Hoài Cổ Truyện

Đêm Tân Hôn Ta Thiêu Cả Vương Phủ

Chương 7: Bàn Trà Trong Vườn Đông

Sáng hôm ấy, sương thu vẫn còn đọng trên lá thường xuân ngoài song.

Uyển Ngôn không ngủ. Nàng ngồi ở mép giường, tay lần bên vạt chăn, ngón cái ấn vào chỉ khâu cho khỏi run. Ngoài song, gà gáy hai lượt. Bích Đào bước vào không tiếng động, thấy chủ nhân ngồi thẳng như cột nến, mặt trắng hơn cả sương ngoài kia, thì cúi đầu.

“Vương phi, đêm qua ngài không nghỉ?”

Uyển Ngôn lắc đầu. Nàng không nghe rõ tiếng Bích Đào. Trong đầu nàng chỉ vang một tiếng: có kẻ đứng ngoài cửa đêm qua.

Bụi trầm hương ở bậc cửa. Dấu giày còn in mờ. Nàng đã cúi xuống xem trước khi trời rạng. Không phải giày nữ nô. Không phải giày Bích Đào. Là giày thị vệ. Mũi vuông. Đế mỏng. Đường khâu chỉ trắng. Giày của người phía đích mẫu.

Nàng khép mắt. Có kẻ đã nghe. Có kẻ đã đứng đó rất lâu.

Nghe được đến đâu? Nghe câu nào? Nàng và Bích Đào đêm qua có bàn hộp trang sức mẹ ruột không? Có nhắc chữ “Đông Bí Lâu” không?

Uyển Ngôn cố kéo lại từng lời. Nàng nhớ nàng đã hạ giọng khi nói chữ ấy. Nàng nhớ Bích Đào cũng cúi đầu, hơi thở phập phồng. Nhưng phòng này tường mỏng. Đêm khuya tĩnh. Kẻ áp tai vào ván cửa nghe được lời nghẹn cũng không lạ.

Bích Đào rót nước sen. Chén sứ trắng, hoa văn xanh mờ. Uyển Ngôn cầm chén, không uống. Ngón tay nàng lành lạnh trên men sứ.

Hộp trang sức mẹ ruột đã cất kỹ dưới đáy tủ, khoá bằng chìa nàng mang trong người. Mảnh giấy chữ “Đông Bí Lâu 3-15” đã nhét vào lai áo trong. Kẻ ngoài cửa dù có mắt, cũng không thấy được vật ấy.

Nhưng nếu kẻ ấy nghe được nàng và Bích Đào bàn hộp, bàn di vật, bàn Vân di nương, thì ba ngày báo mẫu tang này, nàng đã lộ nửa bàn cờ.

Uyển Ngôn khẽ thở ra. Trò chơi này, đối thủ đã biết nàng đang chơi.

Cửa gõ nhẹ. Một nữ nô Trấn phủ đứng ngoài, tay bưng khay đỏ, trên khay có tấm thiếp giấy dó gấp đôi.

“Bẩm vương phi, phu nhân sai nô tì đến mời. Sáng nay tiết trời tốt, phu nhân mở tiệc trà nhỏ ở vườn đông. Xin vương phi thưởng mặt.”

Bích Đào liếc Uyển Ngôn. Trong ánh mắt Bích Đào có gì đó nàng đọc được: đừng đi. Nhưng Uyển Ngôn chỉ khẽ gật.

“Ta biết rồi. Ta thay áo, ra ngay.”

Nữ nô lui. Bích Đào đóng cửa. Vừa đóng xong đã quay lại, giọng thấp:

“Vương phi. Đêm qua có kẻ nghe lén. Sáng nay đích mẫu mời trà. Không phải trùng hợp.”

Uyển Ngôn cười nhẹ. Nụ cười của nàng không đến mắt.

“Ta biết. Chính vì không phải trùng hợp, ta mới phải đi.”

Nàng đứng dậy, tự lấy chiếc áo màu bạch ngọc trong tủ. Áo mỏng, cổ cao, ống tay rộng. Không phải áo tiếp khách sang. Không phải áo chịu tang. Ở giữa. Vừa vặn khiến Ninh phu nhân không có cớ khen, cũng không có cớ chê.

