Hoài Cổ Truyện

Đêm Tân Hôn Ta Thiêu Cả Vương Phủ

Chương 30: Đông Cung Bị Giam

Câu chốt vừa buông. “Đến lượt muội.”

Nguyệt Nhi đứng khựng. Áo phù dung trên vai nàng ta chợt trắng bệch như tro. Miệng mở nửa chừng, chẳng ra tiếng.

Ta hạ quạt xuống. Chậm. Cạnh quạt lướt qua má nàng ta, không chạm.

“Dẫn đi.” Túc vương chỉ ngắn.

Thị vệ hai bên xáp lại. Ba người kẹp Diệp Kính, hai người kẹp Nguyệt Nhi. Cửu Long Kỳ vẫn trải trên bàn, viền vàng chín rồng cuộn lên trong ánh nến. Thái hoàng thái hậu ngồi cạnh, tay run run vuốt mép cờ. Bà cụ tuổi đã cao, gò má hõm sâu, nhưng lúc này mắt sáng như hôm ta trọng sinh trên kiệu hoa.

Diệp Kính không giãy. Hắn ngước lên nhìn Túc vương, cười. Nụ cười ấy vẫn là nụ cười thư sinh lịch lãm, nét miệng thanh mà nhọn. “Vương huynh.” Hắn cong đôi môi ra một thanh âm khàn. “Đêm nay ngươi chuẩn bị tốt lắm.”

Túc vương chỉ nhìn hắn. Không đáp.

Nguyệt Nhi mới bắt đầu run. Từ vai xuống tay, từ tay xuống ngón. Ta nhìn nàng ta rất kỹ. Nốt ruồi ở cổ nàng ta phập phồng theo hơi thở gấp. Kiếp trước đêm ta chết, chính nốt ruồi ấy là hình cuối cùng ta thấy trước khi lửa liếm lấy áo cưới.

“Chị dâu…” Nguyệt Nhi cất tiếng, giọng lạc. “Chị dâu muốn nói gì cứ nói đi. Tại sao lại…”

“Muội gọi ta là chị dâu?” Ta cắt. Giọng ta bình. “Chị của muội tên gì? Muội là ai?”

Câu ấy vọng vào giữa đại sảnh. Thái hoàng thái hậu ngước lên. Túc vương liếc ta rất nhanh.

Nguyệt Nhi cứng người.

“Dẫn đi.” Túc vương lặp lại. Lần này giọng đã có sắc.

Thị vệ đưa hai người ra. Bước chân họ trên gạch đá vang lên đều đặn. Diệp Kính quay đầu một lần cuối, ánh mắt bay ngang ta. Không hờn, không giận. Chỉ có gì đó rất giống ngạc nhiên, như một kẻ đọc sách lâu năm bỗng dưng gặp bản thảo mình chưa từng thấy.

Cửa lớn khép lại.

Trong sảnh còn thái hoàng thái hậu, Túc vương, ta và bốn thị vệ thân tín. Nến trầm cháy đến quá nửa. Đêm mùng tám sắp qua. Ngoài phủ, tiếng gà đầu tiên đã cất. Sương thu đọng nặng trên mái ngói.

Thái hoàng thái hậu chống tay đứng dậy. Ta bước tới đỡ.

“Ngồi.” Bà bảo. “Cả hai đứa. Đêm nay còn dài.”

Túc vương kéo ghế cho bà. Rồi kéo cho ta. Rồi mới ngồi xuống. Cứ trật tự ấy.

“Cửu Long Kỳ để đây một đêm.” Bà nói. “Sáng mai đưa vào cung. Ta tự đưa. Vua sẽ hỏi, ta trả lời.”

“Bà nội.” Túc vương gọi. Giọng chàng dịu đi một chút. “Không cần bà tự đi. Cháu có thể…”

“Cháu không cần đi.” Bà cắt. “Cháu là Túc vương. Cháu vào cung lúc này, kẻ trong cung sẽ nghĩ cháu áp lực vua. Ta đi. Ta là mẹ vua. Ta có thể áp lực vua.”

