Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 3: Bài Kiểm Tra Đầu
Lục Vô Ngạn đứng dậy. Không nói. Chỉ hất hàm về phía cửa sau.
Ta đi theo.
Hộ oản gỗ đen trên cổ tay trái hắn phát ra một tiếng va khẽ vào chuôi dao đeo hông, khô như hai viên sỏi va nhau trong giếng cạn. Bước chân hắn dài, không vội, không chậm. Ta theo sát nửa bước, mắt nhìn xuống đất. Ngỗ tác không được đi ngang thiếu khanh. Đó là quy tắc kiếp này. Ta biết mà không cần ai dạy.
Hành lang Đại lý tự xây bằng đá xanh. Sáng sớm còn hơi ẩm. Đá lạnh dưới đế giày cỏ. Ta nhớ kiếp trước, hành lang khoa giải phẫu bệnh viện có sàn gạch men trắng, đèn huỳnh quang chớp, bảng chỉ dẫn ba thứ tiếng. Ở đây chỉ có đá xanh, một dãy đèn dầu treo cách nhau ba thước, và mùi bấc cháy.
Càng xuống thấp, càng lạnh.
Đại lý tự đặt phòng khám tử thi dưới hầm. Không phải vì thiếu chỗ. Vì hầm giữ xác được lâu hơn. Kiếp trước nhà xác bệnh viện cũng ở tầng hầm. Nghề pháp y, không kể là Đại Tống hay Sài Gòn, đều bắt đầu bằng việc đi xuống.
Trước khi Lục Vô Ngạn xuống bậc cuối cùng, hắn dừng lại. Không quay đầu.
“Ngươi có mang khăn không?”
“Có, đại nhân.” Ta đáp.
“Xức đi.”
Ta rút trong tay áo ra một cái lọ sứ nhỏ bằng đầu ngón cái. Nắp gỗ, dán tem đỏ. Mở nắp. Mùi hương trầm ấm bốc lên, dịu, hơi ngọt như gỗ mục sau mưa. Ta nhỏ một giọt lên khăn vải, gấp làm tư, giắt vào cổ áo bên trong, cách mũi khoảng nửa thốn.
Nước hoa trầm hương, ta tự pha đêm qua trong bếp mẹ nuôi. Kiếp trước, nhân viên nhà xác đeo khẩu trang xanh, xức tinh dầu bạc hà lên viền. Kiếp này chưa có khẩu trang, ta dùng trầm. Trầm nặng, bám mũi, đủ để lấn được mùi tử thi ba ngày.
Lục Vô Ngạn đứng nhìn. Không nói gì. Mắt hắn theo động tác của ta từ đầu đến cuối, chậm như đo. Xong, hắn hất hàm, tiếp tục đi xuống.
Discovery Set nước hoa mini Lilith and Eve — có hương gỗ/trầm
279.000đ
Xem chi tiết →Cửa phòng khám nặng, gỗ dày. Lục đẩy. Cửa mở, bên trong tối. Một cây đèn dầu duy nhất đặt trên giá cao, ngọn lửa nghiêng theo gió lùa từ cầu thang.
Có một cái bàn đá dài đặt giữa phòng. Trên bàn đá phủ khăn vải thô. Dưới khăn: một hình người.
Không ai lên tiếng.
Lục Vô Ngạn đi vòng qua bàn, dừng ở đầu bàn phía trên. Chỉ vào cái xác.
“Người ăn xin, chết ở ngoài cửa Bắc, canh bốn hôm qua. Tuần binh phát hiện lúc canh năm. Quan phủ Kinh Kinh khám qua sơ, sáng nay chuyển sang Đại lý tự vì có tin bàn tay có vết lạ. Ngươi khám.”
Ta gật.
“Hạ quan tuân lệnh.”
