Đêm Tân Hôn Ta Thiêu Cả Vương Phủ
Chương 9: Đêm Trước Ngày Về
Ninh phu nhân xạm mặt.
Câu vừa rồi của cha, ba chữ nhẹ như hạt bụi, mà rơi giữa vườn trưa như một mảnh gương vỡ. Không ai nhặt.
Uyển Ngôn cúi đầu. Không cười, không đáp. Nàng chỉ khép tay áo, giấu kẹp bươm bướm ngọc vào trong ống lụa như giấu một hòn than lạnh.
“Chỉ giống thôi.” Ninh phu nhân lên tiếng. Giọng bà ngọt như tan trong nước ấm. “Kẹp bươm bướm cánh thuý, Trường An có tới vài chục cái. Phu quân nhớ lầm.”
Trấn quốc công Tô Kiến chống gậy. Ánh mắt ông chầm chậm rời khỏi tay áo Uyển Ngôn, rồi dừng lại trên mặt Ninh phu nhân. Một khoảng lặng ngắn, vừa đủ để một người vô tâm cảm nhận. Ông gật.
“Có lẽ vậy.”
Chỉ ba chữ. Nhưng Uyển Ngôn nhìn rõ mí mắt ông run một cái. Cha nàng nhu nhược. Nhưng nhu nhược không có nghĩa là không có mắt.
Vườn trưa im. Gió thu mảnh, rắc chút sương đầu mùa xuống rêu đá. Uyển Ngôn đứng lên, vén tà áo, cúi chào cha, cúi chào đích mẫu, lui hai bước rồi mới quay lưng đi. Nàng biết Ninh phu nhân nhìn theo. Nhìn từng cử động vai, từng nhịp bước gót giày.
Trên đường về phòng, nàng không quay đầu.
Bích Đào theo sau. Nha hoàn nhỏ vẫn còn tái. Đợi vào tới hành lang khuất, nàng ta mới thở ra một hơi dài. “Thưa vương phi, nếu bây giờ Ninh phu nhân…”
“Không.” Uyển Ngôn cắt lời. “Bà ấy sẽ không ra tay ngay. Bà cần ba ngày báo mẫu tang trôi qua ổn thoả. Cần thiên hạ thấy Trấn phủ đối đãi ta như con, không phải như kẻ ăn nhờ ở đậu.”
Nàng dừng lại giữa hành lang. Ngói xanh lợp trên đầu, nắng rơi qua kẽ ngói xuống hai bàn tay nàng thành từng chấm nhỏ, giống hoa mai bằng nắng.
Nàng khẽ. “Đêm nay là đêm cuối cùng ta ở đây. Bà ấy sẽ dùng đêm nay.”
Bích Đào không hỏi. Chỉ khép miệng, gật.
Vào phòng, Uyển Ngôn ngồi xuống trước gương. Kẹp bươm bướm ngọc đặt lên mặt bàn trang điểm, cánh xanh biếc như một con bướm chết trong khay men trắng. Nàng nhìn nó rất lâu.
Kẹp này kiếp trước ta cài vào tóc. Kẹp này kiếp trước đã đưa ta ra vành móng ngựa gia pháp, mang danh “ăn trộm của mẹ”. Bây giờ nó nằm trên bàn, câm.
Nàng nhấc kẹp lên, gói vào một mảnh lụa, cất vào đáy hộp trang sức mẹ đẻ để lại. Bên cạnh di thư chưa giải mã. Bên cạnh trâm bạc hoa mai. Ba vật ở chung một hộp. Ba mắt xích của một sợi dây hồng chưa dệt xong.
Nàng đóng nắp hộp. Khoá.
Bích Đào bưng chậu nước ấm vào, giúp nàng rửa mặt. Nước làm phai lớp phấn mỏng. Trong gương hiện ra một cô gái mười bảy, da trắng như tuyết đầu đông, mắt hạnh dài, dưới khoé mắt trái có một nốt ruồi nhỏ. Nốt ruồi lệ. Mẹ đẻ khi còn sống hay bảo: “Nốt này thương con. Con gái sinh có nốt ruồi này, đời dễ đắng.”
