Đêm Tân Hôn Ta Thiêu Cả Vương Phủ
Chương 28: Vũ Khí Giả
Đêm mùng năm, canh nhất.
Ta ngồi bên án thư trong thư phòng Túc vương. Nến trầm cháy chậm, khói bay lên cong queo như một sợi tơ. Ngoài cửa, tiếng chim heo kêu ba tiếng, xa xăm.
Chàng ngồi đối diện ta, tay đang gấp một tờ giấy Tuyên Thành thành hình chữ nhật nhỏ. Ngón tay chàng dài, đầu ngón hơi lạnh. Ta biết cái lạnh đó. Ta đã từng ghét cái lạnh đó. Kiếp trước, chính ngón tay đó cầm đuốc.
“Ta viết ba bức,” chàng nói, không ngẩng đầu. “Một bức bỏ trong tay áo Chu quản gia. Một bức nhét trong cuốn Đường Thi Tuyển ở tủ sách ngoài viện. Một bức đưa cho Bích Đào.”
Ta khựng.
“Bích Đào?”
“Nàng ta không biết là ta cố tình. Càng không biết càng tốt. Bích Đào tính thẳng, không giấu được nàng nào lâu.” Chàng ngước lên. Mắt sắc như mũi kim vừa được mài. “Trong ba bức, chỉ cần một bức lọt đúng lỗ tai Nguyệt Nhi. Ba lỗ là ba lối. Ta rải cho chắc.”
Ta hít vào một hơi.
Kiếp trước ta chết trong tay chàng vì một phong thư. Kiếp này chàng dùng ba phong thư để giết kẻ đã giết ta. Trò đời, quả là gậy ông đập lưng ông.
“Nội dung ba bức có khác nhau không?” ta hỏi.
“Khác.” Chàng đẩy tờ giấy đã gấp qua cho ta. “Ba tin nhỏ, ghép lại mới thành một tin lớn. Chu quản gia sẽ vô ý than với người nhà bếp: dạo này lão gia không cho ai xuống hầm cũ ở tây viện, canh giữ nghiêm hơn xưa. Cuốn Đường Thi Tuyển sẽ có một trang giấy kẹp giữa, viết dở chừng ba chữ Cửu Long Kỳ rồi bỏ dở như bị đánh cắp. Còn Bích Đào… ta bảo nàng chép ba trang bản đồ vào lúc rảnh, trong ba trang đó có một trang ghi vị trí hầm tây viện có ba dấu đỏ.”
Ta cầm tờ giấy. Nét chữ chàng gọn, không phô. Từng chữ một như từng lưỡi dao đặt sát nhau trong bao.
“Ba mảnh,” ta nói khẽ. “Chu quản gia là mảnh động cơ. Cuốn sách là mảnh chứng cứ. Bản đồ là mảnh vị trí. Ai xâu được ba mảnh mới là kẻ đáng để ngài giăng lưới.”
“Đúng.” Chàng nhìn ta. Mắt chàng có một tia gì đó ta chưa gặp bao giờ. Không phải khen. Không phải tự đắc. Là một tia giống như đèn thầm dưới nước sâu. “Nàng thấy được cả ba tầng chỉ trong ba dòng ta viết. Ta không cần giải thích gì thêm cho vợ mình nữa.”
Vợ mình.
Hai chữ đó rơi xuống mặt bàn như một hạt đá nhỏ. Ta không cúi đầu. Ta chỉ đặt tờ giấy xuống, ngay ngắn. Ngoài cửa, gió thu vừa thổi qua, một cánh cửa sổ nhỏ ở góc phòng kêu lên một tiếng khẽ.
Ta không đáp lại hai chữ đó. Ta hỏi:
“Nếu Nguyệt Nhi không tin?”