Ta bước lại gần bàn đá. Đây là lần đầu ta bước lại gần một tử thi ở kiếp này. Trong đầu ta bỗng vang lên một tiếng còi phòng cấp cứu, xa xa, giả lập. Ta lắc nhẹ đầu, cắt tiếng còi. Không còn phòng cấp cứu. Chỉ còn phòng khám đá lạnh và một cái xác.
Lục Vô Ngạn khoanh tay đứng ngoài rìa vòng sáng đèn dầu. Bóng hắn đổ xuống bàn đá thành một vệt dài. Hắn không đến gần. Không phải sợ, ta biết. Là quan sát.
Ta gấp khăn vải trên xác lại. Lật lên.
Người đàn ông. Gầy, xương gò má nhô. Áo vá nhiều lớp, màu đã ngả sang xám. Mắt nhắm, môi khô nứt. Tóc bạc trước tuổi, rối, dính bùn khô. Không mùi tanh mạnh, có nghĩa cái chết chưa quá ba canh giờ trước khi được đưa vào hầm.
Ta ngừng một khắc.
Kiếp trước, quy trình đầu tiên: quan sát tổng thể trước khi chạm. Ta làm y hệt kiếp này.
Đôi vai xác nghiêng nhẹ về bên phải, nghĩa là lúc chết nằm nghiêng phải trên nền cứng, sau đó bị lăn ngửa để đưa lên bàn. Không phải chết trong tư thế nằm ngửa. Bàn tay trái duỗi ra, ngón trỏ và ngón cái để lộ móng. Ta cúi xuống nhìn kỹ.
Móng tay có mảng vảy nâu đỏ.
Không phải bệnh. Bệnh móng tay ngả vàng nâu, có mùi. Đây khác. Đây là bột màu đỏ nâu, hạt nhỏ như cát. Ta gãi thử bằng ngón tay, bột rơi xuống khăn vải. Đưa lên đèn dầu, nghiêng.
Vảy sắt bị hoen gỉ. Kiếp trước gọi là gỉ sắt. Kiếp này chỉ cần một cái nhìn cũng biết.
“Vảy gỉ sắt,” ta nói khẽ. “Không phải bệnh móng. Là do tiếp xúc với sắt trong thời gian dài. Có thể là cùm chân, cùm tay, hoặc song sắt buồng giam.”
Lục Vô Ngạn không nói. Chỉ nghiêng đầu. Ta không nghe tiếng thở dài, cũng không nghe tiếng khịt mũi. Hắn đợi.
Ta tiếp tục.
Chuyển sang đầu. Vén tóc phía đỉnh. Da đầu bên trên gáy có một vết bầm to bằng nắm tay trẻ con. Màu đã ngả tím sẫm, xung quanh còn dấu sưng lên nhưng chưa vỡ da. Ta ấn nhẹ vào cạnh vết bầm.
“Có sưng nhẹ. Máu đọng dưới da đầu, chưa qua ba canh. Vết bầm này nhận trước khi chết, không phải sau.”
Ta đưa hai ngón tay ép nhẹ vào xương đỉnh. Xương lún nửa thốn. Không lún nhiều đến mức vỡ toàn bộ hộp sọ, nhưng có gãy.
“Xương đỉnh gãy. Vũ khí cùn, đầu tù. Có thể là gậy, chuôi kiếm bằng gỗ, hoặc cán cuốc.” Ta nhìn góc bầm. “Đánh từ phía sau bên trái. Kẻ đánh thuận tay phải, đứng cao hơn nạn nhân nửa cái đầu. Đánh một nhát dứt.”
Bóng Lục Vô Ngạn trên bàn đá dịch chuyển nửa thốn. Hắn đến gần hơn một bước. Vẫn không nói.
Ta chuyển xuống mặt. Nâng cằm nạn nhân, banh môi ra.
Không có bọt trắng ở khoang miệng. Không có tia máu vỡ trong lòng trắng mắt. Nếu bị siết cổ, mao mạch quanh mắt sẽ vỡ, để lại chấm đỏ li ti; ở đây không có. Lưỡi không ló ra, không thâm tím.
