Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 4: Nô Tì Trong Giếng
Ngày thứ ba ta bước qua cửa Đại lý tự.
Sương sớm chưa tan. Đá phiến trước cổng còn ẩm, in dấu giày rơm của mấy nha lại đi lấy nước sớm. Ta xức nhẹ nước hoa trầm sau tai, ở cổ tay, ở khoé áo. Mùi trầm chìm dưới lớp vải bố. Kiếp trước ta xức để đi tiệc. Kiếp này ta xức để đi khám xác.
Trong lòng ta thấy tức cười, mà mặt vẫn phẳng.
Hạ quan Thẩm Yên, mười tám tuổi. Ngỗ tác mới của Đại lý tự. Bổng lộc ba lượng một tháng. Chức danh chưa được ghi vào sổ chính, nhưng trong tay đã có một chiếc bài đồng khắc chữ “Thẩm” thô. Bài đồng ấy ta buộc dây gai, giấu trong ngực áo. Chạm vào lớp vải dày quấn ngực, thấy hơi lạnh.
Lạnh mà yên.
Ta đi qua sân giữa. Lá ngô đồng còn ướt sương, rơi rải rác trên đá. Có một nha lại già cầm chổi tre, thấy ta thì cúi mặt, quét sang bên. Trong nghề này, người ta không chào ngỗ tác. Người ta chỉ dạt.
“Âm khí bám thân,” bọn họ nói. “Con cháu ngỗ tác không được thi cử.”
Ta biết. Ta không quan tâm.
Cửa phòng Lục Vô Ngạn mở sẵn. Trong phòng, hắn đứng bên án thư, tay trái xoay chậm chiếc hộ oản gỗ đen. Nghe tiếng bước ta, hắn ngẩng lên. Ánh sáng sớm từ cửa sổ hắt vào, chia mặt hắn làm hai phần: nửa sáng lạnh, nửa chìm trong bóng gỗ nâu.
“Thẩm Yên.”
“Lục đại nhân.”
Hắn không mời ngồi. Đưa cho ta một tờ giấy công văn dày, mực còn tanh mùi son đỏ.
“Vụ án. Phủ Vương thị lang. Một nữ nô tì tên Hạnh Nhi, mười sáu tuổi. Đêm qua bị phát hiện chết dưới giếng sân sau. Vương phủ báo tự vẫn. Muốn Đại lý tự đóng vụ trong hôm nay.”
Ta liếc công văn. Vương thị lang, Lễ bộ, phẩm cấp tứ. Nô tì tên Hạnh Nhi. Khai tự vẫn vì “bị đích mẫu quở mắng, phạm phòng, quẫn bách nhảy giếng.”
Trong đầu ta bật lên một điều rất nhỏ mà rất phiền: chưa xem xác đã kết án. Ở đâu cũng vậy. Kiếp trước cũng thế. Nhà giàu chết một người là bệnh. Nhà nghèo chết một người là án.
“Vương phủ muốn nhanh?” ta hỏi.
Lục Vô Ngạn nhìn ta.
“Rất nhanh.”
Hai chữ. Không thêm.
Ta gấp công văn lại, nhét vào tay áo. Tay áo ta rộng hơn bình thường một chút, cố tình. Bên trong khâu một túi vải, ta để sẵn hai miếng vải trắng nhỏ, một cây kim khâu, một bút chì mềm ta tự vót bằng than gỗ đào, và một chiếc quạt gấp bằng lụa nâu cũ đã ngả màu.
Quạt của cha để lại.
Ta chưa mở nó. Ta chưa dám mở.
“Đi thôi,” ta nói.
Lục Vô Ngạn khoác trường bào đen. Không kịp ăn sáng. Ta cũng vậy. Đi khám xác lúc bụng rỗng là chuyện thường của nghề này, cho dù ai lần đầu cũng ói. Ta thì không.
Phủ Vương thị lang cách Đại lý tự nửa canh giờ đi ngựa, ở phường Đông nội thành. Ngựa gõ móng trên đá lát. Trên đường, Lục Vô Ngạn không nói. Hắn cưỡi ngựa đen, ta cưỡi ngựa xám của Đại lý tự. Ngựa xám gầy, đi chậm hơn nửa bước. Ta không hối. Ngựa đi chậm cho ta thêm nửa canh giờ nghĩ.
Nghĩ về giếng.
Người tự vẫn nhảy giếng: móng tay bám vào miệng giếng, tróc da. Cơ thể co lại theo bản năng. Phổi ngập nước. Miệng có bọt. Mặt tím.
