Hoài Cổ Truyện

Đêm Tân Hôn Ta Thiêu Cả Vương Phủ

Chương 31: Kẻ Đứng Sau

Thư của Diệp Kính vẫn còn trong tay Uyển Ngôn khi nàng bước vào thư phòng của Túc vương.

Giấy dày. Chữ nghiêng. Bảy dòng, không hơn.

Nàng có thắng ta. Nhưng phía sau ta còn kẻ nàng chưa thấy.

Nàng đã đọc lần thứ ba trên đường sang đây, rồi mới cho phép ngón tay mình siết mép giấy. Ngón cái tì lên chữ “sau”. Chữ ấy đè xuống trong đêm dày như một cái bẫy chưa đóng.

Bích Đào đứng nép cửa. Không dám thở mạnh.

Túc vương ngẩng đầu từ bàn tấu chương. Cạnh khuỷu chàng có chén trà nguội và một cây bút lông chưa đậy nắp. Vẻ mặt chàng ba đêm nay càng thêm khắc bạc, mắt hõm sâu như dưới đó có nến chưa tắt.

“Nàng chưa ngủ.” Chàng nói.

“Chàng cũng chưa.”

Nàng đặt tờ giấy lên bàn. Đẩy về phía chàng bằng hai ngón tay.

“Đọc đi.”

Chàng cầm giấy. Nghiêng dưới ngọn nến trầm hương. Mắt chàng lướt bảy dòng ngắn ngủn. Đến chữ “sau”, ngón tay chàng khựng lại một nhịp. Uyển Ngôn nhận ra khoảnh khắc ấy, dù chàng không đổi sắc mặt.

Chàng đặt tờ giấy xuống. Không gấp. Cứ để mở, mặt chữ ngửa lên trần.

Nàng nhìn thẳng chàng. Giọng nàng phẳng, phẳng đến mức chính nàng cũng nghe được tiếng gió sau lưng vọng qua song.

“Hắn nói kẻ nào?”

Túc vương lặng một khắc. Nhấc chén trà. Không uống. Đặt xuống.

“Lễ bộ thượng thư Trương Nguyên Chương.” Chàng đáp.

Nàng gật đầu chậm. Cái tên này nàng có nghe. Kiếp trước nàng chết trước khi biết cái tên nào của triều đình có sức nặng gì. Kiếp này, ba tháng ngồi trong thư phòng chàng, nàng đã nghe không ít. Trương Nguyên Chương, văn quan bậc trung, không khai quốc, không công thần. Nhưng lễ bộ nắm phong thần, phong hầu, phong tước, nắm cả những sắc chỉ khiến một hoàng tử biến thành vua. Ai lên ngôi, hắn cầm bút. Ai mất ngôi, hắn viết chỉ phế.

“Hắn là chủ mưu?”

“Không.” Chàng đáp. “Hắn là bút.”

Chàng đứng dậy. Đi đến giá sách phía sau. Rút một cuốn mỏng, bìa lụa cũ. Bên trong có ba tờ mật báo gấp làm tư. Chàng mở ra, đặt trước mặt nàng.

Nàng cúi xuống. Đọc từng dòng. Chữ trong mật báo nhỏ và dày, có chỗ mực xót đứt nét vì viết vội. Ngón tay nàng dừng lại trên dòng thứ hai của tờ giữa.

Trương Nguyên Chương… nhận chỉ mật… người ban chỉ…

Nàng ngước lên.

“Người ban chỉ là ai?”

Chàng không đáp ngay. Cầm một mảnh giấy khác trong ngăn kéo. Đặt vào tay nàng. Trên mảnh giấy chỉ có bốn chữ. Không có triện. Không có ký tên. Nhưng nàng nhận ra thể chữ ngay khoảnh khắc mắt vừa chạm giấy, thể chữ mà bảng biển nào trong Kinh đô cũng dựng theo. Thể chữ của người ngồi ngai.

Diệp Đế thân bút.

Nàng buông mảnh giấy. Nến trong phòng thoáng tối một chút. Như thể chính đèn cũng vừa nghe được điều gì.

Bốn chữ.

Vua đương triều.

Diệp Đế.