Đắng thật. Kiếp trước ta chỉ nếm được đắng, chưa kịp nếm ngọt.
Uyển Ngôn nhắm mắt. Nàng nghe thấy tiếng vắng. Đêm là loại vắng có mùi. Mùi sương thu bám vào rèm lụa, mùi đèn dầu cháy chưa cạn, mùi trầm phai từ áo Bích Đào.
Nàng mở mắt, hỏi khẽ: “Bên phòng Nguyệt Nhi thế nào?”
“Đèn còn sáng.” Bích Đào cũng khẽ. “Nô tì đi ngang thấy nàng ta ngồi ở song cửa, nhìn ra vườn. Tay cầm một tờ giấy.”
“Giấy màu gì?”
“Vàng đậm.”
Vàng đậm. Uyển Ngôn nhớ. Giấy của Đông Cung. Riêng thứ giấy này Đông Cung dùng để viết những thứ không được gửi qua thư trạm chính thức.
“Con ra ngoài đi. Ngủ đi. Đêm nay ta không cần con.”
Bích Đào ngập ngừng: “Vương phi…”
“Không cần con.” Uyển Ngôn nhấn nhẹ. Nàng đưa tay khép tay áo. “Nếu có chuyện gì, con ở phòng ngoài. Khắc nào ta gọi mới vào.”
Bích Đào lui ra.
Uyển Ngôn không thay áo ngủ. Nàng cởi áo lễ, mặc một bộ áo lụa mỏng màu tro nhạt, buộc lỏng thắt lưng, đi đôi hài vải mềm. Loại giày không phát tiếng.
Nàng chờ.
Chờ đèn phòng bên tắt. Chờ tiếng bước chân canh gác ngoài viện chuyển xa. Chờ giờ Tý điểm chuông từ tháp trong hoàng thành vọng lại.
Ba tiếng chuông đồng.
Nàng đứng dậy, cầm ngọn đèn dầu nhỏ chỉ để soi bậc thềm, mở cửa phòng, khép lại nhẹ. Nàng đi ngược hướng vườn đông, vòng qua bếp sau. Trấn phủ đêm giữa thu, gió khô, không ai ra ngoài.
“Xuống bếp lấy trà” là cái cớ Uyển Ngôn dựng sẵn. Bích Đào có chậu nước ấm, có ấm trà chiều còn nguyên, không cần trà đêm. Nhưng Uyển Ngôn cần cái cớ. Cần lý do cho bất kỳ ai vô tình chạm mặt nàng lúc canh ba trong Trấn phủ.
Bếp Trấn phủ nằm ở góc tây bắc, cạnh vườn đông. Muốn tới bếp phải đi qua hành lang uốn khúc trổ hoa. Đoạn hành lang uốn ấy có một khúc cụt, ba mặt tường, ngoảnh ra vườn đông. Ai đứng bên trong khúc cụt, tiếng vọng ra tận đầu bên kia. Ninh phu nhân biết đoạn hành lang này. Bà từng dùng để giáo huấn nha hoàn.
Đêm nay đoạn hành lang cụt có tiếng.
Uyển Ngôn thổi tắt đèn dầu, giấu vào tay áo. Nàng nép sát cột hành lang, đi dịch từng bước một. Trăng cuối tháng chín gầy nhưng sương chưa dày, đủ để nhận diện hai bóng người dưới hiên.
Một bóng áo hạnh vàng. Một bóng áo lụa hoa quế nhạt.
Ninh phu nhân và Nguyệt Nhi.
Uyển Ngôn dừng thở. Nàng chọn vị trí sau bức bình phong gỗ chạm, đứng nghiêng, một mắt nhìn ra khe hở. Sương rơi lên vai áo lụa mỏng, lạnh xuống da. Nàng không rùng mình. Rùng mình sinh tiếng.
Nguyệt Nhi lên tiếng trước. Giọng nàng ta không còn dịu như thường ngày trước mặt cha.
“Mẹ. Nàng ta không chết đêm tân hôn.”