“Vương phi, để nô tì đi theo.”

“Đi. Nhưng khi đến vườn đông, nàng đứng bên ngoài. Ta gọi, nàng vào. Ta không gọi, nàng đừng bước một bước.”

Bích Đào cúi đầu. Trong lòng nàng ta, có gì đó siết chặt.

Vườn đông Trấn phủ nằm sau chính điện, cách một bức tường thấp phủ thường xuân. Đầu thu, thường xuân đã ngả vàng. Gió sớm luồn qua cổng gỗ, đưa mùi trà đến trước cả tiếng bước chân.

Ninh phu nhân đã ngồi sẵn.

Bà mặc áo tím nhạt, tóc búi cao, cài trâm ngọc trắng. Không lộng lẫy quá. Không nhạt quá. Một phu nhân đích mẫu tiếp con dâu, không hơn không kém. Ngồi bên tay trái bà, Nguyệt Nhi mặc áo phù dung hồng, môi son mỏng, tay chống cằm. Nàng ta thấy Uyển Ngôn vào, đưa mắt, cười.

“A tỉ. Muội chờ tỉ nãy giờ.”

Uyển Ngôn cúi lễ Ninh phu nhân trước.

“Con chào mẹ. Mẹ sớm quá.”

“Con còn ngủ được mà đến. Mẹ mừng.” Ninh phu nhân vẫy tay. “Ngồi đây, cạnh mẹ.”

Uyển Ngôn ngồi. Bàn trà bằng gỗ tử đàn thấp, mặt bàn nhẵn bóng. Trên bàn đặt bộ ấm sứ trắng, ba chén nhỏ, một ấm trà. Cạnh ấm trà là một đĩa mứt lê tuyết, cắt lát mỏng, đường trắng phủ mờ.

Nguyệt Nhi hồ hởi:

“Tỉ, hôm nay mẹ pha loại trà lê tuyết đặc biệt. Mẹ nói phải ướp ba đêm với hoa lê mới ra được. Cả kinh thành mỗi năm chỉ có ba, bốn nhà pha nổi. Tỉ nếm thử.”

Uyển Ngôn liếc ấm trà. Ấm đã rót. Ba chén, ba lượng trà bằng nhau. Chén cạnh mình. Chén cạnh Nguyệt Nhi. Chén cạnh Ninh phu nhân.

Trong đầu nàng, một tiếng chuông cũ vang lên.

Kiếp trước, tháng thứ chín tang mẹ, Uyển Ngôn cũng ngồi bàn trà này. Cũng vườn đông. Cũng trà lê tuyết. Nàng đã uống. Nửa canh giờ sau, tay chân lạnh. Đêm ấy hành kinh, chảy đến sáng không dứt. Bích Đào chạy về Túc phủ báo, Túc vương phái người mang thuốc đến, không kịp. Nàng nằm liệt hai tháng. Từ đó nàng biết Ninh phu nhân không cần đầu độc chết ngay. Bà chỉ cần khiến nàng chảy máu, khiến thân thể nàng vỡ dần, khiến nàng vô sinh. Con dâu Túc vương không con, dòng dõi Túc vương đứt, thái hoàng thái hậu không có đường bảo hộ. Cờ chỉ cần một nước, đi được cả mười năm.

Trà lê tuyết ướp ba đêm hoa lê nghe rất thơm. Bên trong, có vị thuốc nàng đã nếm. Vị chát của quy vĩ hoà với vị đắng nhẹ của xạ hương. Không đủ để chết. Đủ để chảy.

Uyển Ngôn khẽ nâng chén trà. Chưa uống, đưa lên mũi.

“Mẹ pha đúng thật. Mùi hoa lê nồng.”

Ninh phu nhân cười. Mắt bà nhìn Uyển Ngôn không rời.

“Con nếm đi. Trà nguội mất ngon.”

Uyển Ngôn cúi đầu. Đưa chén lên miệng. Nhưng nàng chỉ chạm môi, không nuốt. Chén hạ xuống, nàng mỉm cười:

“Ngon quá. Mẹ dạy pha loại này được không? Con về Túc phủ sẽ pha cho ngài ấy uống.”

