Đêm Tân Hôn Ta Thiêu Cả Vương Phủ
Chương 34: Đại Chiến
Tiếng thị vệ hét vọng lên hành lang lần thứ hai:
“Vương phi! Người ngoài thành khiêng về đây!”
Uyển Ngôn đứng giữa thềm. Gió tạt vào mặt, mang mùi cháy nồng hơn từng khắc. Bích Đào bước sát bên, tay níu ống áo. Ta không quay đầu, chỉ mở miệng, giọng vẫn phẳng.
“Đưa lên.”
Bên dưới, tiếng ván khiêng chạm xuống sân. Một tiếng rên bật ra, nghẹn nửa chừng.
Ta xuống bậc thang. Bước không vội. Không cho phép vội. Trong ngực, chỗ ngọn lửa nhỏ vừa tắt, giờ trống hoác. Ta thay chỗ ấy bằng một hơi thở dài.
Trên tấm ván, không phải chàng.
Một thanh niên áo giáp xám, mặt xanh, tay ôm bụng. Máu thấm qua kẽ ngón, chảy xuống ván thành một vệt dài. Ta biết mặt. Mật thám thứ ba của Túc phủ, tên A Sinh. Kiếp này chàng dùng A Sinh cho việc truyền tin gấp.
Ta thở ra. Nhưng không dám nhẹ.
Nếu A Sinh về đến đây, tin hắn mang không nhẹ.
Ta ngồi xuống bên ván. Bàn tay chạm lên tay A Sinh. Lạnh. Nhưng chưa hết mạch.
“A Sinh. Ngươi nói được không?”
A Sinh chớp mắt. Mí mắt nặng. Nhưng còn tỉnh.
“Vương… phi… Trương Nguyên Chương… đã đốt kho lương ở cửa Đông Bí. Không phải kho quân. Là kho dân. Để lửa lan vào phố. Muốn… lôi người của vương… về chữa cháy.”
Ta bật dậy.
Kế Trương Nguyên Chương gọn như dao. Đốt kho dân, tạo hỗn loạn nội thành, ép Túc vương chia binh về cứu dân, làm mỏng vòng vây quanh Diệp Kính.
Cả một trò gậy ông đập lưng ông. Kiếp trước Nguyệt Nhi từng châm phong thư lấy cớ để Túc vương giết ta. Hôm nay Trương Nguyên Chương châm kho lương lấy cớ để triều đình bắt Túc vương phá vòng vây. Lửa dùng làm cớ, xưa nay không lạ.
Ta cúi xuống A Sinh.
“Túc vương biết chưa?”
“Biết. Chàng không chia binh. Chàng dặn… vương phi tự lo trong thành. Vương phi gọi thị vệ Túc phủ đến cửa Đông Bí. Không được để lửa lan quá phường Trân Bảo.”
Ta gật.
“Còn?”
A Sinh nhắm mắt. Ngực hắn nâng lên hạ xuống một lần, chậm. “Trương… đang dẫn hai nghìn quân sang phía tây tiếp viện Diệp Kính. Cầu Bạch Câu. Nếu vượt cầu… chàng bị kẹp giữa. Nếu chặn được cầu… chàng thắng.”
Cầu Bạch Câu.
Ta nhắm mắt.
Kiếp trước ta không biết cầu Bạch Câu. Kiếp trước ta chết trước cả khi cầu này thành điểm quan trọng. Kiếp này ta biết. Chàng đã bàn với ta ba đêm liền, ngón tay chàng vẽ trên mặt bàn từng đường, từng đường. Nếu Trương vượt cầu, ba nghìn quân Túc vương bị vây ngược. Nếu Túc vương chặn được, Diệp Kính cùng đường.
Cả một trận đánh treo trên một cây cầu.
Ta mở mắt. Đưa tay khép mí mắt A Sinh xuống. Không cho hắn nhìn máu chính mình nữa.
“A Sinh, ngươi giữ hơi thở. Ta có việc.”
Ta quay lại Bích Đào.
“Gọi hết thị vệ Túc phủ. Chia hai đội. Đội một đến cửa Đông Bí chữa cháy, không để lan quá Trân Bảo. Đội hai bịt các đầu phường trong nội thành, ngăn dân chạy hoảng đè lên nhau. Người của Trương lẫn trong đám cháy chắc chắn có. Bắt sống nếu được.”
Bích Đào cúi đầu. “Vâng.”