“Không phải chết đuối. Không phải bị siết cổ. Khoang miệng khô, phổi không có nước trào lên.”
Ta banh miệng thêm. Đưa đèn dầu lại gần. Trong miệng, răng cửa hàm dưới đã mòn xuống thấp, hàm trên còn tương đối. Răng nanh mòn thành phẳng. Răng hàm bên phải có một cái sâu, khoét lỗ đến chân, nhưng chưa rụng. Ta đếm răng thật nhanh.
“Còn hai mươi tám cái. Răng khôn bốn cái đã mọc đủ, một cái bên trái hàm dưới rụng lâu, chỗ đó liền thịt. Răng nanh mòn phẳng. Người này lúc chết khoảng bốn mươi đến bốn mươi lăm tuổi.”
Ta ngừng. Đứng thẳng lên.
“Đại nhân, hạ quan xin phép mở áo.”
Lục Vô Ngạn khẽ gật.
Ta cởi từng lớp áo vá. Áo trong mỏng, dính vào bụng. Ta khẽ lột. Ngực nạn nhân lép, xương sườn nhô rõ. Bụng không phồng. Ta ấn vào bụng trên rốn, đo cứng mềm.
Rắn dưới ngón. Có thức ăn trong dạ dày.
“Còn thức ăn. Không đói lúc chết.”
Bây giờ ta nói không phải cho Lục Vô Ngạn nghe. Ta nói cho mình. Kiếp trước, thầy chủ nhiệm dạy: khám tử một mình, phải nói ra thành tiếng, mỗi bước ghi lại thành lời. Nói ra thành tiếng để đầu không sót. Ghi lại thành chữ để toà không cãi.
Ta tiếp tục, đầu ta tự lập bảng liệt kê:
- Không đói. Loại chết đói khỏi giả thuyết.
- Không bọt phổi. Không siết cổ. Loại đuối, loại siết.
- Vết bầm đỉnh đầu, xương gãy, đánh sau. Loại chết bệnh, chết tự nhiên.
- Vảy gỉ ở móng. Bị nhốt trong buồng có sắt.
Ta lật ngửa hai bàn tay. Không có vết cào. Không có tơ vải kẹp móng. Không phản kháng. Có nghĩa bị đánh khi không kịp phản ứng, hoặc bị nhốt lâu ngày, kiệt sức, đến lúc bị đánh cũng không còn sức giơ tay đỡ.
“Chết vì bị đánh sau khi bị nhốt,” ta nói. “Bị nhốt tối thiểu năm ngày. Vảy gỉ tích tụ trên móng đủ dày, ước lượng năm ngày trở lên. Người này ăn cuối cùng cách lúc chết chừng nửa ngày. Nghĩa là kẻ nhốt cho ăn trước khi giết. Không phải bỏ đói cho chết. Là chủ ý giết bằng gậy.”
Ta đặt tay xác xuống, ngay ngắn theo tư thế cũ. Phủ khăn lại. Nghiêng người ra sau nửa bước để bóng ta không đè lên xác. Đây là thói quen kiếp trước. Không đè bóng lên người đã khuất. Không phải mê tín. Là kính trọng.
Xong.
Ta hít vào một hơi. Mùi trầm hương từ khăn ở cổ áo lấn vào mũi. Đủ để lấn mùi hầm. Đủ để đầu không bốc.
Ta ngẩng lên. Nhìn Lục Vô Ngạn.
“Xong, đại nhân. Nguyên nhân chết: chấn thương xương đỉnh, xuất huyết dưới sọ. Cơ chế: một nhát đánh từ sau bên trái, vũ khí cùn. Điều kiện chết: bị nhốt tối thiểu năm ngày trước khi chết. Thời gian: chưa đến ba canh giờ trước khi xác được đưa xuống hầm.”
Ta ngừng nửa nhịp.