Người bị dìm xuống giếng khi còn sống: cùng dấu hiệu, thêm bầm ngoài ý muốn ở tay, ở cổ do vùng vẫy.
Người chết trước, rồi bị ném xuống: móng tay sạch. Phổi khô. Không bọt. Bầm ở cổ theo hình bàn tay, không phải theo hình miệng giếng.
Ba khả năng. Một câu trả lời. Xác sẽ nói.
Xác luôn nói. Người ta không nghe thôi.
Phủ Vương thị lang có ba tầng cổng. Cổng lớn sơn son. Cổng giữa gỗ nạm đồng. Cổng nhỏ dẫn ra sân sau, chỗ nô tì và người hầu.
Chúng ta được dẫn qua cổng nhỏ.
Vương thị lang đứng đó rồi. Người khoảng năm mươi, mặc tử bào tứ phẩm, râu ngắn, mắt nhỏ và sát. Bên cạnh lão có một quản gia già, mặt cúi xuống, tay thu trong ống áo.
“Lục thiếu khanh,” Vương thị lang cúi chào rất nhã. “Phiền ngài đến sớm. Một chuyện nhỏ trong nhà, thật ngại.”
Lục Vô Ngạn đáp lễ, ngắn. “Người chết ở đâu?”
“Đằng sau. Giếng cũ. Chúng tôi đã kéo lên, để trong phòng chái.”
“Ai kéo lên?”
Vương thị lang khựng nửa giây. “Người hầu.”
“Mấy người?”
“Hai.”
“Tên?”
“Đại nhân…” Vương thị lang cười nhẹ. “Vụ này nhỏ. Nô tì phạm phòng, quẫn bách…”
“Tên hai người hầu.”
Ta liếc mắt. Lục Vô Ngạn nói bốn chữ, mặt không đổi, nhưng Vương thị lang đã hơi cụp mắt. Trong nghề pháp y, ta gọi cái nhìn đó là cái nhìn của người có gì đó cần giấu và chưa nghĩ ra cách giấu.
Vương thị lang gọi quản gia. Quản gia đáp: “Lý Nhị và Trương Tam ạ.”
“Cho gọi hai người ấy đứng ngoài cửa phòng chái. Không được nói với nhau.”
“Vâng.”
Ta thấy Lục Vô Ngạn tách hai người hầu ra, để lát hỏi tách. Nghề của hắn. Ta chỉ gật đầu.
Trong lòng ta khen. Hắn không phải loại thiếu khanh chỉ ngồi bàn ký giấy.
Phòng chái sau bếp. Mái thấp. Cửa gỗ đóng, khe cửa lọt một luồng hơi lạnh và một mùi khác.
Mùi ấy ta biết. Ba ngày. Có lẽ đêm qua chưa đủ ba, mà là hai đêm rưỡi. Nhưng giếng nước lạnh, thi thể giữ lâu hơn ngoài trời. Mùi vừa chua vừa ngọt lợm. Người thường vào là ói.
Ta mở tay áo. Cầm quạt của cha ra.
Quạt lụa nâu, cán trúc mài mòn. Ta bật gập nhẹ, mở nửa. Trên mặt lụa, cha đã vẽ một cành mai lạnh, đường nét gầy, mực đã ngả xám. Đầu quạt có bốn chữ nhỏ, khắc chìm bên nan trúc, mờ đến mức phải nhìn nghiêng dưới nắng mới thấy: chờ ta.
Chờ ai? Ta chưa biết. Có lẽ chờ ta.
Ta phất quạt trước mặt hai cái. Mùi trầm ta xức lúc sáng bốc lên chậm, quẩn với mùi lụa cũ. Đủ để chặn mũi một lát, đủ để bước vào phòng mà không nhăn mặt.
Quạt thêu 2 mặt bọc lụa — phong cách cổ trang Trung Hoa
91.800đ
Xem chi tiết →Bước qua cửa. Lục Vô Ngạn theo sau. Hắn không phất quạt. Hắn cũng không nhăn mũi. Ta liếc hắn nửa mắt, thấy hắn thở qua miệng, chậm và đều. Người này ở phòng khám tử thi nhiều rồi.
Xác nằm trên giường tre, phủ vải trắng. Chân duỗi thẳng. Tay đặt song song hai bên. Có người đã sửa tư thế. Không tốt. Nếu vẫn để nguyên tư thế lúc kéo lên, ta đọc nhiều hơn.