Ninh phu nhân không đáp ngay. Uyển Ngôn thấy đôi vai mẹ kế nhích một nhịp rất nhẹ. Bà đưa tay rót rượu. Chén sứ va nhẹ vào bình.
“Ta biết.” Ninh phu nhân đáp.
“Nếu nàng ta không chết đêm tân hôn, nghĩa là Túc vương chưa nghi. Nghĩa là phong thư chưa đến tay hắn. Hoặc đến tay hắn, mà hắn coi như không thấy. Con không hiểu vì sao.”
“Ta cũng chưa hiểu.”
Nguyệt Nhi im một chốc. Rồi giọng cô ta chợt sắc lại. “Mẹ, chúng ta nên tiến bước tiếp. Con đã bàn với người bên kia. Đông Cung tài lệnh có thể đưa vào phòng nàng ta tuần sau.”
Uyển Ngôn nghe. Nàng đứng chết trong bóng hoành phi.
Đông Cung tài lệnh.
Bốn chữ ấy đập vào tai nàng như một tiếng chuông cháy. Nàng cắn đầu lưỡi để giữ hơi thở khỏi trồi.
Đông Cung tài lệnh không phải phong thư. Phong thư chỉ là mảnh giấy có thể là giả. Tài lệnh của Đông Cung là vật đúc bằng đồng đen, khắc ấn ngũ trảo, chỉ Đông Cung thái tử được phép giữ. Bị bắt gặp có tài lệnh Đông Cung trong nhà kẻ khác, đủ khép tội mưu phản. Không phong thư nào so được. Không giả được. Không chối được.
Kiếp trước không có. Kiếp trước chỉ có phong thư dưới gối. Kiếp trước Túc vương thấy phong thư là đã đủ giận, đã đủ đốt. Bây giờ đích mẫu và Nguyệt Nhi tính đưa cả một Đông Cung tài lệnh vào đồ vật của ta. Nghĩa là kiếp này bọn họ leo thang.
Nghĩa là kiếp này bọn họ không chỉ muốn ta chết. Bọn họ muốn thiêu cả Túc vương theo.
Uyển Ngôn nắm chặt tay áo. Móng tay bấm vào lòng bàn tay, đau tê. Trong đầu nàng, một tiếng chuông vỡ đang gõ.
“Chờ.” Ninh phu nhân đặt chén rượu xuống. Tiếng sứ va đá kêu tách một tiếng. “Chờ đã.”
“Mẹ, con không thể chờ. Con đã hứa với người bên kia…”
“Ai bảo con hứa?” Ninh phu nhân cắt. Giọng bà lạnh. “Ai cho con quyền hứa gì với ai? Con là con của ta. Con nhất nhất theo ta. Người bên kia cần chờ, con nói với người bên kia rằng con cần chờ.”
Nguyệt Nhi im. Vai gầy nàng ta hơi run.
Ninh phu nhân dịu lại một chút. Bàn tay bà chạm nhẹ lên tay Nguyệt Nhi. “Nguyệt Nhi, con nghe mẹ nói. Phong thư lần trước chỉ là loại chứng cứ nhẹ. Nếu Túc vương thấy phong thư mà không xử, nghĩa là hắn có lý do không xử. Hắn không tin nàng ta là gián điệp. Hoặc hắn tin, nhưng chưa muốn động. Đưa tài lệnh vào bây giờ, không hạ được nàng ta, ngược lại lộ ta cho Túc vương. Chúng ta cần bằng chứng chắc hơn. Bằng chứng đủ để cả triều đình không thể chối. Bằng chứng đủ để chính Túc vương phải giết vợ mình bằng chính tay hắn.”
“Bằng chứng gì?”
“Ta đang tính. Cha con ngồi bên khi ta cho nàng ta kẹp bươm bướm. Ông ấy nhớ ra kẹp giống của mẹ nàng ta. Ta muốn ông ấy quên. Nhưng nếu không quên được, ta phải chuyển hướng.”
“Chuyển hướng thế nào?”