Ta cúi đầu. Bà cụ đã bảy mươi. Cửu trọng cung sâu nhất, ta lần đầu hiểu chữ ấy.

Cùng lúc đó, cách Túc phủ nửa canh giờ ngựa chạy, Trấn quốc công phủ chưa ngủ.

Ninh phu nhân đứng trong nội đường. Áo ngoài đã cởi. Chỉ mặc y phục lót màu chàm nhạt. Tóc rũ xuống vai, không cài trâm.

Trước bà là hai thị vệ Túc phủ, mặc áo đen, đeo bội đao. Sau bà là ba thị nữ Trấn phủ, đã bị bịt miệng.

“Ai lệnh?” Ninh phu nhân hỏi. Bà nói được. Nhưng ngón tay bà bấu vào cạnh bàn đến trắng đốt.

“Túc vương phi lệnh, thái hoàng thái hậu chứng.” Thị vệ đưa ra một mảnh chiếu vàng. “Phu nhân bị quản thúc trong Trấn phủ chờ vua điều tra. Không ra cửa. Không nhận thư. Không tiếp khách.”

“Trấn quốc công đâu?” Bà hỏi tiếp.

“Trấn công đang dưỡng bệnh trong Đông viện. Phu nhân không được vào.”

Ninh phu nhân cười nhỏ. Tiếng cười ấy khô như lá tre mùa đông. “Con gái ta…” Bà chưa nói hết câu.

“Nguyệt Nhi tiểu thư đã bị giam ở Túc phủ chờ vua xử.” Thị vệ nói tiếp. “Về tội cùng Đông Cung mưu đoạt Cửu Long Kỳ.”

Ninh phu nhân đứng chôn chân. Ba mươi năm bà bước trong Trấn phủ. Ba mươi năm bà đứng vững trong mọi cơn gió. Đêm nay là lần đầu gót giày bà mềm.

“Ta hiểu rồi.” Bà ngồi xuống ghế. “Các ngươi đứng ngoài đi. Ta không cần ai nhìn.”

Thị vệ lui ra. Đóng cửa. Cắm chốt ngoài.

Trong nội đường chỉ còn ánh nến. Ninh phu nhân nhìn gương. Gương gỗ đàn cũ, mặt bạc đã ố. Trong gương, bà thấy chính mình. Da khô. Mắt trũng. Cái nhan sắc từng khiến Trấn công quên hết Vân di nương, nay đã như tro tàn dưới lò cũ.

Bà mở ngăn kéo. Lấy ra một hộp phấn nhỏ. Trong hộp có nhiều loại phấn. Bà chọn hộp bên trong cùng, hộp không dùng để thoa mặt. Hộp bà giấu suốt hai mươi năm.

Ngón tay bà run. Nhưng bà không mở.

“Chưa.” Bà nói với gương. “Ta chưa thua hết. Còn kẻ chưa nói, còn kẻ chưa ra tay. Chờ.”

Bà đặt hộp lại vào ngăn. Khoá.

Trở về Túc phủ, canh năm. Ta chưa ngủ. Thái hoàng thái hậu đã lui vào phòng khách phía tây nghỉ ngơi, bà cụ nói sáng dậy tự vào cung. Túc vương vẫn ngồi trong đại sảnh. Cửu Long Kỳ đã được gấp lại, cho vào hộp gỗ tử đàn.

Ta ngồi đối diện chàng. Cách một cái bàn trà. Nến giữa bàn cháy đều.

“Nàng mệt chưa?” Chàng hỏi. Không nhìn ta. Mắt chàng nhìn ngọn nến.

“Chưa.” Ta đáp. “Ta ngủ đủ rồi. Đêm nay không cần.”

“Nàng nói câu ấy trong sảnh.” Chàng ngước lên. “Với Nguyệt Nhi. ‘Chị của muội tên gì? Muội là ai?’ Nàng biết nàng ta không phải con Trấn công?”