Con bé chạy đi. Ta đứng dậy. Đưa ống tay áo lên chấm khoé mắt. Không phải khóc. Chỉ là gió.
Ta ngước nhìn về phía đông. Quầng lửa đỏ đã lan rộng hơn, ôm lấy một góc trời. Trong đó có nhà dân, có trẻ con, có kho lương. Trương Nguyên Chương thà đốt dân để giữ Diệp Kính. Hắn tính bài này ba đêm. Ta chưa nghĩ đến. Ta thiếu một nước.
Nhưng chàng nghĩ đến rồi.
Chàng dặn: vương phi tự lo trong thành.
Chàng chọn không chia binh. Chàng chọn giữ vòng vây quanh Diệp Kính. Chàng đặt số phận nội thành vào tay ta.
Trong ngực ta, thay cho ngọn lửa nhỏ vừa tắt, một cái khác nhóm lên. Không rực. Bền. Y như than trấu trong lò lâu ngày, không thấy ngọn mà đun sôi được cả nồi.
Ta rút một chiếc trâm khác trên tóc, tự tay bới lại búi. Gọn. Cột chặt. Nếu hôm nay ta phải đứng chỉ tay ngoài phường, tóc phải gọn, khăn phải sạch, dáng phải vững. Vợ Túc vương ra phường trước tinh sương, ai thấy phải sợ, không được thấy thương.
Ba nghìn quân ngoài đèo Tây Sơn dàn thế cánh cung, khép hai đầu, ép Diệp Kính vào giữa từ giờ Sửu. Trời chưa sáng. Lính hai bên đánh dưới đèn đuốc. Đuốc cháy hắt lên cỏ đẫm sương, khói và lửa hoà một màu.
Túc vương ngồi trên ngựa cao, giáp bạc, khăn tang trắng buộc ngang tay áo (dành cho mẹ đẻ, chàng không bỏ được). Vết sẹo dài trên cổ tay lộ ra dưới ánh đuốc. Bên hông chàng đeo trâm bạc hoa mai, giấu dưới đai, sát chỗ tim. Không ai thấy trừ chàng.
Chàng đưa mắt về phía đông. Trên bầu trời Trường An, quầng đỏ đang lan. Chàng biết đó là cửa Đông Bí. Trương đốt kho lương. Chàng biết trước một canh giờ, A Sinh đã báo. Chàng cũng biết Uyển Ngôn sẽ nhận tin, sẽ đứng ở đâu, sẽ ra lệnh gì.
Chàng thở ra một hơi. Nhẹ.
Nàng lo trong thành. Ta lo ngoài thành. Người khác thấy chàng bỏ nội thành cho vợ trẻ, nàng bao nhiêu tuổi, biết gì. Chàng không giải thích. Ai muốn nói cứ nói. Chàng giao nàng được. Đủ.
Chàng ra hiệu.
“Trần Trạc.”
Một tướng trung niên phi ngựa đến, cúi đầu. “Bẩm vương.”
“Dẫn nghìn kỵ, cắt cầu Bạch Câu. Trương Nguyên Chương đang tới. Không cho hắn đặt chân sang bờ tây. Bắt sống, không được giết. Ta cần khẩu cung.”
“Vâng.”
Trần Trạc phi đi. Đằng sau, một nghìn kỵ mã tách khỏi vòng vây, chia làm hai cánh, lao về hướng bắc. Đất rung. Hai nghìn quân còn lại của Túc vương ép vòng vây chặt hơn, bù cho khoảng trống. Không sơ hở.
Trong vòng, Diệp Kính đứng giữa. Áo giáp đen ám khói. Mắt ánh đuốc. Tinh binh của hắn từ năm trăm rớt còn ba trăm sau canh Tí. Vòng khép sát. Không lối ra.
Hắn hét.
“Túc ca!”
Túc vương không đáp.
“Túc ca, đệ cầu sinh. Có gì không thương lượng được?”
“Ta không ra chiến trường để thương lượng.”
Câu ấy rơi xuống như đao. Diệp Kính co tay cầm cương. Hắn liếc về hướng bắc. Trương Nguyên Chương hứa hai nghìn quân Lễ Bộ tới cầu Bạch Câu. Còn nửa canh giờ. Hắn phải giữ nửa canh giờ.
“Bố trận!”