“Nàng ta sẽ tin. Vì trong ba tầng, chỉ Bích Đào là mắt Nguyệt Nhi đã cắm sẵn ở Túc phủ. Chu quản gia thuộc phe cũ, Nguyệt Nhi từng tính thu, không thu được. Cuốn sách là bằng chứng vật chất Nguyệt Nhi luôn tin. Bích Đào là nguồn nàng ta khinh nhất nhưng lại tin nhất, vì nàng ta cho rằng nha hoàn thân cận thì hay hớ. Ba tầng, ba loại tin cậy. Nàng ta không thể không tin.”
Ta lặng.
Ninh phu nhân đã cắm tay vào Bích Đào từ bao giờ, ta không biết. Kiếp trước Bích Đào không phản ta. Nhưng kiếp trước Bích Đào cũng không có cơ hội bị Nguyệt Nhi mua chuộc, vì ta chết đêm tân hôn.
Kiếp này ta sống. Kiếp này Nguyệt Nhi có thời gian. Có thời gian, thì mắt được cắm.
“Ngài biết Bích Đào bị Nguyệt Nhi mua từ bao giờ?” ta hỏi.
“Ba tháng.” Chàng đáp, không do dự. “Từ hôm nàng về Trấn phủ báo mẫu tang. Không phải Bích Đào phản. Là em họ của nàng ta trong Trấn phủ bị Ninh phu nhân doạ. Nguyệt Nhi qua đó siết một sợi dây. Bích Đào không dám không truyền, mà chỉ dám truyền tin nhỏ vô hại.”
Trong ngực ta có gì đó chùng xuống.
Không phải giận Bích Đào. Là buồn.
Buồn cho một cô nha hoàn nhỏ, từ nhỏ lớn lên trong Trấn phủ, cha mẹ đã chết, chỉ còn một đứa em họ nương náu ở bếp cũ. Ta hiểu vì sao nàng không nói với ta. Nói ra là em họ bị siết. Không nói là chủ mình bị lừa. Nàng chọn cái nhẹ hơn, cái xa hơn: giấu chủ, giữ em.
Ta hiểu. Ta không trách. Nhưng lòng ta vẫn có một góc nặng.
“Ngài định để Bích Đào biết mình đang bị lợi dụng không?” ta hỏi.
“Nàng quyết.” Chàng nói. “Nha hoàn của nàng, không phải của ta.”
Ta ngẫm.
Nói cho Bích Đào biết, nàng sẽ diễn không thật. Không nói, nàng vô tình trở thành lối rò của phe địch, nhưng lối rò đó lại đúng ý ta. Nàng ta đã chọn kênh giữa hai bên rồi. Ta chỉ cần đẩy nàng đi đúng kênh nàng đã chọn.
“Không nói,” ta đáp.
Chàng gật đầu một cái nhẹ.
Ba tầng bủa xong đêm mùng năm.
Sáng mùng sáu, Chu quản gia gọi nhà bếp lên, than thở “lão gia dạo này khó tính, đến hầm cũ cũng cấm quét bụi, không hiểu giấu gì trong đó”. Nhà bếp có một bà lão họ Lâm, mẹ chồng của em họ Bích Đào. Bà Lâm nghe xong không nói gì, chỉ chép lưỡi mà đi.
Trưa mùng sáu, Túc vương “để quên” cuốn Đường Thi Tuyển trên bàn ngoài viện. Trong đó, một mảnh giấy nhỏ chỉ viết dở ba chữ, rồi bôi mực loang. Trưa hôm ấy có bốn nha hoàn ra vào phất bụi. Một trong bốn nàng, ta không biết là ai. Không cần biết.
Chiều mùng sáu, Túc vương gọi Bích Đào vào, giao ba trang bản đồ. Nói tỉnh queo: “Nàng chép ba trang này cho nhanh, để trên bàn thư phòng ta đêm nay. Đừng để lộn thứ tự.”
Bích Đào cầm ba trang, mặt hơi tái. Ta đứng bên ta thấy rõ. Nàng cúi đầu, lui ra. Ta không nói gì. Ta chỉ nhìn theo lưng nàng nhỏ dần trong dãy hành lang, tim ta thấy đau một cái nhẹ, như bị kim châm.