Ta gật. “Ta biết từ tháng trước.”

Chàng không hỏi tiếp. Chàng biết ta biết. Chàng biết cả cách ta biết, vì di thư mẹ ta chàng cũng đã đọc bản tóm tắt Bích Đào chép gửi qua.

“Sáng mai bà nội vào cung.” Chàng nói. “Ta chuẩn bị bản tấu đêm nay. Nàng giúp ta được không?”

Ta gật.

Chàng đứng dậy, đi ra phòng thư. Ta theo sau. Bước chân chàng nhẹ. Áo đen dài đến gót. Sau lưng chàng, ta thấy cạnh sẹo trên cổ tay trái lấp ló khi tay áo lay động. Cái sẹo dài từ cổ tay đến khuỷu ấy. Kiếp trước ta chưa từng nhìn kỹ. Đêm tân hôn kiếp ấy chàng đóng cửa, châm lửa, ta chưa kịp nhìn tay chàng.

Kiếp này ta nhìn được. Chàng để ta nhìn.

Trên bàn thư của Túc vương phủ có ba thứ.

Một là bản đồ Trường An. Hai là chồng giấy sớ trắng. Ba là hộp gỗ đen, trong đựng bằng chứng đã tích cóp năm tháng qua.

Chàng mở hộp. Lấy ra từng thứ.

Thứ nhất: bản chép của di thư Vân di nương. Bích Đào chép nét chữ mẹ ta, kèm chữ ký chứng nhận của một đại phu cũ ở Đông Bí Lâu. Đại phu ấy từng khám bệnh cho mẹ ta năm cuối, còn sống, được Túc vương tìm thấy ở châu Kinh.

Thứ hai: sổ chi tiêu Trấn phủ hai mươi năm trước. Sổ này Túc vương mua chuộc một thư lại cũ Trấn phủ để có. Trong sổ có mục ghi Ninh phu nhân xuất tiền lớn để “tang lễ mẹ ruột” nhiều tháng trước khi bà chính thức thành phu nhân Trấn phủ. Kỳ lạ. Và có mục “mua sữa cho hài nhi” trong thời gian bà chưa mang thai theo hồ sơ.

Thứ ba: khai của một bà mụ già ở làng Bắc châu, nơi Ninh phu nhân từng ở trước khi vào kinh. Bà mụ khai đã đỡ đẻ cho Ninh phu nhân, con gái. Con ấy được nuôi ba tháng, sau đó Ninh phu nhân đem vào kinh nhận làm “cháu ruột”. Cháu ấy tên Nguyệt Nhi.

Thứ tư: gia phả nội đường thất bại Diệp Diễn, hoàng thân bị vua đương triều xử tử vì tạo phản hai mươi năm trước. Trên gia phả, tên vợ hai của Diệp Diễn là “Ninh thị”, quê Bắc châu.

Bốn thứ gộp lại. Kết luận: Nguyệt Nhi là con Diệp Diễn với Ninh thị. Ninh thị đổi tên vào Trấn phủ, ép cha ta cưới, đem con gái theo giả làm cháu, sau đó giả mang thai, rồi trình Nguyệt Nhi là con Trấn công. Nàng ta mang huyết mạch phản thần.

Ta đọc từng thứ. Túc vương ngồi bên viết bản tấu. Nét chữ chàng thanh, nhọn, không thừa. Ba mươi hàng chàng viết trong một canh. Không xoá.

“Chàng viết được ngay không?” Ta hỏi.

“Ta viết bản này từ nửa năm nay.” Chàng đáp mà không ngước. “Đêm nay chỉ điền ngày.”

Ta không nói gì thêm. Nửa năm. Nghĩa là chàng đã nghĩ tới đêm này từ tháng ba. Ta trọng sinh tháng chín, chàng chỉ chậm ta năm tháng. Nhưng chàng chưa từng nói. Chàng cứ để ta dẫn.