Ba trăm tinh binh dồn lại. Vòng tròn khép, giáo dài ra ngoài, cung ngắn trong. Vòng nhỏ, kín. Nhưng hai nghìn quân bên ngoài không cần đánh gấp. Chỉ cần vây.
Túc vương xuống ngựa. Bước lên đài đá cao. Ra hiệu. Cánh cung khép chặt thêm.
“Nửa canh giờ nữa. Ai đầu hàng, ta không xử.”
Giọng chàng không cao. Nhưng gió mang xa. Trong vòng vây, có vài thân binh liếc nhau. Diệp Kính hét:
“Ai bỏ giáo ta chém!”
Cả đám lặng. Chỉ có tiếng gió cắt qua cờ.
Túc vương gật. Cung thủ ngoài vòng nâng cung. Một loạt tên đen rít lên trời, cắm xuống vòng. Kim khí chạm khiên khô. Máu bắt đầu chảy.
Trận đánh bước sang khúc mới.
Cửa Đông Bí. Trước tờ mờ sáng.
Ta ngồi trên kiệu nhỏ, chỉ hai người khiêng, xen giữa hai hàng thị vệ Túc phủ. Áo khoác choàng đen, tóc bới đơn, không cài trang sức. Ai nhìn cũng không đoán được đây là Túc vương phi. Nhưng thị vệ hai bên ngăn thẳng, không ai dám ập tới.
Trước mắt ta, cả một dãy phường bốc lửa. Kho lương công cửa Đông Bí, hai kho tư nhân cạnh, thêm nửa dãy nhà dân sát bên. Người chạy, khóc, gọi con. Có bà mẹ ôm đứa nhỏ trần không mảnh vải, đứng giữa đường không biết đi đâu.
Ta bước xuống kiệu. Vươn tay, ra hiệu cho thị vệ. Đội một chia ba, ba dòng người chạy vào ba hướng cắt lửa. Đội hai bọc lấy đầu phường, ngăn dân trong ra và dân ngoài vào. Bích Đào đi bên ta, cầm một cuộn khăn ướt, phát cho ai cần.
Ta bước đến chỗ người mẹ ôm đứa nhỏ. Cúi xuống, cởi áo choàng của mình, khoác lên đứa bé.
“Đến thềm nhà Bích công. Bích công là cha nha hoàn của Túc phủ. Nói vương phi cho ở tạm. Không ai được đuổi ngươi.”
Bà mẹ chớp mắt. “Vương… vương phi?”
Ta không đáp. Đứng lên. Đi tiếp.
Đám dân bên đường vẫn khóc, nhưng lặng bớt một chút. Có kẻ chỉ tay, thì thầm: Túc vương phi. Vợ vương ra. Có Túc vương phi ở đây. Không sao.
Ta không cần họ biết mặt. Ta cần họ nhìn thấy có người đứng. Nội thành đêm nay không được để lửa cháy vô chủ. Ai muốn Trường An hỗn loạn, ta không cho hỗn loạn.
Một thị vệ chạy tới, quỳ xuống. “Vương phi. Bắt được ba tên châm lửa. Người của Trương. Có lệnh bài Lễ Bộ trong người.”
Ta không nhìn kẻ bị bắt. Chỉ đáp:
“Nhốt. Đợi vương về.”
Ngước lên phía tây thành. Đường xa. Cầu Bạch Câu ở đó. Chàng ở đó.
Trong ngực, than nhỏ ta vừa nhóm không tắt. Cháy đều. Ta thầm nghĩ: chàng đã tin ta. Ta không được để chàng phải quay đầu.
Bích Đào bước tới, giọng khẽ.
“Vương phi. Đã dập được kho lương công. Nhà dân đang cứu.”
Ta gật.
Trên trời phía đông, sao mai bắt đầu nhoà.
Cầu Bạch Câu. Giờ Dần.
Trần Trạc đứng ở đầu cầu, kỵ binh dàn hàng ngang chắn cả lối. Bên kia sông, hai nghìn quân Lễ Bộ dinh vừa lên đến bờ. Trương Nguyên Chương cưỡi ngựa đi đầu, áo quan đen, mão còn nghiêng nghiêng, giọng gấp:
“Cấp báo! Kho Đông Bí cháy! Ta đang vào cứu!”
Trần Trạc cười lạnh. “Vương phi tự lo trong thành. Không cần Trương thượng thư cứu.”
Trương Nguyên Chương xạm mặt.
“Trần Trạc. Ngươi cản ta là chống lệnh cứu hoả.”