“Ai sửa tư thế?” ta hỏi.
Quản gia đứng ngoài đáp: “Là… nô đây sai người sửa. Cho phải đạo.”
“Phải đạo,” ta lặp lại một tiếng, không mỉa, cũng không khen.
Ta bước lại gần. Cởi vải trắng.
Hạnh Nhi. Mười sáu tuổi. Người gầy, tay thô, gót chân chai. Là nô tì thật. Không phải người sang giả nghèo.
Da xám tro, mặt hơi phù nhưng chưa nhiều. Tóc ướt bết vào trán. Áo trong màu nâu bùn, vải bố thô. Cổ áo hơi lệch, để lộ một mảng vai bên trái.
Trên mảng vai ấy ta thấy điều thứ nhất.
Bốn vết bầm chạy dọc.
Không tròn. Không lan. Bốn vết dài như vết bốn ngón tay đè xuống. Bên vai đối diện, dưới mép áo, có một vết bầm cái. Đối xứng đúng như dấu bàn tay đè từ phía sau, một bàn tay phải, kẻ đứng phía sau nạn nhân mà đè xuống.
Ta hít nhẹ vào.
“Lục đại nhân, phiền ngài xoay đèn dầu cao hơn.”
Lục Vô Ngạn không hỏi, cầm đèn dầu trên án bên cạnh nâng cao. Ánh vàng lay động rơi xuống vai xác, làm bầm hiện rõ như bốn nét mực chì.
“Ngài thấy chứ?”
“Thấy.”
“Người tự vẫn không có bầm này ở vai.”
“Ta biết.”
Ta ngẩng lên nhìn hắn. Mắt hắn không đổi, giọng cũng không đổi. Hai chữ “ta biết” ấy có hai lớp: một lớp nghề, một lớp ngầm. Lớp ngầm là: ta chờ ngươi nói phần còn lại.
Ta cúi xuống tiếp.
Điều thứ hai: cổ.
Vòng cổ có một vết bầm hình vòng, không đứt, không rạch. Nhưng phía sau gáy có một chỗ đậm hơn, gần như tím đen. Ta ấn nhẹ hai đầu ngón tay lên. Da nạn nhân đã cứng vừa phải, dưới lớp da có gì đó ráp. Xương móng ngoài cổ có thể bị nứt.
“Nàng ta bị bóp cổ,” ta nói khẽ. “Từ phía sau. Kẻ giết cao hơn nàng nửa cái đầu, thuận tay phải, sức mạnh nhưng không quá to. Có thể là một nam thanh niên, hoặc một nữ nhân to lớn.”
Vương thị lang đứng ngoài cửa nghe. Ta thấy vạt áo tử bào rung một chút. Không rõ vì gió, hay vì gì khác.
Ta không quay đầu. Ta tiếp tục.
Điều thứ ba: bàn tay.
Ta nắm cổ tay xác, nâng lên chậm. Xác đã hơi cứng vừa, dấu hiệu chết khoảng bảy tám canh giờ trước. Trùng khớp giếng nước lạnh giữ xác chậm phân huỷ.
Móng tay Hạnh Nhi… không tróc.
Ta xoay bàn tay dưới ánh đèn. Móng ngắn, sạch. Không có dấu cào miệng giếng, không có dấu cào cổ mình (người bị dìm hay bị bóp cổ tự nhiên vùng vẫy, sẽ cào cổ mình). Không có mảnh đá vụn dính. Không có sợi tóc mình.
Chỉ có một thứ.
Ở khe móng tay ngón trỏ tay phải, một sợi vải màu xanh. Rất nhỏ. Nhỏ như một sợi lông mày. Ta phải nghiêng đèn hai lần mới thấy.
Ta rút cây kim khâu trong tay áo ra, gạt sợi vải rơi vào lòng bàn tay trái. Đặt lên miếng vải trắng ta mang theo.
Sợi vải xanh. Xanh lá non.
Áo của Hạnh Nhi màu nâu bùn. Váy nâu bùn. Yếm nâu bùn. Đến khăn quấn tóc cũng nâu bùn.
Không có gì màu xanh trên người nàng ta.
“Ngài xem,” ta đưa miếng vải trắng cho Lục Vô Ngạn.
Hắn cầm bằng hai đầu ngón tay, nghiêng dưới đèn. Ánh sáng vàng chiếu qua, sợi vải hiện màu xanh lá non rất tươi.
“Không phải vải nô tì,” hắn nói.