Ánh nến chỉ còn một tấc. Ta lấy nến mới thay vào. Ngón tay ta run một chút khi rót sáp. Không phải vì mệt.

“Nàng.” Chàng ngừng bút. “Sáng mai bà nội vào cung, nàng ở phủ. Không ra ngoài.”

“Vì sao?”

“Vì Đông Cung có thể còn kẻ. Ta chưa bắt hết. Bà nội an toàn, có ta. Ta an toàn, có bà nội. Nhưng nàng, nếu ra ngoài, không ai đủ tin cậy để giao.”

Ta gật. “Ta ở phủ. Nhưng chàng cho ta một việc.”

“Việc gì?”

“Cho ta gặp Nguyệt Nhi một lần.”

Chàng ngước lên. Chàng nhìn ta lâu. Ánh mắt chàng, kiếp trước ta nhớ như dao, kiếp này ta nhận ra không phải dao. Chỉ là kính vỡ khi đêm khuya, chỉ sắc khi có ánh nến chiếu vào.

“Không phải hôm nay.” Chàng đáp. “Chiều mai ta dẫn nàng gặp.”

Ta không cãi. Ta hiểu.

Sáng mùng chín. Thái hoàng thái hậu lên kiệu vào cung. Hộp gỗ tử đàn theo bà cụ, Cửu Long Kỳ và bản tấu bên trong.

Ta đứng trước cổng Túc phủ tiễn. Túc vương đứng cạnh ta. Bà cụ ngồi trong kiệu, kéo màn nhìn ra một lần.

“Con dâu ạ.” Bà gọi ta. “Con giữ phủ. Cháu ta giữ con.”

Ta cúi đầu. “Vâng, bà nội.”

Kiệu đi.

Túc vương ở lại phủ với ta nửa canh. Rồi chàng cũng đi, vào cung dâng bản tấu ngoài. Trong triều đường, thái hoàng thái hậu chủ trì, chàng bổ sung.

Ta ở lại trong nội đường. Bích Đào mang trà lên. Ta không uống. Ta ngồi trước gương.

Trong gương ta thấy chính mình. Áo tím nhạt, tóc bới cao, cài trâm bạc hoa mai. Trâm mẹ. Da ta trắng như tuyết đầu đông. Nốt ruồi lệ dưới khoé mắt trái ướt như vừa khóc, nhưng ta không khóc.

Ta chạm ngón vào trâm. Trâm ấm. Đêm qua ta không tháo ra ngủ.

“Mẹ.” Ta gọi. Không thành tiếng. Chỉ trong đầu. “Con đi được tới đây. Đông Cung sập rồi. Ninh phu nhân giam rồi. Nàng ta cũng giam rồi. Mẹ có nghe không?”

Gương không đáp. Nhưng ta thấy trong gương, sau lưng ta, có bóng hình mờ mờ. Không phải mẹ. Chỉ là ánh nến hắt lên vách gấm.

Trưa cùng ngày, tin từ trong cung ra.

Vua đương triều nhận bản tấu Túc vương dâng. Đọc nửa canh. Không nói. Thái hoàng thái hậu đứng bên, tay chống trên đầu gậy.

Bằng chứng bốn khoản Túc vương trình bày. Đại phu Đông Bí Lâu, bà mụ Bắc châu, sổ chi tiêu Trấn phủ, gia phả Diệp Diễn. Cả bốn đều có nhân chứng còn sống, có vật chứng đối chiếu. Vua không thể bác. Bác nghĩa là công khai bảo hộ phản thần trong triều.

Diệp Kính, tội mưu đoạt Cửu Long Kỳ, tín vật đế vương chính thống của thái hoàng thái hậu, có ba mươi thị vệ đêm mùng tám làm chứng, có Cửu Long Kỳ làm vật chứng. Cũng không thể bác.

Vua ngồi im. Cuối cùng ban ba câu.

Một: Diệp Kính bị phế Đông Cung, giam tại Túc phủ chờ điều tra tiếp.