Bích Đào ơi. Nếu đến ngày kia mọi chuyện xong, ta sẽ nói cho ngươi biết. Ta sẽ giữ em họ ngươi. Ta sẽ giữ chính ngươi. Nhưng đêm nay, ta phải để ngươi làm sợi dây trong tay ta. Ta không có lựa chọn khác. Cũng như ngươi kiếp trước không có lựa chọn nào ngoài chết theo ta.
Đêm mùng sáu, Trấn phủ.
Bà Lâm nhắn tin qua em họ, em họ báo Bích Đào. Bích Đào không có gì để giấu, kể lại một câu nhẹ tênh trong lúc phất áo cho ta: “Vương phi, thấy nhà bếp bên phủ có lời đồn Chu quản gia dạo này bị lão gia bảo canh hầm cũ nghiêm, lạ lắm.”
Ta gật, coi như không quan tâm.
Bích Đào lui ra. Trong đầu ta, một cái kim khắc nhẹ.
Sợi dây thứ nhất đã kéo.
Sáng mùng bảy, Nguyệt Nhi cho người sang Túc phủ mượn sách. Nàng ta viện cớ mượn Đường Thi Tuyển. Chàng cho mượn. Sách được đưa qua, hai canh giờ sau đưa lại. Trong sách, mảnh giấy có ba chữ đã không còn. Nguyệt Nhi giữ.
Sợi dây thứ hai đã kéo.
Chiều mùng bảy, Bích Đào bưng ba trang bản đồ lên án thư của Túc vương. Nàng đặt đúng thứ tự, tay run nhẹ. Ta ngồi bên bên vờ đọc sách. Chàng nhìn Bích Đào, “Cảm ơn,” rồi cho lui. Đêm mùng bảy, Bích Đào rơi một trong ba trang trên hành lang. Vô tình. Vô tình đến mức ta biết trước đó là vô tình. Trang có ba dấu đỏ. Nửa canh giờ sau, mảnh bản đồ đã ở trong tay Nguyệt Nhi.
Sợi dây thứ ba đã kéo.
Ba sợi cùng thời, ba mối cùng chỗ.
Đêm ấy trong Đông Cung, Nguyệt Nhi ngồi trước đèn dầu, tay run.
Ta không có mặt. Nhưng ta biết. Ta biết Nguyệt Nhi lần này. Vì kiếp trước, mỗi lần nàng ta tin mình đã bắt được cái gì lớn, nàng ta cũng run như thế. Nàng ta run không phải vì sợ. Nàng ta run vì mừng. Mừng vì lại có cái để dâng cho kẻ nàng ta phụng sự.
Nguyệt Nhi gấp mảnh sách, mảnh bản đồ, tờ giấy chép lời bà Lâm, gói lại thành một gói nhỏ. Đưa cho Tôn nữ quan (nữ quan Đông Cung nàng ta thân), Tôn nữ quan chuyển vào tay Diệp Kính đêm đó.
Đêm mùng bảy chuyển sáng mùng tám.
Trong Đông Cung, Diệp Kính triệu ba tâm phúc. Không phải quan lớn. Là ba tướng nhỏ. Một là Cấm quân phó chỉ huy Trương Lỗ, cháu Lễ bộ thượng thư Trương Nguyên Chương. Hai là hai môn khách của Đông Cung: Vệ Chiếu, Lâm Bá.
Ba người ngồi quanh bàn, nhìn ba mảnh Nguyệt Nhi đưa vào. Diệp Kính chỉ nói một câu:
“Nếu Cửu Long Kỳ thật ở trong tay Túc vương, chúng ta không đợi được.”
Trương Lỗ hỏi: “Đột nhập vương phủ là tội chết.”
Diệp Kính cười. Nụ cười của kẻ đã bị vu suốt hai mươi năm là “yếu đuối”, nay lột lớp da giả xuống. “Chỉ đột nhập nếu bị lộ mới là tội chết. Nếu đoạt được kỳ, kẻ bị luận tội là Túc vương giấu tín vật đế vương chính thống mà không trình. Ai giấu Cửu Long Kỳ là mưu đế. Ta đến bắt kẻ mưu đế, là công.”