Ninh phu nhân im một lúc. “Có nhiều cách.” Bà không nói tiếp. “Còn về Đông Cung tài lệnh, con giấu ở đâu?”
“Con giấu trong hộp gấm vàng trong phòng riêng. Người bên kia đưa cho con hôm rằm tháng tám. Con định tuần sau khi vào cung yến Trung Thu, gài vào rương lễ vật của nàng ta để mang về Túc phủ.”
“Cung yến Trung Thu.” Ninh phu nhân lặp. Giọng bà chậm. “Cung yến Trung Thu. Đó là cơ hội tốt hơn phòng cưới. Nếu tài lệnh xuất hiện trong đồ vật của nàng ta ngay giữa cung yến, tại chỗ, không phải tại Túc phủ, thì cả vua và Đông Cung đều là nhân chứng. Túc vương không thể giấu. Bắt buộc phải phế phi. Phế phi rồi, nàng ta rơi vào tay ta.”
“Nếu Túc vương không phế thì sao?”
“Nếu hắn không phế, hắn tự lộ mình là kẻ đồng loã với người giữ tài lệnh Đông Cung. Kẻ mưu phản. Vua đương triều sẽ ra tay trước. Nàng ta chết theo hắn. Nhất tiễn song điêu.”
Uyển Ngôn cắn môi. Nàng không thở mạnh, không dám. Nhưng máu trong nàng đang lạnh dần đi, xuống tay, xuống chân.
Nhất tiễn song điêu. Một mũi tên, hai con chim. Đích mẫu không chỉ muốn giết ta. Đích mẫu muốn giết cả Túc vương. Một đêm cung yến, nàng ta muốn đổi hai mạng.
“Rương lễ vật vào cung được kiểm tra ở cửa cung.” Nguyệt Nhi hạ giọng. “Người kiểm tra là quan Bộ Lễ. Con có mua chuộc được một người?”
“Ta có.” Ninh phu nhân đáp. “Nhưng cách khác hay hơn. Không gài vào rương lễ vật. Gài vào tay áo.”
“Tay áo?”
“Ngày cung yến ta sẽ đưa nàng ta một chiếc áo mới. Áo có tay rộng, may hai lớp. Trong lớp thứ hai, khâu sẵn tài lệnh. Vào cung, chỉ cần một cái va nhẹ, tay áo lật, tài lệnh rơi. Ai cũng thấy. Không thể chối.”
“Nàng ta không mặc áo mẹ tặng thì sao?”
“Nàng ta không dám không mặc. Ba ngày báo mẫu tang chưa xong, mẹ chồng đã mất, một chiếc áo là đích mẫu tặng cho lễ cung. Nàng ta không mặc, nghĩa là bất kính. Túc vương phi bất kính đích mẫu, vua đương triều thấy được, đã đủ hạ điểm nàng ta trong mắt bà. Nàng ta phải mặc.”
Nguyệt Nhi cười. Tiếng cười khẽ, mỏng như tờ giấy dán ướt.
“Mẹ tính đến từng nhịp.”
“Ta đã tính từ ngày mẹ nàng ta còn sống.”
Uyển Ngôn nghe câu này. Nàng cắn môi. Không phải nàng chưa biết đích mẫu là kẻ gì. Nhưng nghe từ chính miệng bà, dưới trăng, giữa vườn đêm, câu ấy có sức nặng khác. Máu như đông một tí.
Ta đã tính từ ngày mẹ nàng ta còn sống. Mẹ ơi, đầu đích mẫu đã tính đến cả tuổi thơ của con.
Uyển Ngôn cố giữ hơi. Nàng không thể ra khỏi bóng hoành phi quá sớm. Nếu bây giờ chân nàng khua một cái, cả hai đầu bàn đá sẽ biết. Nàng chờ tiếp.
“Vậy đêm nay con cứ giữ tài lệnh trong hộp gấm vàng.” Ninh phu nhân tiếp. “Ngày mai chị con về Túc phủ, mẹ theo dõi. Đến gần cung yến, mẹ sẽ báo con giờ khâu áo. Con không được nói với người bên kia là ta thay kế hoạch. Người bên kia chỉ cần biết kế hoạch tiếp tục theo đúng lịch.”