“Không phải chết ngoài cửa Bắc. Đây là nơi xác được vứt, không phải nơi chết. Kẻ giết di xác ra, gán tiếng ăn xin để quan phủ đóng vụ nhanh. Muốn tra ai giết, hạ quan xin tra thêm.”
Không gian yên trở lại.
Lục Vô Ngạn không lên tiếng ngay. Hắn đi đến bàn đá. Đứng đối diện ta qua xác. Ánh đèn dầu chiếu vào mặt hắn từ dưới lên, chiếu bóng đen xuống dưới mắt. Mắt hắn nhìn ta qua lửa. Không chớp.
Sau một khắc, hắn thò tay vào ngực áo, rút ra một tờ giấy gấp bốn. Đặt lên bàn, cạnh cổ tay xác.
“Đọc.” Hắn nói.
Ta nhấc giấy. Mở ra.
Chữ Lục Vô Ngạn viết bằng bút mực đỏ, nhỏ, ngay ngắn. Ta đọc lướt trong bốn nhịp thở.
Danh mục ghi:
- Cửa Bắc, canh bốn.
- Nam, chừng bốn lăm tuổi.
- Vết bầm đỉnh đầu, xương lún.
- Móng có vảy sắt, nghi nhốt.
- Không đói, không đuối.
- Nghi bị di xác từ nơi khác.
Sáu điều. Sáu điều của ta vừa nói ra, hắn đã ghi trong giấy từ canh nào không rõ.
Ta ngẩng lên.
Lục Vô Ngạn không cười. Nhưng khoé môi nhích lên nửa thốn, rồi phẳng lại.
“Ta khám từ canh sáu sáng.” Hắn nói. “Trước ngươi hai canh.”
Ta gấp giấy lại, đặt về bàn. Không đáp lời hắn ngay. Ta nghĩ ba nhịp.
Nếu hắn đã khám xong, đã kết luận rồi, sao vẫn cho ta khám?
Không phải để đối chiếu. Kết luận của một ngỗ tác mới thì hắn không cần dùng. Nghĩa là hắn dùng ta như một cái cân. Đặt kết luận của hắn lên một đầu, đặt kết luận của ta lên đầu kia. Nếu cân bằng, tuyển ta. Nếu lệch, đuổi ta. Bài kiểm tra không phải là xác này, mà là ta.
Ta hiểu.
Ta không nói ra chỗ hiểu. Ta chỉ chắp tay.
“Hạ quan tuân lệnh khám, không dám giấu diếm. Nếu đại nhân đã có kết luận, hạ quan xin nghe chỉ dẫn.”
Lục Vô Ngạn nhìn ta thêm ba nhịp thở. Hắn nói:
“Ngươi và ta trùng cả sáu điều. Không thiếu, không thừa. Ngươi thêm một điều ta chưa viết vào giấy: kẻ giết đánh từ sau bên trái, thuận tay phải, cao hơn nạn nhân nửa đầu. Chỗ này của ngươi tinh hơn ta.”
Ta không đáp.
“Ngươi mười tám tuổi. Cha ngươi mất khi ngươi mười sáu. Ngươi không đi theo cha đến Đại lý tự lúc còn sống. Ngươi học nghề ở đâu?”
Câu này là câu ta chờ.
Ta đã nghĩ suốt đêm qua trong bếp mẹ nuôi, khi pha lọ nước hoa trầm hương. Nếu nói học từ cha, mâu thuẫn với việc cha chưa từng dẫn ta đi. Nếu nói tự học, phải có nguồn: sách. Đại Tống có “Tẩy Oan Tập Lục” của Tống Từ, chưa phổ cập rộng nhưng có bản chép ở tay ngỗ tác cấp huyện.
Ta đáp bằng câu ta đã tập nhẩm ba lần.
“Cha để lại một bộ sách chép tay. Là bản chép ‘Tẩy Oan Tập Lục’ của Tống đại nhân Từ. Hạ quan đọc từ mười ba tuổi. Đêm nào cũng đọc. Chuyện khám tử, hạ quan chưa được xem cha làm lần nào, nhưng chuyện trong sách hạ quan nhớ hết. Hôm nay là lần đầu hạ quan tự tay làm.”