Ba người im.
Diệp Kính nói tiếp: “Đêm mùng tám, giờ tí. Trương Lỗ dẫn ba mươi Cấm quân giả trang tuần tra tây thành. Vệ Chiếu, Lâm Bá dẫn hai chục môn khách quen địa hình. Bốn chục người, mất một canh giờ trèo tường tây viện, xuống hầm cũ. Bà Lâm đã bị Nguyệt Nhi mua. Bà sẽ mở cửa bếp cho đường vòng.”
Trương Lỗ: “Nếu hầm không có kỳ?”
Diệp Kính lạnh: “Nếu không có kỳ, ta đích thân chịu tội cho các ngươi. Nhưng ta tin có. Chu quản gia không phải kẻ giả than. Nguyệt Nhi đã kiểm ba nguồn. Đêm mùng tám ta đi cùng.”
Ba tướng cúi đầu.
Sợi thứ tư ngoài dự kiến của ta: Diệp Kính đích thân đi. Ta không tính đến chuyện hắn ta chịu đứng dậy khỏi Đông Cung để vào tây viện Túc phủ. Ta tính hắn ta chỉ phái tướng. Nếu hắn ta đích thân, thì trò diễn tối mùng tám không chỉ là bẫy, mà là tuyên chiến.
Chiều mùng tám, ta ngồi trong phòng ta ở Túc phủ.
Bích Đào bưng trà vào, tay run. Nàng đặt chén trước ta, cúi đầu:
“Vương phi. Đêm nay Nguyệt Nhi… Nguyệt Nhi phi bố trí trong Đông Cung có động. Em họ con trong Trấn phủ nhắn, sáng nay có bốn con ngựa lạ vào Đông Cung, không biết ai.”
Ta đặt tay lên tay Bích Đào.
Nàng ngước lên. Mắt nàng đỏ.
“Vương phi biết con…”
“Ta biết.” Ta cắt lời nàng, giọng nhẹ. “Ta biết em họ ngươi bị siết. Ta không trách. Ngươi bưng trà cho ta đêm nay đủ rồi. Đêm nay ngươi ngủ ở Tây phòng, khoá cửa. Ta cho một thị nữ khác đứng ngoài.”
Bích Đào bật khóc, nhưng khóc không tiếng.
Ta đưa nàng ra khỏi phòng. Sau lưng ta, cửa đóng. Ta đứng bên án thư một mình.
Ngoài cửa sổ, hoàng hôn tháng chín. Mây đỏ như máu tan trong sương. Gió thổi mấy chiếc lá vàng đầu tiên vào sân, lăn xoay.
Ta không biết cha ta ở Trấn phủ đêm nay có yên. Ta không biết mẹ ta trên trời hôm nay có nhìn xuống. Ta chỉ biết một điều: đêm nay bốn chục người sắp trèo tường vào tây viện Túc phủ để lấy một lá cờ.
Và ta chưa nhìn thấy lá cờ.
Ta đứng dậy. Ra khỏi phòng, đi về thư phòng chàng.
Chàng đang cởi áo khoác ngoài, chỉ mặc trung y đen. Vết sẹo dài từ cổ tay đến khuỷu trái lộ ra dưới ống tay áo. Ta liếc một cái, không hỏi. Kiếp trước ta cũng không hỏi. Kiếp này ta cũng chưa hỏi. Ta sẽ hỏi vào một đêm khác, không phải đêm nay.
“Ngài định cho họ đoạt Cửu Long Kỳ giả?” ta hỏi.
Chàng ngước lên. Ánh nến chiếu ngang mặt chàng.
“Không giả.”
Ta khựng.
“Thật ư?”
Chàng bước qua cạnh án thư, cúi xuống, mở khoá một ngăn bí mật dưới đáy tủ sách. Bên trong là một hộp gỗ đàn hương dài chừng một thước hai. Chàng bưng ra, đặt lên án. Mở nắp.