Cha ruột của chàng.

Nàng ngồi im. Cái ngồi im ấy là cái ngồi im của người đang tính lại tất cả những gì nàng tưởng nàng biết. Kiếp trước, nàng biết Đông Cung ám hại nàng. Kiếp này, nàng biết Nguyệt Nhi và Ninh phu nhân là quân cờ trung gian. Đến Đông Cung là chủ mưu, nàng cũng đã biết. Nhưng phía sau Đông Cung, cái tên nàng chưa từng dám gọi, vẫn nằm phơi trên mặt bàn này.

Vua.

“Trứng chọi đá.” Nàng nói khẽ. Không phải hỏi. Không phải than. Chỉ là một câu nói ra để tự nghe mình nói ra.

Túc vương không cười. Cũng không đáp. Chàng ngồi xuống đối diện nàng. Đặt hai bàn tay lên mép bàn. Ống tay áo trái tụt xuống một chút, để lộ mấy phân vệt sẹo dài chạy từ khuỷu tới cổ tay.

Vệt sẹo ấy nàng đã biết từ đêm rừng trại săn. Kiếp trước nàng không kịp biết. Kiếp này chàng kể, vệt sẹo đến từ cùng một Diệp Đế. Năm chàng mười hai tuổi. Người vốn phải bảo hộ chàng đã hắt chàng ra khỏi cung như hắt một chén rượu thừa.

Cha giết mẹ chàng. Cha đẩy chàng đi. Nay cha chuẩn bị giết chàng nốt.

Nàng nhìn vệt sẹo. Không nói.

“Vua muốn Diệp Kính lên ngôi.” Nàng nói. Không hỏi. Chỉ khẳng định.

Chàng gật.

“Vì Diệp Kính dễ khống chế.” Nàng tiếp. “Mẹ Diệp Kính là hoàng hậu, mà hoàng hậu đã bị thái hoàng thái hậu ép về Từ Ninh cung dưỡng bệnh. Diệp Kính không phe cánh riêng. Không tướng lĩnh riêng. Ăn học chỉ có bút, không có kiếm. Lên ngôi, vua có thể ngồi sau rèm ba năm, năm năm, mười năm. Khi vua thăng hà, Diệp Kính đã già đầu mà vẫn chưa tự đi được.”

“Đúng.” Chàng đáp. “Và ta là kẻ vua không thể ngồi sau rèm.”

Nàng gật.

Ngoài song, một cơn gió heo may đập cửa. Đêm thu Trường An tháng mười, trời hanh khô, mọi thứ bén lửa nhanh hơn thường. Cùng cái thời tiết này, đêm tân hôn kiếp trước, phòng nàng đã cháy trong nửa canh giờ.

Nàng ngước lên. Nhìn chàng.

“Vậy hôm nay vua sẽ ban chỉ tha Diệp Kính?”

Túc vương im một nhịp. Rồi đáp.

“Không phải hôm nay. Mai. Hoặc kìa. Không quá ba ngày.”

Ba ngày.

Nàng lặng.

Trong ngực nàng có một chỗ chèn xuống, như đá lăn xuống đáy giếng nhưng chưa chạm đáy.

Cả cái lưới nàng giăng suốt nửa năm, từ đêm tân hôn kiếp này đến đêm mùng tám Cửu Long Kỳ, chỉ còn ba ngày trước khi một tờ giấy vàng biến tất cả thành công cốc.

Chàng đứng dậy. Đi tới cửa sổ. Mở ra nửa cánh. Trăng cuối tháng mười lơ lửng ngoài kia, khuyết một bên như một cái miệng nửa mở, chưa nói ra được câu nào.

“Vua sẽ ban chỉ.” Chàng nói, mắt nhìn ra ngoài. “Chỉ sẽ nói: Đông Cung thái tử vì lo cho xã tắc, nghi ngờ tín vật ở Túc phủ, hành động khinh suất nhưng không ác ý. Trấn quốc công phủ có công dâng bằng chứng, được nhắc tên. Túc vương giữ tín vật lâu năm không dâng lên triều đình, có tội thất kính, nhưng vì đại cục xã tắc, được vua rộng lượng khoan hồng. Cả triều nghe, phải cúi đầu.”