Hai: Tô Nguyệt Nhi, thân phận giả mạo, giam tại Túc phủ chờ tam ty tra khảo.

Ba: Ninh phu nhân bị quản thúc tại Trấn phủ. Trấn quốc công Tô Kiến vì “bệnh chưa khỏi” không xử tội, đợi hồi phục.

Chỉ ban ra. Cả triều rúng động.

Đông Cung phái không dám nói gì. Kẻ mạnh nhất Diệp Kính đã bị phế. Trung lập phái nhìn Túc vương. Túc vương chỉ cúi đầu tạ ơn vua, không thừa lời.

Nhưng có một chuyện lạ. Vua không lập tức truất ngôi Đông Cung, cũng không định thái tử mới. Vua chỉ nói “chờ điều tra”.

Chàng về phủ khi chiều buông. Ta đón chàng ở cửa.

“Xong chưa?” Ta hỏi.

“Nửa xong.” Chàng đáp. “Vua chưa truất Đông Cung.”

“Vì sao?”

“Vì vua chưa muốn ta lên. Vua muốn giữ Đông Cung trống, sau đó phong người khác. Có thể là con trai út, Diệp Hoà. Có thể là cháu ngoại. Chưa rõ.”

Ta gật. “Vua đứng sau Diệp Kính.”

Chàng nhìn ta. “Nàng biết?”

“Ta đoán từ hôm nay.” Ta đáp. “Diệp Kính cầm cự được đến hôm nay là có kẻ trong triều. Kẻ đó không thể chỉ là Trương Nguyên Chương. Kẻ đó phải là vua.”

Chàng cười khẽ. Không phải cười vui. Là cười của kẻ vừa nghe người khác nói đúng thứ mình chưa muốn thừa nhận.

“Nàng biết cả cái vua sợ ta.” Chàng nói. “Cả cái vua không muốn thái hoàng thái hậu thắng lần này. Nàng biết cả cái bà nội phải đi thêm bước nữa.”

Ta gật.

“Đi vào.” Chàng vẫy tay. “Nàng hứa chiều nay gặp Nguyệt Nhi. Ta dẫn nàng đi.”

Ngục trong Túc phủ không phải ngục lớn. Chỉ ba phòng nhỏ, tường đá, cửa sắt. Bình thường không dùng. Túc vương ít khi giam ai lâu, phần lớn giết ngay hoặc thả ngay.

Chiều mùng chín, hai phòng có người. Phòng đầu là Diệp Kính. Phòng giữa là Nguyệt Nhi. Phòng cuối trống.

Ta đi sau Túc vương. Cầm ngọn đèn nhỏ. Chàng mở khoá phòng giữa.

Nguyệt Nhi ngồi trong góc. Áo phù dung của nàng ta đã nhàu. Tóc rũ. Trên tay nàng ta còn dấu tím, dấu Cửu Long Kỳ đâm vào lúc thị vệ ép nàng ta buông tay khỏi kỳ.

Ta bước vào. Túc vương đứng ngoài, không vào.

“Chị dâu…” Nguyệt Nhi ngước lên. Giọng nàng ta khản.

“Đừng gọi ta là chị dâu.” Ta ngồi xuống ghế. Chỉ có một ghế trong phòng. Ta ngồi cho ta.

Nguyệt Nhi cúi đầu.

“Muội biết cha muội là ai chưa?” Ta hỏi.

Nàng ta không đáp.

“Diệp Diễn.” Ta nói. “Đông Cung thái tử tiền nhiệm. Bị vua đương triều chém đầu hai mươi năm trước vì tạo phản. Vợ hai của hắn, Ninh thị Bắc châu, sau đó đổi tên vào Trấn phủ, ép cha ta cưới. Muội theo mẹ, ba tháng tuổi, đội tên ‘cháu ruột’. Sau đó thành đích nữ.”

Nguyệt Nhi run. Đôi vai gầy của nàng ta rung nhẹ.

“Muội biết mẹ ta là ai chưa?” Ta hỏi tiếp.