Nửa sự thật, nửa nói dối. Sách kia có thật. Cha có để lại bộ sách chép tay ở nhà, ta đã lục trong tủ đêm hôm trước. Nửa nói dối vì ta không học từ sách, ta học từ giảng đường bệnh viện, từ mười năm mổ hàng ngàn xác. Nhưng ta không thể nói ra kiếp trước.
Nói có sách, mách có chứng. Cha có sách, hạ quan có chỗ để chỉ. Không ai bắt bẻ được.
Lục Vô Ngạn không hỏi thêm. Hắn quay sang xác. Nhìn khoảng ba nhịp.
Rồi hắn nói.
“Mắt ngươi không sợ tử thi giống mắt ta.”
Câu đó không phải khen. Cũng không phải nhận xét. Là kết luận.
Ta ngẩng lên. Ta muốn xem mắt hắn khi hắn nói câu đó, xem có ý gì khác không.
Không có. Mắt hắn phẳng. Đen. Không dao động. Nếu mắt ta như dao lạnh, mắt hắn như đá.
Ta không đáp. Cũng không thể đáp.
Lục Vô Ngạn xoay người, bước ra cửa hầm. Đến bậc thang thứ nhất, hắn dừng, không quay đầu.
“Từ hôm nay, ngươi làm ngỗ tác thứ ba trong Đại lý tự dưới quyền ta. Bổng lộc ba lượng một tháng, phát vào ngày mùng một. Áo, quần, giày, phòng ở ngoài hành lang phía tây. Nếu ngươi cần thêm sách, nói ra. Nếu ngươi cần đèn dầu tốt hơn, cũng nói ra. Ta không thích ngỗ tác khám ẩu vì đèn kém.”
Ba lượng.
Kiếp này, ngỗ tác thường mỗi tháng lãnh một lượng rưỡi. Ba lượng là gấp đôi. Đủ để mua thuốc bổ cho mẹ nuôi hai lần một tháng, đủ để mua thịt heo ba lần một tuần. Đủ để ta không phải dệt vải đêm đến gần canh ba.
Ta cúi đầu.
“Hạ quan tạ ơn đại nhân.”
Lục Vô Ngạn không đáp. Hắn bước lên bậc thang. Bóng hắn tan vào bóng tối phía trên cầu thang. Chỉ còn tiếng đế giày trên đá xanh, xa dần.
Ta đứng lại một mình trong hầm với xác.
Phủ khăn xong, ta đưa tay lên khép mắt nạn nhân, dù mắt đã nhắm. Đây cũng là thói quen kiếp trước. Trước khi rời phòng giải phẫu, kính trọng người đã khuất một lần cuối bằng động tác nhỏ.
“Chú ơi.” Ta khẽ nói. “Ta chưa biết ai giết chú. Nhưng ta biết chú bị nhốt. Ta không hứa gì. Ta chỉ nói: từ hôm nay, có một người trong hầm này chịu nhìn kỹ chú. Trắng đen phải rõ.”
Đèn dầu run một cái.
Ta thổi đèn. Bước lên bậc thang.
Ra khỏi hầm, ánh nắng buổi sáng đập vào mặt. Đại lý tự sáng thứ ba giờ tị, không khí trong hành lang có mùi bấc dầu và mùi giấy cũ. Ta nheo mắt.
Bên hành lang có một cái ghế đá. Trên ghế có đặt sẵn một bộ áo ngỗ tác gấp gọn. Áo bên ngoài màu chàm sẫm, viền đen, kiểu chuẩn Đại lý tự. Cạnh áo có một thẻ tre khắc chữ: “Thẩm Yên. Ngỗ tác. Số ba.” Cạnh thẻ có một chìa khoá gỗ, buộc dải vải đỏ.