Nàng ngồi lặng.

Cả triều nghe, phải cúi đầu.

Kể cả thái hoàng thái hậu, bà cũng phải cúi. Chống thánh chỉ là phản. Bà đủ sức đứng phía sau chàng khi Đông Cung tấn công đêm mùng tám, nhưng bà không đủ sức phá một tờ chỉ tha ra từ ngai vàng chính thống.

“Nếu Diệp Kính được tha,” Nàng nói, giọng nàng như tơ nhện căng trên gương, “hắn ra khỏi ngục Túc phủ. Về Đông Cung. Chưa đầy tháng, vua tấn phong lại. Bằng chứng thân phận Nguyệt Nhi ta đã đưa, hắn phủ nhận, ‘Nguyệt Nhi chỉ là quân cờ, bổn cung không hay biết’. Ninh phu nhân phủi sạch tay. Nàng ta phủi sạch tay. Vua sẽ dựng lại Đông Cung y như cũ. Chỉ chàng và ta là bị nhắm bắn tiếp.”

“Đúng.” Chàng đáp. Chỉ một chữ.

Nàng cúi mặt xuống. Nốt ruồi lệ dưới khoé mắt trái nàng giật một cái rất nhỏ, rồi thôi.

Kiếp trước.

Nàng bắt đầu. Rồi ngừng.

Chàng quay lại nhìn nàng. Ánh mắt chàng, những đêm này, có một chút gì đó nàng chưa quen. Không phải lạnh. Không phải cảnh giác. Nó giống như đợi.

“Kiếp trước, ta không sống đến chỗ này.” Nàng nói. “Ta chỉ biết trong lần ta còn tỉnh cuối, chàng còn sống. Nghĩa là đêm ấy chàng không thua. Nhưng ta không biết ba năm sau, ai lên ngôi.”

Chàng không đáp ngay. Nhìn ra trăng lâu hơn.

“Ta không nhớ đêm trước đó, đêm ta thiêu nàng.” Chàng đáp. Giọng chàng thấp. “Ta chỉ nhớ một phong thư, một cái tên. Sau đó là mấy tháng mờ. Cho đến khi ta biết ta giết oan. Rồi ta không nhớ ta đã làm gì. Chỉ nhớ một điều: kiếp trước, ta cũng không lên ngôi.”

Nàng ngẩng đầu.

“Không?”

“Không.” Chàng đáp. Đều. “Nếu ký ức ta không phải mộng, Diệp Kính lên ngôi. Nửa năm sau lên, hắn xử ta. Ta chết trong bữa tối. Thuốc độc trong chén canh.”

Nàng không nhớ nàng thở.

Vậy là. Kiếp trước. Chàng cũng chết. Cũng bị vua đương triều gián tiếp giết qua tay đứa con thứ hai. Cả hai người trong phòng này, kiếp trước, đều thua. Và cả hai người đều thua vì cùng một cái tên đang nằm ngửa mặt trên mảnh giấy giữa bàn.

Diệp Đế thân bút.

Nàng nhấc mảnh giấy lên. Đưa lên gần nến. Ngọn lửa chực bén mép giấy. Nàng dừng tay ở khoảng cách một đốt ngón.

Chưa cháy.

Nàng đặt giấy xuống.

Chưa phải lúc.

Chàng nhìn nàng làm động tác ấy. Không cản. Không hỏi. Chỉ nhìn.

“Vậy chàng định làm gì?” Nàng hỏi.

Chàng bước lại bàn. Ngồi xuống đối diện nàng. Đặt hai bàn tay lên mép bàn lần nữa. Ống tay áo trái lần này chàng khép lại. Vệt sẹo khuất.

“Nếu vua đã quyết ra chỉ tha,” Chàng nói, giọng thấp hẳn xuống, “ta không phá được. Thánh chỉ là thánh chỉ. Cả triều phải cúi. Ta cũng phải cúi.”

Nàng gật.

“Nhưng thánh chỉ chỉ tha ‘tội mưu đoạt’.” Chàng tiếp. “Tội mưu đoạt là tội nhẹ. Ăn cắp tín vật, giấu trong áo, đưa về Đông Cung. Đó là mưu. Không phải phản. Vua tha được. Vua muốn tha, vua sẽ tha.”