Bên trong, gấp gọn, là một mảnh lụa đỏ thẫm. Đỏ đến độ trong ánh nến vàng, nó ngả sang màu máu đêm. Trên mặt lụa, thêu chín con rồng vàng sẫm, mỗi con năm móng, đuôi cuốn vào nhau tạo thành một cái vòng lớn ôm chín chữ triện: Đại Chu Chính Thống Cửu Long Đế Kỳ.
Ta nín thở.
“Ngài giữ vật này bao lâu?”
“Năm năm.” Chàng đáp. Giọng chàng bình như đọc một trang lịch. “Từ ngày ta bị đẩy khỏi cung, đêm trước đi, thái hoàng thái hậu gọi ta vào cung Từ Ninh. Bà đưa ta một hộp. Nói: Cửu Long Kỳ này của cha ngươi và bác cả ngươi. Bác cả bị giết oan hai mươi năm trước vì bị vu ‘giấu kỳ mưu đế’. Ta giữ hộp năm năm, đợi kẻ đủ trưởng thành. Kẻ đó là ngươi.”
Ta không nói gì.
Ta chỉ giơ tay, chạm nhẹ vào lụa. Lụa mềm, ấm như da người sống. Chín con rồng lấp lánh dưới đầu ngón tay ta.
“Bác cả ngài…” ta nói khẽ. “Là ai?”
“Diệp Diễn.”
Ta rụt tay.
Diệp Diễn. Cha ruột của Nguyệt Nhi.
Ta nhìn chàng. Chàng nhìn ta. Ánh nến giữa hai người rung một cái nhẹ.
“Vậy Cửu Long Kỳ này…” ta chậm rãi, “vốn là của cha Nguyệt Nhi. Bây giờ ngài đưa nó ra làm mồi để bắt Diệp Kính. Sáng ra, cả triều sẽ thấy Cửu Long Kỳ thật trong tay ngài. Cả triều sẽ tin ngài là nhánh chính thống. Vì thái hoàng thái hậu sẽ đứng ra công nhận.”
“Đúng.”
“Nhưng Diệp Kính đi bắt kỳ, không phải để mưu phản. Hắn ta đi để chứng minh ngài giấu tín vật đế vương. Nếu hắn ta lấy được kỳ trước khi thái hoàng thái hậu đến, cả triều sẽ tin ngài mưu phản.”
“Đúng.”
Ta ngước lên.
“Vậy đêm nay không phải là bẫy. Đêm nay là canh bạc mà cả hai đều đặt cược cùng một quân bài. Ai đến trước, ai lấy được, người đó thắng. Nếu thái hoàng thái hậu đến sau, ngài mất tất cả.”
Chàng cười. Lần đầu tiên trong ba tháng ta ở phủ này, ta thấy chàng cười thật. Nụ cười cong khoé miệng, không có răng.
“Nàng nói đúng một nửa,” chàng nói. “Nửa đúng: canh bạc. Nửa sai: ta không đặt cược. Ta đã sắp bà đến trước. Bà đến canh tí đầu. Diệp Kính đến canh tí giữa. Diệp Kính vào tây viện là bà đã ngồi trong phòng chờ hắn.”
Ta hít vào.
Đây không phải trò cờ ba tầng của chàng. Đây là trò cờ bảy tầng. Ba tầng để Nguyệt Nhi tin. Một tầng để Diệp Kính đích thân đến. Một tầng để thái hoàng thái hậu công nhận Cửu Long Kỳ. Một tầng để triều đình rúng động. Một tầng cuối, ta chưa thấy được.
“Tầng thứ bảy là gì?” ta hỏi.
Chàng nhìn ta. Rất lâu.
Rồi chàng nói:
“Là nàng.”
Ta không hiểu.
Chàng cầm lá cờ, gấp lại. Đặt vào tay ta. Lụa nặng bất ngờ, nặng hơn ta tưởng lá cờ chín rồng có thể nặng.