Nàng ta lắc đầu.

“Vân di nương.” Ta nói. “Là người đã bế muội hai năm khi muội vừa vào phủ. Trước khi mẹ muội đầu độc mẹ ta, mẹ ta đã ẵm muội trên tay. Muội nhớ không? Có lẽ không. Muội mới hai tuổi.”

Nguyệt Nhi ngước lên. Mắt nàng ta ướt.

“Chị…” Nàng ta cất giọng. “Chị nói dối muội.”

“Ta không nói dối. Nếu muội muốn, ngày mai ta đem di thư mẹ cho muội đọc. Trong di thư mẹ ta có nhắc muội. Mẹ ta gọi muội là ‘con bé Nhi Nhi’. Muội có nhớ tên ấy không?”

Nguyệt Nhi khựng. Rồi khóc. Không thành tiếng, chỉ vai rung. Ngón tay nàng ta bấu vào áo phù dung.

Ta không nhích. Ta không cầm tay nàng ta. Ta chỉ nhìn.

“Muội khóc là muội nhớ.” Ta nói. “Nghĩa là mẹ ta đã bế muội thật. Nghĩa là nàng ta, Ninh phu nhân, vừa giết ân nhân nuôi con mình, vừa dạy con mình giết đứa em cùng mẹ nuôi. Gậy ông đập lưng ông, muội có thấy không?”

Nguyệt Nhi ngước lên. Ánh mắt nàng ta đã thay đổi. Không còn là ánh mắt kiếp trước gài phong thư đêm tân hôn. Cũng không còn là ánh mắt cung yến Trung Thu đổ rượu áo ta.

Là ánh mắt của một đứa trẻ bị bỏ giữa đường vừa nhận ra mình đứng nhầm.

“Chị sẽ giết muội chứ.” Nàng ta hỏi.

“Ta không giết. Vua giết. Nhưng bằng chứng ta trình. Ta không giấu tay.”

Nàng ta gật. “Vậy chị đến đây làm gì?”

“Đến hỏi muội một câu.” Ta cúi xuống. “Đêm ta bị thiêu chết ở Túc phủ kiếp trước, muội có ân hận không?”

Nguyệt Nhi cứng người. Ta nhìn thẳng nàng ta. Ánh nến trong tay ta chao một cái.

“Chị…” Nàng ta ngơ ngác. “Chị nói kiếp trước? Chị nói ta thiêu chị?”

Nàng ta không biết. Ta thấy rõ nàng ta không biết.

Nàng ta chưa trọng sinh. Nàng ta không nhớ kiếp trước. Nàng ta chỉ nhớ kiếp này. Kiếp mà nàng ta đã không kịp gài phong thư, đã đổ rượu áo ta, đã đêm nay bị bắt tại chỗ trong Túc phủ.

Ta không cần nàng ta ân hận. Ta chỉ cần biết nàng ta có ân hận hay không. Câu trả lời là nàng ta không hiểu câu hỏi.

Ta đứng dậy.

“Không sao.” Ta nói. “Muội ngủ đi. Sáng mai còn dài.”

Ta bước ra. Cửa sắt sập. Túc vương đóng khoá.

Chàng nhìn ta. “Nàng khóc à?”

Ta chạm ngón lên má. Ướt. Ta không biết ta khóc lúc nào.

“Không.” Ta đáp. “Chỉ là sương.” Cái ngục dưới đất không có sương.

Chàng không cãi. Chàng lấy khăn ra, đưa ta. Ta nhận. Lau. Không nhìn chàng.

“Về.” Chàng nói.

Ta gật.

Ta ngủ được nửa canh. Rồi Bích Đào đánh thức.

“Vương phi.” Nàng gọi khẽ. “Có thư.”

“Ai gửi?”

“Đông Cung thái tử. Từ trong ngục. Cai ngục vừa mang lên. Vương gia đã đọc trước rồi bảo trao cho vương phi.”