“Vâng, mẹ.”
“Còn nữa. Cha con dạo này…”
“Cha sao ạ?”
“Cha con lâu nay nhớ nhiều chuyện cũ. Hôm nay ông ấy nhớ kẹp bươm bướm. Ta cần ông ấy quên. Con để đấy, ta có cách. Nhưng con phải nhớ. Nếu ông ấy quên, ta không cần dùng cách nặng. Nếu ông ấy không quên…”
Ninh phu nhân bỏ lửng. Bà cắt câu bằng một cái nghiêng đầu về phía Nguyệt Nhi. Nghiêng đầu ấy Uyển Ngôn hiểu.
Trong khoảnh khắc ấy, cha nàng, người đã cưới hai người phụ nữ, người đã sinh ra hai người con gái, chỉ còn là một quân cờ trên bàn cờ của đích mẫu. Bà đã sẵn sàng gạt ông đi nếu ông cản đường. Không phải hôm nay. Nhưng không xa.
Nguyệt Nhi im lặng. Rồi rất khẽ: “Mẹ tự lo, con nghe theo.”
Ninh phu nhân đứng dậy. “Về phòng. Đừng ai thấy con ra khỏi phòng đêm nay.”
“Vâng.”
Hai bóng người rời hành lang cụt. Nguyệt Nhi đi trước, Ninh phu nhân đi sau. Sương thu bắt đầu đọng trên rêu đá.
Uyển Ngôn không dám thở dài. Nàng đợi thêm nửa canh, đứng tê chân trong bóng bình phong. Đợi đến khi tiếng bước chân xa hẳn, đợi đến khi ngọn nến bên viện chính lụi tắt.
Rồi mới men theo lối cũ trở về phòng.
Vào phòng, nàng khép cửa. Ngọn đèn dầu vẫn cháy đầu giường. Bích Đào ngủ ngoài, không hay biết. Uyển Ngôn ngồi xuống mép giường, hai tay đặt lên đầu gối. Trong lòng bàn tay, móng tay còn hằn năm cái nửa vành trăng đỏ.
Đông Cung tài lệnh.
Nàng lặp lại trong đầu ba lần. Nàng phải nhớ đúng bốn chữ này. Nàng phải viết cho Túc vương ngay khi trở lại Túc phủ. Không sớm, không muộn. Sớm quá bà ấy đổi kế; muộn quá không kịp.
Nàng nhắm mắt. Đầu nàng chạy một loạt tính toán.
Ba ngày báo mẫu tang. Sáng mai nàng về Túc phủ. Từ Túc phủ đến cung yến Trung Thu còn nửa tuần trăng. Áo mới đích mẫu sẽ gửi tới bao giờ? Chưa biết. Nếu gửi trước cung yến ba ngày, đó là ngưỡng an toàn cho việc khâu tài lệnh vào lớp áo. Vậy nàng có từ ba đến bảy ngày để chuẩn bị phản.
Kiếp trước ta không dự cung yến Trung Thu. Kiếp trước ta đã cháy đen trong đêm tân hôn trước đó nửa tháng. Kiếp này ta sống, ta phải dự cung yến. Ta chưa từng bước vào cung yến. Ta chưa biết bố trí sân, chưa biết chỗ đứng của triều thần, chưa biết luật khi vấy áo. Ta phải học. Bằng cách nào? Bích Đào không biết. Ai biết?
Túc vương biết.
Uyển Ngôn mở mắt. Nàng nghĩ đến hắn. Đến khuôn mặt hắn ngồi đối diện đêm tân hôn. Đến câu hắn nói canh ba: “Nàng còn sống. Đủ để ta muốn nghe tiếp.”
Nàng biết hắn nghe. Nàng biết hắn đọc chữ nàng viết. Nhưng nàng cũng biết: gậy ông đập lưng ông không phải ván bài dễ đánh. Nếu nàng lộ ra rằng nàng nghe lén cuộc trò chuyện đêm nay, đích mẫu có thể dò lại và đổi kế. Nếu nàng chỉ báo mà không có bằng chứng, Túc vương có thể tin, nhưng triều thần không tin. Vậy nàng phải để đích mẫu tiếp tục kế hoạch. Chỉ chặn đúng vào khoảnh khắc nàng chọn.