“Không phải.”
“Trong nhà này, ai mặc màu này?”
Ta ngước qua vai hắn. Ngoài cửa, Vương thị lang đứng im. Nhưng ta để ý quản gia già cụp mắt xuống thấp hơn nửa phân. Ta ghi vào lòng.
Điều thứ tư: phổi.
Điều thứ tư là điều quan trọng nhất. Ta không thể mổ ở đây. Không xin phép giải phẫu, ta không dám mổ. Nhưng ta có thể xem lớn hơn: xem ngực xác.
Ta cởi cúc áo trong của Hạnh Nhi. Không phanh áo. Chỉ để lộ hõm cổ và một phần xương đòn. Ta cúi xuống nghiêng đầu, đặt tai lên khe giữa ngực. Không có tiếng. Rõ ràng không có tiếng, xác chết rồi. Ta đang nghe cái khác. Ta ấn hai ngón lên khe giữa, đẩy nhẹ xuống. Lồng ngực xẹp một cách khô. Không có tiếng ọc. Không có nước dồn lên miệng.
Ta ấn thêm nữa, mạnh hơn, dùng cả lòng bàn tay đè xuống lồng ngực Hạnh Nhi.
Không có gì.
Không một giọt nước trào ra miệng nàng ta. Không một chút bọt trắng ở khoé môi.
Ta ngồi thẳng dậy.
Một lúc lâu, ta không nói.
Lục Vô Ngạn đứng cạnh, cũng không thúc. Trong ánh đèn dầu, mắt hắn nhìn ta, thẳng, chăm chú, như thể hắn đang đọc một cuốn sách mà không ai khác biết đọc.
Ta đặt tay lên trán Hạnh Nhi, rất nhẹ.
Đứa nhỏ này chết trước khi rơi xuống giếng.
Đứa nhỏ này chết trên mặt đất, ở một chỗ nào đó có màu xanh lá non, bởi một kẻ đứng sau lưng đè bốn ngón tay vào vai nó và bóp cổ nó. Rồi kẻ đó ném nó xuống giếng, để buổi sáng người ta kéo lên và nói là tự vẫn.
Ta rút miếng vải trắng khác. Ghi bằng bút chì than:
Hạnh Nhi, nữ, 16. Chết cách khám 7–8 canh giờ. Bốn bầm ngón tay vai trái, một bầm ngón cái vai phải. Bầm cổ vòng, gáy đậm, nghi nứt xương móng. Móng tay sạch. Sợi vải xanh khe móng trỏ phải. Phổi khô. Không bọt. Kết: chết trước khi rơi giếng. Nguyên nhân: siết cổ từ sau lưng.
Ta gấp miếng vải, nhét vào tay áo bên trái. Đứng dậy.
Ba bước đến cửa phòng chái.
Vương thị lang vẫn đứng đó. Quản gia vẫn cúi mặt. Sương buổi sáng đã tan gần hết, nhưng trong ánh nắng non, ta thấy sắc mặt lão thị lang có một tầng gì đó không hợp với người vừa mất một nô tì.
Ta chắp tay với hắn.
“Đại nhân.”
“Ngỗ tác Thẩm,” hắn cười. “Xong sớm chứ?”
“Xong.”
“Kết luận thế nào?”
Ta liếc Lục Vô Ngạn. Lục Vô Ngạn khẽ gật, một cái rất kín. Được, hắn ra hiệu, ngươi nói.
Ta quay lại nhìn Vương thị lang. Bình tĩnh. Câu ngắn. Rõ ràng.
“Bẩm đại nhân. Hạ quan tra xét thi thể của Hạnh Nhi. Trên vai có bốn dấu ngón tay đè từ phía sau, cổ có dấu bóp, gáy nghi nứt xương. Móng tay không tróc, không cào. Trong phổi không có nước.”
Ta ngưng một nhịp.
“Nói có sách, mách có chứng. Người ta chết trước khi rơi xuống giếng.”
Câu ấy ta nói không lớn, mà lắng xuống rất đều. Vương thị lang không đáp ngay. Râu ngắn dưới cằm lão động một chút. Đôi mắt nhỏ và sát rít lại nửa phân.
Bên cạnh ta, Lục Vô Ngạn đứng thẳng. Tay trái vẫn xoay hộ oản gỗ đen. Xoay chậm hơn ban nãy.
“Vương đại nhân,” Lục Vô Ngạn nói. Giọng hắn không cao. Nhưng lời hắn cắt xuống như bút mực đỏ khắc bảng án.