Ta ngồi dậy. Áo ngủ mỏng. Ta khoác áo ngoài. Bích Đào châm nến.

Thư đóng dấu nhỏ. Dấu tay Diệp Kính bằng máu. Kẻ trong ngục viết thư gửi ra ngoài, không có mực, thường dùng máu. Máu khô đã thành đen sẫm.

Ta mở.

Chỉ một tờ giấy. Nét chữ Diệp Kính, thanh, sắc, dấu thư sinh. Bốn dòng.

“Túc vương phi.

Nàng có thắng ta.

Nhưng phía sau ta còn kẻ nàng chưa thấy.

Kẻ đó sẽ ra tay trước khi nàng kịp cài trâm ngày mai. Nàng chờ.”

Ta đọc. Đọc lại. Đọc lần thứ ba.

Mặt ta lạnh dần. Không phải sợ. Là biết. Ta biết Diệp Kính không viết thư này để hù. Hắn viết vì hắn muốn ta chuẩn bị. Vì hắn muốn ta biết hắn còn quân bài. Vì hắn, thư sinh lịch lãm nhất Đông Cung, không thua kiểu bị vây rồi câm. Hắn thua kiểu gieo gió gặt bão, gieo lửa lại đẩy lửa sang tay kẻ khác.

Trâm ngày mai. Cài trâm ngày mai.

Ta chạm lên trâm bạc hoa mai đang cắm trên tóc. Kiếp trước Ninh phu nhân đưa ta trâm phượng vàng, có cạnh mòn tinh vi, để ta cầm đâm và trở thành thích khách. Kiếp này ta đã bỏ trâm phượng, chọn trâm mẹ.

Nếu sáng mai có kẻ đưa ta trâm khác? Nếu sáng mai có kẻ chờ ta đến buổi triều, đến buổi cung yến, đến buổi mừng công, và trong đó có trâm đã tẩm gì đó?

Không. Không phải trâm. Trâm chỉ là ẩn dụ. Hắn nói “trước khi nàng kịp cài trâm ngày mai”, nghĩa là trước bình minh, kẻ đó sẽ đến. Trước ta kịp trở tay.

Ta gấp thư lại. Đứng dậy.

“Bích Đào.”

“Vâng, vương phi.”

“Túc vương đang ở đâu?”

“Vương gia vừa gọi Trương ma ma, giao lệnh cho thị vệ, rồi đã ra khỏi phủ. Vương gia nói vào cung ngay.”

Ta thở nhẹ. Chàng đã nghĩ ra. Chàng đã đi.

Nhưng ta không kịp yên. Bích Đào tiếp.

“Vương phi. Có tin ngoài cửa vừa vào. Cai ngục báo. Đông Cung thái tử trong ngục vừa…”

“Vừa sao?”

“Vừa được người lạ vào thăm. Cai ngục không biết mặt, chỉ biết cầm thẻ ngọc của cung.”

“Thẻ cung nào?”

Bích Đào cúi đầu. Giọng nàng nhỏ hẳn xuống.

“Cai ngục nói, thẻ ấy có hình rồng chín móng. Chỉ vua đương triều mới có.”

Ta đứng chôn chân. Bốn chữ ấy như bốn hòn than lạnh rơi xuống lòng. Không cháy. Chỉ nặng.

Vua. Chính vua đã sai người vào ngục.

Ta quay vào phòng. Ngồi trước gương. Trong gương ta thấy chính mình, áo ngủ mỏng, trâm bạc hoa mai, mặt xạm.

Trong tay ta còn tờ thư Diệp Kính, hắn dùng máu viết. Máu khô có mùi tanh khe khẽ.

“Phía sau ta còn kẻ nàng chưa thấy.”

Kẻ ấy đã đến. Trước khi ta cài trâm ngày mai. Đúng lời.

Ngoài cửa sổ, sương thu bắt đầu rơi. Trắng như tro nguội, mà rơi im như dao mài chưa dùng.

Ta không tháo trâm. Ta chờ.