“Đêm nay, khi Diệp Kính vào tây viện, thái hoàng thái hậu ngồi trong phòng. Cạnh bà, ta. Cạnh ta… phải là nàng. Vì trong bảy tầng, tầng cuối là: cả triều biết Túc vương phi đứng cạnh Túc vương ngay khoảnh khắc Cửu Long Kỳ được công nhận. Nàng không chỉ là vợ danh nghĩa nữa. Nàng là hoàng hậu tương lai.”
Ta cầm lá cờ trong tay.
Ngoài cửa, chuông canh nhất vừa điểm.
Còn ba canh giờ nữa đến canh tí.
Ta ngước lên nhìn chàng. Cổ họng ta khô. Máu chảy trong ngực ta chậm lại một cái, rồi đập mạnh lên gấp đôi.
“Nếu ta không đứng cạnh ngài đêm nay…”
“Thì ngài mất bảy tầng cờ chỉ vì một tầng nàng chọn không đứng.”
Chàng nói câu đó không doạ. Chàng nói bình như thể chàng đang đọc thời khắc lên đèn.
Ta nhìn xuống lá cờ trong tay.
Chín con rồng nằm im, mắt đỏ như than.
Ngoài kia, đêm mùng tám đang xuống. Đêm mùng tám của kiếp này. Đêm mùng tám của kiếp trước ta không có, vì kiếp trước ta đã cháy thành tro từ đêm tân hôn hai tháng trước.
Ta nắm chặt lụa.
“Ta đứng.”
Chàng không đáp. Chàng chỉ chìa tay ra.
Ta đặt lá cờ vào tay chàng.
Chàng gấp lụa lại, đưa vào ngực áo trung y đen của chàng. Trước ngực trái, ngay chỗ tim chàng đập. Vết sẹo dài trên tay trái chàng lộ ra khi ống tay xắn lên nửa. Trong một khoảnh khắc rất ngắn, dưới ánh nến, ta thấy vết sẹo đó đỏ lên.
Đỏ như lá cờ.
Đỏ như áo cưới đêm tân hôn kiếp trước.
Đỏ như máu ta đã đổ ra trong áo cưới đó, không ai thấy.
Ta bước một bước lùi.
Bích Đào ngoài cửa gõ ba tiếng nhẹ. Ta nghe. Chàng nghe.
Bích Đào nói vào, giọng cố giữ bình:
“Vương gia, vương phi. Ngoài cổng đông có ngựa. Ba con ngựa mặc áo đen, không đèn. Người canh cổng đã đóng chốt trong, chưa mở. Kẻ trên ngựa xưng là ‘sứ giả cung Từ Ninh’.”
Ta và chàng nhìn nhau.
Thái hoàng thái hậu đã đến.
Sớm hơn một canh giờ.
Trong ngực ta, tim đập một cái lệch. Kịch bản chàng dàn bảy tầng vừa bị xê nửa canh giờ. Nửa canh giờ đó là nửa canh giờ Diệp Kính vẫn chưa lên đường, chưa vào tây viện, chưa bước vào lồng.
Nếu bà lên tiếng sớm, Diệp Kính sẽ nghe được động tĩnh và không đến.
Nếu bà im lặng trong phòng chờ, ta phải giữ bà im nửa canh giờ nữa.
Ta ngước lên nhìn chàng.
Chàng ngước lên nhìn ta.
Lần đầu tiên trong ba tháng, ta thấy mắt chàng có một tia không phải toan tính. Là hỏi. Chàng đang hỏi ta.
Ta hít một hơi. Trong ngực ta, lửa của kiếp trước và tro của đêm nay chạm nhau một cái nhỏ, ấm lên.
Ta bước qua chàng, ra cửa. Kéo tay áo lụa xanh xám của ta xuống che cổ tay, che vết bỏng nhỏ mà chàng đã từng chạm ở vườn trăng. Ta quay đầu lại, nói một câu, giọng rất nhỏ nhưng không run:
“Ngài đứng lại đây. Ta ra tiếp bà.”