Chặn lúc nào?
Không phải chặn khi áo tới. Không phải chặn trước cung yến. Phải chặn ngay giữa cung yến. Chặn ngay giữa mắt cả triều, để đích mẫu và Nguyệt Nhi không thể chối. Để chính vua và Đông Cung là nhân chứng cho việc đích mẫu vu ta. Để chính vũ khí đích mẫu ném vào ta thành vũ khí ta ném lại đích mẫu.
Ăn miếng trả miếng.
Nàng khẽ nhếch môi. Đêm cuối ở Trấn phủ, nàng học được một điều: đích mẫu không nhớ kiếp trước, nhưng đích mẫu vẫn thắng được kiếp trước một lần. Bây giờ, kiếp này, nàng phải cho đích mẫu thua theo cách khiến đích mẫu không thể trách ai được ngoài chính mình.
Nàng nghĩ tới cha. Tới cái nghiêng đầu vừa rồi của Ninh phu nhân. Nếu ông ấy không quên. Ba chữ ấy nặng. Ninh phu nhân đã hạ độc mẹ ruột nàng. Bà hoàn toàn có thể hạ độc chồng.
Nàng phải làm gì đó cho cha. Nhưng không phải đêm nay. Đêm nay nàng phải rời Trấn phủ toàn thây. Đêm nay nàng phải giả vờ chưa biết gì.
Nàng nằm xuống. Nhắm mắt. Bên tai vẫn còn tiếng Ninh phu nhân dưới bàn đá. Ta đã tính từ ngày mẹ nàng ta còn sống.
Sương thu ngoài song. Đèn dầu trong phòng cháy vào bấc thứ ba. Uyển Ngôn ngủ không sâu. Nửa đêm nàng tỉnh một lần. Trong mơ có tiếng nhạc lễ. Có ánh đuốc. Có tiếng ai đó gọi “Uyển Nhi” bằng giọng của mẹ.
Sáng ra, trời sớm thu vẫn còn mù. Bích Đào bước vào bưng khay điểm tâm.
Ngoài cửa có tiếng người nói. Rồi tiếng gõ cửa gấp.
Bích Đào mở cửa, khom mình. “Vương phi, Ninh phu nhân đến.”
Uyển Ngôn ngồi dậy, đưa tay vuốt tóc. Nàng đang tính vấn tóc, chưa xong. Nhưng bà đã vào.
Ninh phu nhân bước qua ngưỡng cửa. Trên tay bà cầm một chiếc hộp gấm dài. Mặt bà tươi. Không có dấu vết gì của đêm hành lang cụt.
“Con gái.” Bà cười. “Đây là quà mẹ tặng con. Để mặc dự cung yến Trung Thu.”
Bà mở nắp hộp. Bên trong là một chiếc áo gấm quế đỏ. Tay áo rộng. Hai lớp. Cổ áo thêu chỉ vàng, viền một dải hoa mai.
Hoa mai.
Uyển Ngôn nhìn viền hoa mai. Cổ họng nàng khô một khắc. Đích mẫu cho hoa mai lên viền cổ. Cùng loại hoa mai của trâm bạc mẹ đẻ. Đích mẫu biết. Đích mẫu chọn hoa mai để nàng không thể từ chối, không thể không xúc động, không thể không mặc.
Đích mẫu đã ăn cả kịch bản của mẹ đẻ nàng vào kịch bản của mình.
Uyển Ngôn cúi đầu. Nàng cười. Nụ cười dịu như tơ.
“Cảm ơn mẹ. Con sẽ mặc.”
Ninh phu nhân đặt áo xuống bàn, vỗ nhẹ vai nàng, rồi lui ra. Bích Đào đóng cửa.