Ninh phu nhân gật gật đầu, “Được. Chút nữa mẹ chép công thức cho con. Con uống hết chén này đã.”

Nguyệt Nhi cầm chén của mình lên, nhấp một ngụm nhỏ. “Đúng là ngon. A tỉ, tỉ uống chậm quá. Muội đây, muội uống một hơi cạn luôn.”

Uyển Ngôn khẽ liếc. Nàng ta uống nhanh. Nàng ta biết chén nàng ta là chén sạch. Kiếp trước cũng vậy. Nguyệt Nhi biết chén nào có thuốc, chén nào không. Kịch bản đã sắp: chỉ có chén Uyển Ngôn tẩm.

Nàng đặt chén xuống. Trong lòng, tim đập chậm và đều.

Đổi chén. Bằng cách nào?

Ngoài cổng vườn, đàn chim khách kêu ríu rít trên rặng cây quế. Ninh phu nhân quay đầu.

“Sáng nay chim khách kêu. Có lẽ có tin vui đến.”

Đó là lúc. Uyển Ngôn khẽ đưa tay áo lên, làm bộ vén tóc mai. Ống tay dài, phất một cái. Đĩa mứt lê tuyết chao. Vài lát trắng rơi ra bàn.

“Ôi.” Uyển Ngôn kêu nhỏ. “Con vụng quá.”

Nguyệt Nhi chồm người lấy khăn tay lau. Uyển Ngôn cũng chồm. Hai người cùng nghiêng, chén trà trên bàn xáo. Trong khoảnh khắc Nguyệt Nhi đưa khăn lau về phía đĩa mứt, tay áo Uyển Ngôn phủ qua bàn. Chỉ một cái xoay cổ tay. Chén nào đứng đâu, không ai còn nhớ chính xác.

Ninh phu nhân nhìn xuống, “Có gì đâu. Vài lát mứt thôi. Bích Đào, mang khăn khô lên.”

Bích Đào từ ngoài cổng vườn bước vào. Tay bưng khăn khô. Nhìn thấy hai chén trà xáo lộn vị trí trên bàn gỗ tử đàn, mắt Bích Đào chỉ thoáng khựng. Nàng cúi đầu, lau bàn, không nói.

Uyển Ngôn thẳng người lại. Cầm chén đứng trước mặt mình. Đó là chén trước đây thuộc Nguyệt Nhi. Chén sạch.

“Mẹ, con uống nhé.”

“Uống đi con.”

Uyển Ngôn uống một hớp lớn. Trà ấm, thơm. Không có vị thuốc. Nàng thở nhẹ, cảm giác thân thể mình chưa từng nhẹ nhõm đến thế trong sáu ngày qua.

Nguyệt Nhi cũng cầm chén đứng trước mặt nàng ta. Chén cũ của Uyển Ngôn. Chén tẩm.

“Muội cũng uống.” Nàng ta cười tươi.

Ngụm đầu. Nguyệt Nhi hơi khựng.

Uyển Ngôn không nhìn thẳng. Nàng cúi đầu, giả vờ chú tâm vào lát mứt trên đĩa, ngón trỏ khều nhẹ.

Nguyệt Nhi ngụm thứ hai. Nàng ta nhíu mày một cái rất khẽ.

“Trà hôm nay hơi lạ.” Nàng ta nói, giọng bình thường, nhưng đầu lưỡi vướng.

Ninh phu nhân đưa mắt sang. Mắt bà thoáng chần chờ.

“Con thấy lạ ở chỗ nào?”

“Không có gì. Có lẽ muội uống nhanh quá.”

Nguyệt Nhi đặt chén xuống. Nàng ta ho khẽ. Một tiếng, rồi hai tiếng. Bàn tay đưa lên môi, khép chặt lại như che gió.

Ninh phu nhân đứng dậy, “Con gái mẹ, có sao không?”

Uyển Ngôn ngẩng đầu. Trên mặt nàng là ánh cười lo lắng vừa đủ, không dư một phần.

“Mẹ, muội muội bị nghẹn à? Con lấy nước sen cho muội.”

Nguyệt Nhi lắc đầu, giọng bối rối, “Không, không nghẹn. Chỉ hơi ho. Chắc do gió sáng lạnh.”