Ngón tay chàng gõ hai cái lên mặt bàn. Rồi đứng lại.

“Nhưng có một tội thánh chỉ không tha được. Ngay cả vua ban chỉ, cũng không tha được. Đó là tội thập ác. Tội chín tộc chu di. Tội tạo phản.”

Nàng nhìn chàng.

“Chỉ có một cách.” Chàng nói. Ánh mắt chàng nhìn thẳng nàng. Trong đó có cái gì đó của người vừa vẽ xong đường cuối cùng trên bản đồ, và biết đường đó dẫn tới đâu. “Trước khi vua ra chỉ, ta phải chứng minh Diệp Kính đã tạo phản. Không phải mưu đoạt. Là tạo phản. Có hành động cụ thể. Có binh. Có cờ. Có mệnh. Ba thứ đầy đủ để cả triều không thể quay đầu, kể cả vua.”

Nàng chậm rãi cầm cây bút chàng để lệch trên bàn, đặt lại cho ngay ngắn. Trong ngực nàng cái chỗ chèn hôm nãy giờ đè hẳn xuống.

Chứng minh tạo phản.

Nàng biết. Bằng chứng chàng đã có: Cửu Long Kỳ Diệp Kính đoạt, danh sách quan trung thần Nguyệt Nhi giao, thân phận Nguyệt Nhi là con Diệp Diễn phản thần hai mươi năm trước. Nhưng bằng chứng ấy chưa “tạo phản”. Chưa hoàn thành. Diệp Kính có thể biện: “Ta chỉ đoạt tín vật để trả về triều đình, không phải để lên ngôi.” Vua muốn tin, vua sẽ tin. Trương Nguyên Chương ở lễ bộ sẽ viết chỉ như thế.

Muốn thành tội tạo phản, phải có một hành động cụ thể của Diệp Kính: khởi binh, ban chỉ giả, ám sát vua, ám sát Túc vương. Một trong bốn. Hoặc cả bốn.

Nhưng Diệp Kính đang ngồi trong ngục sau vườn Túc phủ. Bốn thị vệ canh, hai cửa sắt, một khoá bằng đồng nặng nửa cân.

Ngoài kia còn năm trăm thân tín, còn Trương Nguyên Chương ở lễ bộ, còn Đông Cung phái ngầm. Mà không có mệnh của Diệp Kính, không ai dám tự động ra tay. Vì tấn công Túc phủ mà không có Diệp Kính, là tự dâng mình cho thái hoàng thái hậu.

Muốn có mệnh của Diệp Kính, phải để Diệp Kính ra khỏi ngục.

Nàng nhìn chàng.

Chàng nhìn nàng.

Không ai mở miệng nói câu ấy trước. Nhưng cả hai đều nghĩ tới nó cùng lúc. Cầm dao đằng lưỡi. Ai nắm lưỡi trước, kẻ ấy chảy máu trước.

Ngoài cửa thư phòng, tiếng canh vừa điểm canh ba.

Đúng khoảnh khắc ấy, ba tiếng gõ cửa vang lên. Chậm. Gọn. Không phải kiểu gõ của thị vệ thường trực. Uyển Ngôn ngẩng đầu. Túc phủ giờ này không có ai được vào thư phòng khi chàng đang bàn việc riêng.

Chàng lên tiếng: “Vào.”

Cửa mở ra một nửa. Bước vào là một người mặc áo đen, quần đen, khăn đen phủ nửa mặt. Nàng chưa nhìn mặt hắn bao giờ. Hắn quỳ. Không ngước lên. Không nhìn nàng. Chỉ nhìn chàng.

Trong tay hắn cầm một tờ giấy vàng nhạt. Không lớn hơn bàn tay.

Giấy vàng.

Trong triều, giấy vàng chỉ dùng cho một loại văn kiện.

Bản nháp thánh chỉ.