“Ta cản ngươi là theo lệnh Túc vương. Ngươi lui, ta không giết. Ngươi qua cầu, ta chém.”
Trương ra lệnh xung phong. Hai nghìn quân dồn lên. Nhưng cầu hẹp, hai bên vực đá, mỗi đợt chỉ được năm hàng ngựa cùng lúc. Trần Trạc dàn cung thủ trên hai vách đá cao đầu cầu. Đợt xung phong đầu tiên bị bắn ngã lăn xuống sông. Nước sông đen ánh sao mai, giờ đỏ.
Đợt hai, đợt ba, cùng vậy. Đến đợt tư, Trương Nguyên Chương biết không qua được. Hắn giục ngựa lui, tìm đường vòng.
Nhưng Trần Trạc đã cho hai cánh kỵ chặn hai bên bờ. Trương bị kẹp giữa. Không tiến, không lui.
Trần Trạc phi ngựa xuống, cầm giáo dài, chỉ vào Trương.
“Xuống ngựa. Bỏ mão. Cột tay.”
Trương Nguyên Chương ngồi trên ngựa, ánh mắt chợt cụp. Hắn biết. Cả trận này hắn thua ở chỗ Túc vương không rời vòng vây quanh Diệp Kính, dù nội thành cháy. Hắn tính chàng phải chia binh. Chàng không chia. Vì chàng có ta.
Trương xuống ngựa. Bỏ mão. Đưa tay ra.
Hắn không tự tử. Không kịp. Bốn thị vệ đã trói ngay lập tức. Miếng vải nhét vào miệng. Không cho lưỡi cắn.
Bốn khắc sau, một kỵ mã phi tới đèo Tây Sơn, quỳ trước ngựa Túc vương.
“Bẩm vương. Trương Nguyên Chương bị bắt sống ở cầu Bạch Câu. Hai nghìn quân Lễ Bộ, năm trăm đầu hàng, phần lại bỏ chạy. Trần tướng đang áp giải Trương về Trường An.”
Túc vương gật một cái.
“Không cho hắn tự tử. Không cho hắn cắn lưỡi. Không cho hắn nghỉ tay. Ta cần khẩu cung.”
Kỵ mã đi.
Chàng quay nhìn vòng vây. Ánh mắt không đổi. Nhưng tay cầm cương xiết chặt một chút. Trâm bạc dưới đai, chạm vào bụng, lạnh.
Chàng nghĩ đến ta. Không nói. Chỉ ra lệnh.
“Đánh.”
Trong vòng, Diệp Kính đứng giữa. Tay còn cầm trường kiếm. Áo hắn đã nhuộm máu tinh binh của chính hắn, không phải của địch. Thân binh còn hơn trăm. Cung không đủ dây, giáo phần lớn gãy. Vòng vây đã sát đến ba trượng.
Ba nghìn quân bên ngoài không xung phong. Chỉ giữ vòng. Chỉ bắn tên. Chỉ khép chậm. Diệp Kính biết mất Trương từ khoảnh khắc kỵ mã báo. Hắn không hét. Không chửi. Chỉ đứng.
Túc vương xuống ngựa. Chàng cầm cương, tiến sáu bước. Dừng cách Diệp Kính hai trượng.
“Diệp Kính. Buông giáp.”
Diệp Kính cười. Tiếng cười khô như ngói vỡ.
“Túc ca. Ca cứ tưởng hôm nay chỉ có mình huynh có phe? Trong cung còn thân phụ ta. Vua đương triều còn thở. Ban chỉ tha ta hay không, cũng phải chờ ý người.”
“Ban chỉ ấy giờ Mão đã bị thái hoàng thái hậu thu hồi. Trước cả khi ngươi ra khỏi Đông Cung.”
Diệp Kính khựng.
Túc vương tiếp, giọng đều.
“Ngươi nghĩ ngươi trốn được là vì ngục Túc phủ sơ suất? Ta cho ngươi trốn. Để ngươi ra chiến trường. Để cả triều thấy ngươi tạo phản, không phải chỉ ‘mưu đoạt’. Trương thượng thư của ngươi, bị bắt sống ở cầu Bạch Câu. Không ai tới cứu ngươi nữa. Sự đã một mất một còn.”
Diệp Kính chống kiếm xuống đất. Vai run một cái. Không quỳ. Trong dòng máu Diệp gia, quỳ trước ai không phải cha đẻ là điều cấm kỵ.