Ninh phu nhân nhìn Nguyệt Nhi thật kỹ. Mặt bà không đổi. Nhưng ai đã ba mươi năm nhìn mắt đàn bà, sẽ thấy: có gì đó vừa rơi xuống đáy mắt bà, chìm rất sâu, rất nhanh.

Uyển Ngôn thấy. Nàng thấy rất rõ.

Ninh phu nhân đang tự hỏi: chén tẩm đã đi lạc rồi sao? Con gái ruột mình vừa uống nhầm sao?

Uyển Ngôn nghiêng đầu, đặt chén xuống. Rồi cầm ấm trà, tự tay rót thêm cho mình một chén nữa. Ấm trà vẫn còn nóng, khói mỏng bay.

“Trà mẹ chọn ngon quá. Con uống một chén nữa nhé.”

Ninh phu nhân quay đầu. Đôi mắt bà đứng yên trên chén trà trong tay Uyển Ngôn. Không phải chén tẩm ban đầu. Đó là chén sạch. Bà biết. Bà biết rất rõ. Nhưng bà không thể nói.

Bà không thể nói “Không, đừng uống chén ấy” vì như thế bà thừa nhận có chén cần tránh.

Bà không thể nói “Con uống thêm đi” vì nếu Nguyệt Nhi càng ho, càng chảy, càng cho thấy chén kia là chén tẩm.

Ninh phu nhân đứng chết trân giữa vườn đông. Trên tay bà chén trà chưa cạn. Bên cạnh bà, Nguyệt Nhi ho khẽ, thêm một tiếng, rồi thêm tiếng nữa.

Uyển Ngôn nhấp chén thứ hai. Ánh mắt nàng chưa từng rời khỏi Ninh phu nhân.

Nàng biết. Bây giờ nàng biết Ninh phu nhân biết nàng biết.

“Mẹ, mẹ ngồi xuống đi. Sao mẹ đứng thế?”

Ninh phu nhân ngồi. Bà ngồi rất chậm. Ngồi xuống ghế mà như ngồi xuống một cái hố.

Nguyệt Nhi đưa khăn tay lên môi. Khi hạ xuống, trên khăn có một vệt hồng nhạt.

Máu.

Nàng ta nhìn khăn tay. Mắt nàng ta chớp một cái. Rồi hai cái. Rồi ngẩng lên, không nhìn Uyển Ngôn, cũng không nhìn mẹ. Nhìn về phía đĩa mứt trên bàn, như thể còn chưa hiểu chuyện gì.

“Mẹ.” Giọng Nguyệt Nhi run một chút. “Mẹ, sao muội chảy máu miệng?”

Ninh phu nhân giật mình như tỉnh giấc. Bà đứng dậy quá nhanh, đầu gối va vào bàn. Ấm trà nghiêng. Nước trà nóng đổ ra mặt bàn gỗ tử đàn, bốc lên hơi.

“Nguyệt Nhi. Con vào phòng nghỉ.” Giọng bà cứng đơ. “Có lẽ trà mới quá, con không quen. Mẹ đưa con vào.”

Uyển Ngôn ngồi yên. Nàng đặt chén trà xuống, sạch sẽ, đúng chỗ.

“Mẹ, con phụ mẹ đưa muội vào không?”

“Không cần.” Ninh phu nhân đáp gấp. “Con ngồi đây uống nốt trà. Mẹ đưa muội vào một chút.”

Bà dìu Nguyệt Nhi đứng dậy. Nguyệt Nhi loạng choạng. Bàn tay nàng ta đưa lên tóc, kéo. Cây kẹp bươm bướm ngọc trên tóc nàng ta rung một cái, xuýt rơi. Uyển Ngôn liếc thấy.

Chính kẹp ấy. Kiếp trước, nó nằm trong tay nàng, được Ninh phu nhân vu là “trộm”. Kiếp này, nó vẫn còn trên đầu Nguyệt Nhi. Chưa được trao. Chưa được cài lên tóc Uyển Ngôn.

Chưa. Nhưng sẽ.

Ninh phu nhân đưa Nguyệt Nhi ra khỏi vườn đông. Từng bước bà đi, gót giày gõ trên đá xanh. Không nhanh. Không chậm. Bà không dám để lộ. Nhưng lưng bà cứng.