Ta cầm thẻ tre. Nắm lấy. Cạnh tre khô, hơi ráp trong lòng bàn tay.
Kiếp trước, thẻ nhân viên bệnh viện của ta có ảnh, có mã vạch, treo dây xanh. Kiếp này, một thẻ tre khắc bốn chữ. Nhưng cảm giác lúc cầm không khác. Là cảm giác “được cấp một chỗ đứng”.
Ta nắm thẻ tre trong lòng bàn tay ba nhịp thở. Rồi lồng vào cổ áo trong, cạnh khăn tẩm trầm hương. Mùi trầm và mùi tre khô hoà vào nhau.
Xong. Ta có chỗ đứng ở Đại lý tự.
Ta ngẩng lên nhìn ra sân. Có một con quạ đen đậu trên mái ngói. Nó nhìn ta. Ta nhìn nó. Nó bay đi, để lại một sợi lông rơi xuống ngói.
Ta không mê tín, nhưng ta thấy vui.
Ba lượng một tháng. Áo ngỗ tác. Chìa khoá phòng riêng. Cha ơi, cha có nghe không.
Ta cầm bộ áo ngỗ tác, đi theo hướng hành lang phía tây. Bụng đói. Ta chưa ăn sáng. Nhưng bụng đói không quan trọng bằng việc từ nay ta có thể ngồi trong hầm khám xác mà không cần lén, không cần giấu.
Đường đi qua ba dãy phòng ngỗ tác. Đến dãy thứ ba, có một cánh cửa gỗ mộc, không sơn, cửa sổ nhỏ hình vuông. Ta tra chìa khoá gỗ. Cửa mở.
Phòng nhỏ. Có một cái giường tre, một cái bàn gỗ, một cái ghế. Trên bàn đặt sẵn:
- Một cây bút lông cũ nhưng còn tốt.
- Một nghiên mực nhỏ.
- Một tệp giấy trắng.
- Một cây đèn dầu mới, dầu đã đổ đầy.
- Một tấm khăn ẩm để lau tay.
Không phải hắn tự đặt. Nhưng hắn ra lệnh cho ai đó đặt.
Ta ngồi xuống ghế. Đặt bộ áo ngỗ tác lên giường. Nhìn cây đèn dầu mới. Bấc đèn còn trắng, chưa cháy lần nào.
Ta rút thẻ tre từ trong cổ áo ra, đặt lên bàn cạnh nghiên mực.
Rồi ta lấy giấy ra. Mài mực. Cầm bút.
Nghiên mực ở đây mài chậm. Không sao. Ta có thời gian. Ta viết đầu tiên bốn chữ, chậm, cân từng nét.
“Thẩm Yên, ngày một.”
Đây là sổ tay ngỗ tác của ta. Kiếp trước ta có sổ khám nghiệm bản in, có mẫu điền sẵn, có chỗ ký tên. Kiếp này ta sẽ tự viết. Ta không biết ta sẽ viết được bao lâu. Ta không biết liệu sẽ có ngày nào Lục Vô Ngạn nhận ra “hắn” trước mặt hắn không phải “hắn”. Ta không biết ai giết cha, khi nào lộ diện, khi nào ta có thể đối mặt.
Ta chỉ biết một điều.
Kể từ hôm nay, mỗi xác đi qua bàn đá kia, ta đọc lời cho họ. Trắng đen phải rõ. Chuyện gì làm được, ta làm. Chuyện gì chưa làm được, ta chờ.
Ta hạ bút. Viết dòng thứ hai.
“Xác cửa Bắc. Nam, 40 đến 45. Đánh sau, gậy cùn. Bị nhốt trước năm ngày trở lên. Không phải chết cửa Bắc. Ai giết: chưa biết. Ai di xác: chưa biết. Ai muốn đóng vụ nhanh: chưa biết.”
Ba chữ “chưa biết” xếp thành dòng. Ta nhìn ba chữ.
Chưa biết. Không có nghĩa là không biết. Chỉ có nghĩa là chưa.