“Vương gia.” Mật thám nói. Giọng khàn. “Trong cung Càn Thanh, canh hai vừa rồi, hoàng thượng gọi lễ bộ thượng thư Trương Nguyên Chương vào cung. Đã viết chỉ. Chỉ sẽ ban ra khỏi cung vào canh năm sáng mai. Nghe nói vua đã yếu, sợ chỉ chậm mất tay, đã ép Trương thượng thư viết trong đêm.”

Canh năm sáng mai.

Không phải mai. Không phải kìa. Không phải ba ngày.

Còn hai canh giờ.

Nàng và chàng nhìn nhau. Trong khoảnh khắc ấy, cả hai người đều biết một điều: kịch bản đã đổi. Nước cờ đối phương đi trước ta hai canh. Vua không đợi. Vua đã đi trước ta một bước. Trở tay không kịp.

Chàng chậm rãi đứng dậy.

Cầm áo choàng khoác lên vai. Ngón tay chàng dừng ở cúc áo cổ. Không siết. Chỉ dừng. Ánh mắt chàng cuối cùng ngước lên. Nhìn Uyển Ngôn.

Không nói gì lâu.

Rồi chàng quay sang mật thám. Câu chàng nói ngắn, gọn, sắc như dao vừa mài:

“Xuống ngục. Đổi ca canh giữ. Đưa hai lính của ta thay. Chuẩn bị cho ngục Diệp Kính có một khe hở đủ cho một người trốn ra. Không sớm hơn canh tư. Không muộn hơn canh năm.”

Mật thám cúi đầu. Rời đi trong bóng tối. Cửa thư phòng khép lại như một hơi thở.

Nàng đứng dậy theo. Trong tay còn cầm mảnh giấy có bốn chữ Diệp Đế thân bút. Ngón tay nàng đưa lên ngọn nến trầm hương.

Lần này ngọn lửa bén mép giấy.

Bén thật.

Nàng không rút tay xuống.

Chàng nhìn ngọn lửa nhỏ trong tay nàng liếm chậm bốn chữ ấy. Chàng không cản. Không hỏi. Đến khi lửa gần đốt đến ngón tay nàng, chàng bước lại, đưa tay hứng dưới bàn tay nàng. Tro rơi vào lòng bàn tay chàng.

Chàng nắm tro lại.

“Uyển Ngôn.” Chàng gọi. “Đêm nay sẽ có lửa. Không phải lửa của kiếp trước. Nàng đừng ra khỏi phòng, dù nghe tin gì.”

Nàng nhìn nắm tro trong tay chàng.

“Ta không ra.” Nàng nói. “Nhưng chàng phải về mở cửa. Nếu không, ta không giữ cho ai cả.”

Chàng cúi đầu một cái. Trán chàng chạm nhẹ trán nàng. Chỉ một khắc, ngắn như một tiếng thở. Rồi chàng lui ra.

Ngoài cửa thư phòng, Bích Đào đứng nép vào cột. Không dám nhìn. Không dám nghe.

Chàng bước qua. Không dừng.

Uyển Ngôn đứng lại trong phòng một mình. Nến trầm hương vẫn cháy. Trên mặt bàn, tờ giấy Diệp Kính viết vẫn còn nằm ngửa, dòng cuối cùng bảy chữ, mực đen còn chưa khô hẳn.

Nhưng phía sau ta còn kẻ nàng chưa thấy.

Nàng cúi xuống. Cầm tờ giấy. Gấp làm tư. Đưa vào ống áo.

Rồi nàng nói với chính mình, giọng rất khẽ, như đang thắp một cây hương cho một bàn thờ chưa dựng:

“Ta thấy rồi.”

Cửa thư phòng đóng phía sau lưng nàng. Đêm thu tháng mười ngoài kia hanh khô. Trong hai canh giờ nữa, thánh chỉ tha sẽ ra khỏi cung Càn Thanh. Trong hai canh giờ nữa, Diệp Kính sẽ có một khe hở trong ngục sau vườn.

Trong hai canh giờ nữa, hoặc Diệp Kính chạy, hoặc chàng chết.

Và ai chạy ra khỏi Túc phủ đêm nay, khi thánh chỉ vừa ra khỏi cửa cung, sẽ không còn là kẻ mưu đoạt.

Sẽ là kẻ tạo phản.