Uyển Ngôn ngồi lại một mình. Bích Đào tiến vào, cầm bình trà nóng khác, chuẩn bị rót thêm.

“Vương phi…” Bích Đào lí nhí.

“Rót đi. Ta muốn uống thêm.”

Bích Đào rót. Tay Bích Đào run. Uyển Ngôn thấy tay Bích Đào run, nhưng không nói. Nàng nhấc chén, chậm rãi.

Nắng lên. Vàng nhạt phủ mặt bàn gỗ tử đàn. Chỗ trà đổ đã bốc hơi gần hết. Còn một vết ẩm mờ.

Nàng nhìn vết ẩm ấy. Trong đầu, một tiếng vang.

Ăn miếng trả miếng. Ninh phu nhân, mẹ dạy con câu này từ khi con lên bảy. Hôm nay con trả cho mẹ chén đầu. Con còn nhiều chén nữa để trả. Mẹ nhớ chờ.

Nàng đặt chén xuống. Bích Đào lại gần.

“Vương phi. Nguyệt Nhi tiểu thư…”

“Không sao đâu.” Uyển Ngôn ngắt lời. “Không đủ để chết. Đủ để nàng ta nằm liệt hai tháng. Nàng ta thuộc lòng vị trí chén, không ngờ chén lạc chỗ.”

Bích Đào há miệng, khép lại. Nàng ta không dám hỏi.

Uyển Ngôn nhìn lên trời. Trời thu xanh sạch, không mây.

“Bích Đào.”

“Dạ.”

“Đêm qua có kẻ nghe lén phòng ta. Ngươi kiểm tra dấu giày ngoài cửa còn không?”

“Còn ạ. Nô tì đã dặn Tiểu Thanh không quét sáng nay.”

“Tốt. Ngươi vẽ lại kích cỡ dấu giày. Gửi về Túc phủ cho ngài ấy. Ta muốn ngài biết chuyện đêm qua trước khi ta về.”

“Vâng.”

“Nói thêm: sáng nay ta uống trà lê tuyết. Ta không uống chén ban đầu. Ta uống chén thứ hai. Đích mẫu đưa Nguyệt Nhi tiểu thư về phòng. Ngài đọc rồi hiểu.”

“Dạ.”

Bích Đào lui. Bước chân nàng ta gấp hơn thường ngày.

Uyển Ngôn ngồi lại một mình trong vườn đông. Gió thổi qua rặng thường xuân vàng. Vài lá rơi trên mặt bàn. Nàng cầm chén trà thứ hai, uống hết.

Ngon thật. Trà lê tuyết ướp ba đêm hoa lê. Cả kinh thành mỗi năm chỉ có ba bốn nhà pha nổi.

Đáng tiếc. Đây là chén cuối cùng nàng uống trong vườn này, trong đời này.

Nửa canh giờ sau, tin từ hậu viện Trấn phủ vọng ra.

“Đại tiểu thư Nguyệt Nhi ngã bệnh đột ngột. Miệng chảy máu. Phu nhân cấp tốc gọi lang trung.”

Trong sảnh khách, Uyển Ngôn ngồi bên cha. Trấn quốc công Tô Kiến hôm nay tỉnh táo hơn. Ông nghe tin, ngẩng đầu.

“Ngôn Ngôn, muội con…”

“Cha đừng lo. Muội chỉ mới uống mấy chén trà. Chắc do trà đặc quá.”

Trấn công gật đầu. Ông vốn hiền, không hay nghi ngờ vợ. Nhưng lần này, có gì đó trong ông kéo một sợi dây rất mỏng. Ông nhìn con gái mình, con thứ. Đôi mắt Uyển Ngôn giống mẹ nàng ba năm về trước, khi Vân di nương còn sống, khi bà mỉm cười trong hoa mai vườn tây.

“Ngôn Ngôn.” Ông khẽ nói. “Con… con giống mẹ con quá.”

Uyển Ngôn nắm tay cha. Tay ông gầy, ấm. Trong lòng nàng có gì đó vụn ra, rơi rất nhẹ.

“Cha, con là con của mẹ. Con giống mẹ là tự nhiên.”