Ta gấp giấy lại. Đặt vào ngăn kéo bàn. Đưa bàn tay lau đầu bút. Đứng dậy.
Từ nay Thẩm Yên có một cái bàn để đặt sổ, có một cái đèn để thắp, có một cái hầm để làm việc, có ba lượng một tháng để nuôi mẹ nuôi.
Và có một Lục Vô Ngạn ở tầng trên, khép cửa phòng, uống trà, đợi vụ án tiếp theo.
Ta không biết hắn đợi gì. Nhưng ta cũng đợi.
Đêm đó, khi ta rời Đại lý tự về nhà, mẹ nuôi đang nằm chờ ở giường, mắt lim dim. Nghe tiếng cửa, bà mở mắt.
“Yên tử. Sao lâu vậy con?”
Ta ngồi xuống mép giường. Đặt thẻ tre lên tay bà.
Bà cầm thẻ. Nhìn bốn chữ. Ngón tay bà run.
“Thẩm Yên. Ngỗ tác. Số ba.” Bà đọc khẽ. “Con… con vào Đại lý tự thật rồi.”
Ta gật.
Bà đưa thẻ tre lên môi. Hôn nó một cái. Rồi bà khóc. Không thành tiếng, chỉ hai giọt nước từ khoé mắt bên phải, chảy chậm.
“Cha con… nếu cha con còn sống…”
“Cha con biết,” ta nói. “Con đi thăm mộ cha hôm qua. Ta nói với cha rồi.”
Bà nắm tay ta. Không nói thêm gì. Chỉ nắm lâu.
Nắm rất chặt. Bàn tay bà gầy như xương, ấm nhẹ. Ta để bà nắm. Đây là bàn tay lần đầu ta cầm ở kiếp này. Kiếp trước ta không có mẹ. Kiếp này ta được một người đàn bà không sinh ta ra vẫn coi ta là con, vẫn khóc khi ta có được ba lượng bạc.
Ngoài cửa sổ có tiếng dế đêm. Trong nhà đèn dầu đã sắp cạn. Ta đứng dậy thắp thêm dầu.
Trước khi ngủ, ta ngồi bên bàn nhỏ trong góc nhà. Rút lọ nước hoa trầm hương nhỏ ra. Mở nắp. Ngửi một hơi.
Kiếp trước, ta ngửi bạc hà trước khi đi ngủ. Kiếp này, ta ngửi trầm.
Vẫn cùng một cách. Vẫn cùng một mục đích. Xoá mùi tử thi trong khoang mũi trước khi mê thiếp.
Ta đậy nắp lọ. Nằm xuống chiếu.
Bên cạnh ta là chiếu mẹ nuôi. Bà đã ngủ. Thở nhẹ, đều.
Ta nhắm mắt.
Trong bóng tối sau mí mắt, ta thấy lại xác người ăn xin, phủ khăn vải thô, nằm trên bàn đá xanh. Ta thấy lại vết bầm đỉnh đầu, tím sẫm. Ta thấy lại vảy gỉ trên móng tay, nâu đỏ.
Rồi ta thấy Lục Vô Ngạn, tay đeo hộ oản gỗ đen, đứng bên kia bàn đá. Mắt đen, phẳng, không dao động.
Ta nghĩ trong đầu.
Đại nhân, mắt ngài không sợ tử thi giống mắt ta, không phải vì ngài với ta cùng loại người. Ngài giấu điều gì đó. Ta cũng giấu. Có ngày sương tan, chúng ta sẽ đọc nhau ra. Nhưng chưa phải hôm nay.
Ngoài cửa sổ, một tiếng dế nữa. Xa hơn, có tiếng canh ba. Canh ba ở kiếp trước là ca trực đêm của khoa cấp cứu. Canh ba ở kiếp này là giờ ta ngủ để mai còn dậy đúng canh sáu vào Đại lý tự.
Ta thở ra. Đều một hơi.
Ngủ.