Hắn ngước lên.
“Ca thắng.”
Túc vương gật.
“Thắng.”
Diệp Kính từ trong tay áo rút một mảnh lụa. Vàng. Thêu chỉ đỏ. Hắn giơ lên. Bốn chữ lớn nét cứng, còn thấy vết kim mảnh chưa mờ.
Đông Cung Chính Thống.
“Cờ này ta tự thêu. Ta thức năm đêm. Kim đâm ngón mười bảy lần. Ca có biết vì sao ta thêu không?”
Túc vương im.
“Vì ta biết dù ta sống, dù ta chết, ta chỉ được nhớ là ‘thái tử bị vua bỏ rơi’. Không ai nhớ ta là gì. Ca nay giết ta, cả triều sẽ nhớ ca. Không ai nhớ ta. Ta thêu cờ này để hôm nay giơ lên. Để trong sử sách, có bốn chữ cạnh tên ta.”
Túc vương im một hồi. Mở miệng.
“Bốn chữ ấy ngươi thêu đúng. Nhưng ngươi nhầm một chỗ. Ngươi không phải chính thống của Đông Cung. Chỉ là con vua bỏ rơi. Chính thống ở đâu, thái hoàng thái hậu định. Nay bà định về ta.”
Diệp Kính cười lần nữa. Lần này không khô. Đau.
“Vậy ca cầm lấy cờ này. Ta không cầm nữa. Cầm lấy, để sử ghi ca đã thắng cái gì.”
Hắn giơ cờ. Túc vương không đón.
Diệp Kính hạ tay.
Một tay cầm cờ. Một tay cầm kiếm.
Chỗ lụa vàng còn thơm dầu gấm. Chỗ mũi kiếm còn dính vết mài.
Diệp Kính đưa mũi kiếm dưới cằm mình. Cắm xuống cổ. Đẩy lên.
Máu phun.
Cờ vàng đỏ thêm.
Bốn chữ Đông Cung Chính Thống nhuộm đỏ, dính vào nhau, không đọc ra được nữa.
Hắn ngã. Cờ còn trong tay. Không rời.
Đèo Tây Sơn im.
Hai nghìn quân của Túc vương đứng lặng. Trăm tinh binh còn lại của Diệp Kính buông giáo. Có kẻ khóc. Có kẻ ngồi bệt xuống đất. Không ai nói gì.
Túc vương xuống ngựa. Chàng bước tới chỗ Diệp Kính nằm. Cúi xuống. Nhìn bốn chữ trên lụa vàng, giờ đỏ như son đại lễ. Máu còn ấm.
Chàng đưa tay, khép mắt Diệp Kính.
“Ngươi thêu đủ.”
Câu ấy nhẹ. Không ai nghe. Chỉ có gió, chỉ có sương, chỉ có bốn chữ trên cờ đang thấm dần.
Chàng đứng dậy. Trâm bạc dưới đai chạm vào bụng, lạnh. Chàng nhớ ta.
“Về Trường An.”
Hai nghìn quân dạ vang. Cờ Túc phủ dựng lên đầu đèo. Cờ Đông Cung vàng nhuộm đỏ của Diệp Kính, không ai chạm.
Trên chiến trường, một tên tân binh trẻ, mặt còn non, bước tới nhặt cờ vàng. Giơ lên. Bốn chữ vẫn còn hình, nhưng phải nghiêng nghiêng đầu mới đọc được, đọc dưới lớp máu.
Đông Cung Chính Thống.
Đọc rồi cụp xuống. Không ai cắm. Không ai giữ. Cờ ấy sẽ không bao giờ được cắm lại nữa.
Xa nơi ấy, trong cửa Đông Bí, ngọn lửa cuối cùng của Trương Nguyên Chương đã tắt. Người khiêng ván khiêng đi qua ta, trên ván không phải người sống, cũng không phải người chết, chỉ là một cái xác của kẻ châm lửa, bị dân đè chết trong lúc chạy. Ta đứng nhìn. Không nói.
Rồi ta ngước lên phía tây.
Ở đó, trên đường về từ Tây Sơn, một đoàn kỵ mã đang lao qua sương. Đi đầu, một chiếc áo giáp bạc. Bên hông, một cây trâm bạc hoa mai, vẫn còn.
Ta chưa nhìn thấy. Ta chỉ đoán.
Nhưng trong ngực ta, than nhỏ ấy, không tắt.