Cha nàng gật. Ông nhắm mắt một chút. Khi mở, mắt ông ngậm nước.

“Cha… cha nhiều năm nay không hỏi con. Con ở phủ có được đối tốt không?”

Uyển Ngôn không đáp ngay. Nàng nhìn cha. Người đàn ông này bao nhiêu năm nhu nhược, không biết vợ đầu độc thiếp, không biết thiếp bị ép uống thuốc mà chết. Nàng ghét ông sao? Không. Nàng chỉ tiếc ông.

“Cha à.” Nàng khẽ đáp. “Bây giờ con ở Túc phủ. Ngài ấy đối con tốt.”

“Túc vương…” Trấn công thở ra. “Trước kia cha lo con gả cho hắn. Nay cha đỡ lo. Con báo mẫu tang xong về phủ, nhớ chăm sóc bản thân. Đừng vì cha mà ở lại lâu.”

Uyển Ngôn cúi đầu. Nàng nghe được câu cha vừa nói. Cha đang có ý báo nàng: rời Trấn phủ càng sớm càng tốt.

Cha đã bắt đầu nghi. Nghi vợ mình.

Nàng khẽ bóp tay cha. Trong lòng, sợi dây khác được kéo căng.

“Cha, con nghe cha. Ba ngày báo tang xong, con về Túc phủ. Cha giữ sức khoẻ.”

Chiều xuống. Bên hậu viện, tin lan chậm.

Nguyệt Nhi tỉnh dậy sau nửa canh giờ. Miệng thôi chảy máu. Nhưng tay chân yếu, không dậy được. Lang trung đến, bắt mạch, nói “hàn khí xâm nhập, tỳ vị tổn thương, cần dưỡng bảy ngày, kiêng tanh, kiêng lạnh”.

Bảy ngày. Vừa đủ Uyển Ngôn báo mẫu tang xong, quay về Túc phủ. Vừa đủ Nguyệt Nhi không thể theo dõi nàng thêm.

Ninh phu nhân ngồi bên giường Nguyệt Nhi. Suốt chiều bà không ra khỏi phòng. Bà đuổi hết nữ nô đi, tự tay lau trán con. Trong tay bà, chiếc khăn ẩm nước ấm, vắt đi vắt lại.

Bà biết. Bà biết Uyển Ngôn đã đổi chén. Nhưng bà không thể nói. Nói ra tức là thừa nhận có chén cần tẩm.

Bà chỉ có thể ngồi đó, lau trán con gái ruột mình, và trong đầu bà một tiếng vang không dứt: nó biết. Nó biết chén tẩm. Nó biết ta.

Con thứ. Con của con hầu chết yểu. Con của Vân di nương. Trong bảy ngày qua, nó về Trấn phủ, không lảng tránh, không sợ. Nó cười, cúi đầu, gọi bà “mẹ”. Nó bưng trà, hầu bàn thờ Vân di nương. Nó ngồi bàn trà sáng nay, nhấp chén trà tẩm mà không uống. Nó cười, đổi chén. Nó nhìn bà bằng đôi mắt của Vân di nương.

Ninh phu nhân vắt khăn. Nước ấm chảy xuống chậu đồng, tiếng nhỏ. Bà cắn môi.

Con hầu chết yểu. Chín năm trước bà cũng ngồi thế này, vắt khăn, nhìn Vân di nương nằm chảy máu trong phòng dưới. Uống ba lần “thuốc an thai” bà cho. Băng huyết đến khi mặt trắng bệch. Đứa Uyển Ngôn khi ấy còn tám tuổi, đứng ngoài cửa khóc, không hiểu.

Bà không hối. Bà chưa từng hối. Nhưng bây giờ, bà chợt hiểu: đứa nhỏ đứng ngoài cửa khóc năm ấy, đã lớn. Đã về. Đã ngồi vào bàn trà cùng bà. Đã biết chén tẩm.

Chín năm sau, chén trà đổi tay.

Gậy ông đập lưng ông. Bà cũng dạy Nguyệt Nhi câu ấy, khi con gái còn bé. Nhưng bà chưa từng nghĩ có ngày gậy ấy quay về, đập vào chính con ruột mình.