“Không phải tự vẫn. Có người bóp cổ. Có người ném xuống. Phủ ngài nói dối Đại lý tự.”
Trong bốn chữ “phủ ngài nói dối”, có hai lớp lạnh. Một lớp cho công đường. Một lớp cho tự trọng của lão thị lang.
Vương thị lang khựng. Miệng lão hé mở nửa phân, chưa kịp thành tiếng.
Ngoài sân, một luồng gió muộn thổi qua vòm cây ngô đồng. Lá vàng rụng xuống hai vai lão. Mặt lão xanh đi một tầng, rồi xanh thêm một tầng nữa. Sắc xanh của người biết mình vừa bị dồn vào chân tường mà chưa nghĩ ra đường lùi.
Quản gia già đứng bên cạnh cụp mắt sâu hơn. Ống tay áo lão run lên một cái.
Ta không rời mắt khỏi Vương thị lang. Trong lòng ta lạnh và yên, như đá giếng dưới đáy nước.
Bốn ngón tay vai trái. Một ngón cái vai phải. Sợi vải xanh trong khe móng. Phổi không nước.
Đứa nhỏ mười sáu tuổi kia không nói được nữa. Ta nói thay.
Người xưa dạy: gieo gió gặt bão. Ai bóp cổ Hạnh Nhi rồi ném nàng xuống giếng, hôm nay bắt đầu gặt.
Ta cúi đầu chào Vương thị lang, chắp tay đúng phép. Giọng ta phẳng.
“Bẩm đại nhân. Hạ quan xin phép trở về Đại lý tự viết báo cáo. Ngày mai xin đại nhân lên công đường.”
Vương thị lang không đáp. Không đáp được.
Ta quay người. Lục Vô Ngạn theo sau nửa bước. Ra khỏi cửa phòng chái, ra khỏi cổng nhỏ, ra tới sân giữa.
Đi ngang qua chỗ giếng.
Ta dừng lại một giây, cúi nhìn xuống. Nước giếng đen ngòm, phản một mảng trời xám. Trên thành giếng có một vết nứt nhỏ, cũ, chạy dọc như một vết sẹo trên môi.
Ta cúi thấp hơn một chút, giả bộ chỉnh dây giày. Tay trái luồn ra sau, ấn lên một chỗ trên thành giếng, chỗ đá thấp nhất, chỗ có thể bị va vào nếu ai đó bị ném xuống mà không tính toán góc.
Có một vệt màu xanh lá non. Rất nhỏ. Dính vào rêu đá.
Ta cạo một chút bằng đầu móng tay, gạt vào miếng vải trắng cuối cùng trong tay áo. Cuộn lại. Đứng dậy.
Không nói.
Bước ra cổng.
Lục Vô Ngạn đi bên cạnh ta. Nửa canh giờ trên đường về, hắn không hỏi câu nào về sợi vải xanh thứ hai. Nhưng khi lên ngựa, hắn đưa tay ra, không nhìn ta, chỉ nói một câu.
“Cẩn thận sau lưng.”
Ta cầm dây cương. Ngón tay ta hơi khựng một nhịp, rồi thả lỏng.
“Đa tạ đại nhân.”
Ngựa xám bắt đầu bước. Ta phất nhẹ quạt cha để lại, che nửa mặt. Trên nan trúc, hai chữ chờ ta in mờ vào lòng bàn tay ta lạnh.
Cha ta chết bất minh hai năm trước.
Vương thị lang mặt xanh sáng nay. Sợi vải xanh trong móng tay Hạnh Nhi. Vệt vải xanh trên thành giếng.
Trắng đen phải rõ. Ba manh mối này, ta chưa thấy sợi dây nối. Nhưng ta thấy có một sợi dây.
Sợi dây ấy dẫn về đâu, người bên cạnh ta có lẽ đã biết trước ta một bước.
Ta liếc Lục Vô Ngạn. Hắn nhìn thẳng phía trước, tay trái xoay chậm hộ oản gỗ đen. Trong ánh nắng non buổi sáng, ta không thấy được bóng dưới mắt hắn.
Ta thu quạt lại. Nhét vào tay áo.
Về đến Đại lý tự, việc đầu tiên ta làm là mở sổ tay. Tờ giấy trắng ta ghi. Bên trên, ta viết ba chữ nhỏ, mực đen, đè xuống mạnh:
Vải xanh non.
Bên dưới, dấu chấm hỏi.