Uyển Ngôn ngồi bất động. Trước mắt nàng, chiếc áo gấm quế đỏ nằm trên bàn như một con rắn cuộn. Tay áo rộng thõng xuống mép bàn, hai lớp gấm chồng lên nhau, khe hở giữa hai lớp sâu vừa đủ giấu một vật đồng đen bằng hai đốt ngón tay.
Nàng đưa tay chạm vào tay áo. Rồi rụt lại.
Tay áo còn ấm. Sáng nay đích mẫu vừa cầm.
Bích Đào nhỏ giọng. “Vương phi, chúng ta có… về ngay không?”
Uyển Ngôn không đáp ngay. Nàng nhìn chiếc áo rất lâu. Đích mẫu đã đưa áo sáng nay, nghĩa là tài lệnh chưa được khâu vào, tài lệnh sẽ được khâu vào sau, khi áo đã ở trong tay Uyển Ngôn ở Túc phủ. Nghĩa là sẽ có người của đích mẫu vào Túc phủ trong bảy ngày tới.
Nghĩa là kẻ nội gián của đích mẫu đã sẵn trong Túc phủ.
Nàng khẽ. “Về ngay. Nhưng trước khi lên xe, ta cần viết một chữ.”
Bích Đào bưng nghiên mực. Uyển Ngôn cầm bút. Nàng viết một dòng ngắn, gấp lại làm tư, đưa cho Bích Đào.
“Con giấu chữ này trong đế giày. Về đến cổng Túc phủ, con đưa thẳng cho Túc vương. Không qua tay ai khác. Kể cả nha hoàn của hắn.”
Bích Đào gật. “Nếu ai chặn con thì sao?”
Uyển Ngôn nhìn ra ngoài cửa sổ. Nắng thu vừa lên, chiếu qua cành ngô đồng chưa rụng hết lá. Sương đêm còn đọng trên đá xanh, mỏng như một lớp tro nguội.
Nàng khẽ. “Không ai chặn con. Nếu có, con biết phải làm gì với mảnh giấy này trước khi có ai đọc được.”
Bích Đào cúi đầu. “Vâng.”
Uyển Ngôn đóng nắp hộp áo gấm. Đặt hộp xuống mép giường. Nàng đứng lên, chỉnh lại tà áo, sửa lại tóc. Trong gương, khuôn mặt nàng đã trở lại như một cô dâu ngoan đạo đi báo mẫu tang xong về nhà chồng.
Trong ống tay áo bên trái, kẹp bươm bướm ngọc và hộp trang sức mẹ đẻ đã được gói kỹ, chờ chuyển lên xe. Trong ống tay áo bên phải, không có gì.
Nhưng trong đầu nàng, bốn chữ Đông Cung tài lệnh gõ như tiếng chuông cháy.
Cửa xe kiệu mở. Bích Đào vịn tay nàng bước lên. Trước khi kiệu rời cổng Trấn phủ, Uyển Ngôn nghiêng đầu nhìn ra ngoài rèm.
Ninh phu nhân đứng dưới hiên chính, tay chắp trước ngực, tiễn con gái về chồng. Nụ cười của bà tươi tắn, hiền hoà, đúng chuẩn một người mẹ.
Bên cạnh bà, Nguyệt Nhi mặc áo hồng, cũng cười. Nhưng ánh mắt nàng ta không cười. Ánh mắt nàng ta dán vào chiếc hộp gấm dài bên cạnh Uyển Ngôn.
Rèm kiệu rơi xuống.
Uyển Ngôn nhắm mắt. Nàng biết, từ khoảnh khắc kiệu ra khỏi cổng Trấn phủ, đồng hồ đếm ngược đã bắt đầu.
Bảy ngày.
Bảy ngày cho một chiếc áo có tay rộng hai lớp. Bảy ngày cho một tài lệnh đồng đen chưa vào Túc phủ. Bảy ngày cho một kẻ nội gián chưa lộ mặt.
Và bảy ngày, nàng phải kịp đưa vào tay Túc vương đủ bằng chứng để, trong đêm cung yến Trung Thu, khi tay áo nàng lật lên trước mắt cả triều, người cháy không phải là nàng.