấu, không về nhà, mà rẽ về hướng Đông Cung.

Uyển Ngôn nhận tin. Cầm chén trà, uống một ngụm.

“Bà đã truyền.” Nàng nói với Bích Đào. “Bà đã nghe lời.”

Bích Đào cúi đầu.

“Vương phi, ta chuẩn bị Tây phòng chưa?”

“Chuẩn bị.” Uyển Ngôn đặt chén xuống. “Nhưng ta không vào.”

Bích Đào ngước lên. Trong mắt cô hoảng.

“Vương phi…”

“Đêm mùng bảy ta ở thư phòng của Túc vương.” Uyển Ngôn nói. Giọng nàng không cao. Không thấp. “Ta muốn nhìn nàng ta bước vào. Ta muốn nàng ta thấy ta trước khi thấy Cửu Long Kỳ. Nếu Nguyệt Nhi đêm ấy còn kịp mở miệng, ta muốn câu đầu tiên của nàng ta là gọi ta. Không phải gọi Diệp Kính.”

Bích Đào mở miệng, rồi ngậm lại. Cô cúi đầu.

“Vương phi cẩn thận.”

Uyển Ngôn khẽ cười. Nụ cười của nàng lần đầu trong ba ngày. Nụ cười ấy không lạnh. Cũng không ấm. Chỉ là một đường cong rất mảnh trên môi.

“Ta cẩn thận.” Nàng nói. “Ta đã cẩn thận từ đêm ta tỉnh dậy trên kiệu hoa. Ta cẩn thận đến từng canh giờ. Nàng ta không cẩn thận. Cho nên nàng ta là mồi, ta là người cầm cần.”

Đêm mùng sáu, canh tư.

Túc vương gửi tờ giấy cuối cùng. Trên giấy chỉ có ba chữ, nét mực đen như dấu triện:

Sẵn sàng chưa.

Uyển Ngôn cầm bút. Chấm mực. Viết một chữ. Đưa lại cho gia nô.

Một chữ ấy là:

Sẵn.

Đêm mùng bảy.

Trước canh hai, mật thám từ cửa Đông Túc phủ chạy về, tay còn cầm đèn lồng đỏ. Nàng đứng ở thư phòng Túc vương, tay đặt trên bàn, ngón tay nhẹ chạm cạnh nghiên mực. Túc vương đứng bên nàng. Cả hai không nói.

Mật thám báo, giọng còn hụt hơi:

“Vương gia, Vương phi. Đông Cung thái tử vừa dẫn ba mươi thị vệ ra khỏi Đông Cung. Đi hướng Túc phủ. Tô Nguyệt Nhi đại tiểu thư đi cùng, cưỡi ngựa đen, mặc áo đỏ, không đội mũ.”

Uyển Ngôn nghe. Không đổi sắc.

Nhưng ở khoé mắt nàng, nốt ruồi lệ, đêm nay tối hơn hẳn.

Nàng nghiêng đầu, khẽ nói với chính mình. Câu này Túc vương nghe được, nhưng chàng không hỏi:

“Nàng ta cưỡi ngựa đến. Nghĩa là nàng ta tin danh sách của mình. Nghĩa là nàng ta không nghi. Nghĩa là bốn ngày nay ta thắng ba đường ba, chỉ còn đường thứ tư.”

Chàng nhìn nàng.

“Đường thứ tư là gì?”

Uyển Ngôn không đáp. Nàng chỉ cầm tay áo của mình, kéo che kín cổ tay có vết bỏng nhỏ. Rồi nàng đứng thẳng, quay đầu về phía cửa thư phòng.

Ngoài cửa, tiếng vó ngựa đã văng vẳng ở đầu ngõ Túc phủ.

Đường thứ tư, nàng biết, không phải đường của Nguyệt Nhi. Là đường của chính nàng. Là câu hỏi cuối cùng nàng chưa dám trả lời từ đêm nàng tỉnh trên kiệu hoa: nếu đêm nay Nguyệt Nhi vào, thấy Cửu Long Kỳ, thấy thái hoàng thái hậu, thấy Túc vương, thấy nàng, và trước khi bị bắt, nàng ta ngước lên nhìn nàng bằng đôi mắt của một đứa em gái danh nghĩa mười tám năm, thì tay Uyển Ngôn có run không.

Tiếng vó ngựa gần hơn.

Uyển Ngôn nhắm mắt một cái. Mở ra. Không run.

Nàng khẽ nói với Túc vương, câu này chỉ chàng nghe được:

“Chàng bảo thái hoàng thái hậu vào vị trí. Ta ra sân đón nàng ta. Mượn dao giết người là ta, nhưng người cầm dao cuối cùng, ta muốn là chính ta.”