Ninh phu nhân buông khăn. Đứng dậy. Đi ra cửa phòng. Ngoài hành lang, hoàng hôn nhuộm đá xanh thành đá đỏ.

Bà nhìn về phía sảnh khách nơi Uyển Ngôn đang ngồi bên Trấn công.

Trong bóng chiều, bà thấy chính mình đang đứng bên vực. Trước mặt vực là đứa con thứ mà bà tưởng chỉ là quân cờ. Cờ quay đầu. Cờ nhìn bà. Cờ cười.

Bà quay vào phòng. Đóng cửa. Ngồi bên Nguyệt Nhi.

Ngày mai. Ngày mai bà phải nghĩ ra bước tiếp.

Uyển Ngôn về phòng khi trời tối hẳn. Bích Đào đã đợi sẵn. Trên bàn, một hộp gỗ nhỏ, khoá bằng chốt bạc.

“Vương phi. Tin từ Túc phủ. Ngài ấy gửi.”

Uyển Ngôn ngồi xuống. Rút chìa khoá nhỏ trong ống tay, mở hộp.

Bên trong, một mảnh giấy. Chữ Túc vương, sắc và mảnh:

“Vẽ dấu giày đã nhận. Chủ nhân của giày ấy là Thẩm quản gia của Ninh phu nhân. Ta đã cho người theo dõi hắn. Trà lê tuyết chuyện đã nghe. Nàng làm tốt. Nhưng lần sau đừng đổi chén.”

Uyển Ngôn đọc câu cuối, khựng.

“Đừng đổi chén.”

Bên dưới, một dòng nhỏ hơn:

“Đừng uống. Từ chối. Nói môi miệng đau, không uống được. Đổi chén là chơi lửa. Nàng chơi lửa, ta không ở bên nàng.”

Uyển Ngôn cầm giấy. Ngón tay nàng khẽ run. Không phải sợ. Là gì khác.

Kiếp trước, hắn giết nàng bằng lửa. Kiếp này, hắn cấm nàng chơi lửa. Vì hắn không ở bên nàng.

Nàng gấp giấy, cất vào lai áo, cùng chỗ với mảnh “Đông Bí Lâu 3-15”.

“Bích Đào.”

“Dạ.”

“Chuẩn bị hộp trang sức mẹ ruột. Ngày mai ta khoá kỹ hơn. Không để dưới đáy tủ nữa. Ta mang theo người.”

“Nô tì hiểu.”

“Còn nữa. Thẩm quản gia Ninh phu nhân, ngươi nhớ mặt. Nếu hắn xuất hiện gần phòng ta, báo ta ngay. Đừng chờ.”

“Vâng.”

Bích Đào cầm nến ra. Uyển Ngôn ngồi một mình bên bàn. Ánh nến rung. Trên tường, bóng nàng in dài, mảnh.

Nàng nhìn bóng mình. Trong đầu vang câu Túc vương viết: “Nàng chơi lửa, ta không ở bên nàng.”

Hắn lo. Hắn lo cho nàng.

Cách hắn viết câu ấy không phải cách hắn cấm. Là cách hắn xin.

Uyển Ngôn khẽ cười trong bóng nến. Nụ cười lần này đến mắt, dù chỉ một khoảnh khắc.

“Được thôi. Lần sau ta không chơi lửa. Ta chơi cách khác.”

Nàng thổi nến. Trong bóng tối, gương đồng trên bàn phản chiếu ánh trăng lạnh.

Cửa phòng khép. Ngoài hành lang, có tiếng bước chân đi qua, chậm và cứng. Bước chân đàn bà. Bước chân của kẻ ba mươi năm chưa từng vấp.

Ninh phu nhân dừng trước cửa phòng nàng. Đứng một khoảng. Không gõ.

Uyển Ngôn ngồi trong bóng tối, nghe hơi thở người ngoài cửa. Hơi thở nặng, hai nhịp một lần. Đứng đủ lâu để lát nến trong phòng còn ấm chỗ tay nàng vừa chạm.

Rồi hơi thở ấy rút đi. Tiếng bước xa dần.

Uyển Ngôn ngồi thẳng lên. Trong bóng đêm, môi nàng cong.

Ngày mai, mẹ à. Ngày mai chúng ta uống chén thứ hai.