Hoài Cổ Truyện

Sau Khi Hoà Ly Ta Trở Thành Hoàng Hậu

Chương 10: Không Vội Cưới

Ta chưa đáp lời chàng.

Gió cửa cung buốt. Sương thu chưa tan trên nóc điện. Cỗ xe đợi ngoài sân, hai con ngựa đen phun ra hơi trắng, dập dồn trong không khí lạnh.

Chàng đứng bên xe, mắt vẫn nhìn thẳng. Câu “cưới ta” hai chữ còn treo giữa hai người, chưa rơi xuống đất.

Ta cúi đầu.

Không phải lễ. Là để chàng không đọc được mắt ta lúc này.

Kiếp trước ta cũng đứng dưới trời sương như vậy. Kiếp trước một tay đàn ông cũng đưa ta lên xe, giọng chắc như đá lạnh: “Nàng đã bị nghi, cưới ta thì ta bảo vệ được.” Kiếp trước ta gật đầu, nghĩ mình đang được cứu.

Sau ba năm, tay ấy đưa ta chén rượu độc trong lãnh cung. Còn ấm.

Nội tâm nàng lặng. Vội cưới thì chết. Vội tin thì chết. Kiếp này ta đã trả xong bốn chữ ấy bằng ba năm ăn than lạnh trong hầm sâu, đủ rồi.

“Điện hạ.” Ta ngẩng lên. Giọng ta không run, nhưng nhẹ. “Chàng cho ta về nhà đã.”

Chàng không đáp ngay. Con ngươi đen của chàng lặng như mặt hồ đêm, đợi ta nói tiếp.

“Ta không đáp chàng ngay bây giờ. Ta cũng không từ chối.” Ta hít một hơi. “Ta xin chàng ba tháng.”

Ba tháng.

Hai chữ ấy ta đã cân trong lòng suốt đường từ ngự thư phòng ra tới cửa cung. Không phải ba ngày, cũng không phải một năm. Đủ để cắt sợi dây hồng tanh còn dính trên cổ tay, đủ để dựng một mảnh danh tiết mới trước khi ai đó cột thêm dây mới lên ngực ta.

Chàng nhìn ta. Rất lâu.

Rồi chàng lùi một bước. Nhấc tay áo, mở cửa xe cho ta.

“Được. Ba tháng.”

Ta bước lên. Rèm buông. Ngựa gõ móng trên đá lát.

Trước khi màn ngăn hai người kín hẳn, ta còn nghe chàng nói vọng qua khe rèm:

“Ta chờ nàng hai năm, thêm ba tháng, không lâu.”

Câu này ta nghe không hiểu.

Ta chưa hỏi. Xe đã lăn bánh, và có những câu, phải để nó nằm im trong lòng cho đến khi tự nó nứt vỏ.

Đường về Chu phủ dài. Ngựa gõ đều. Ta ngồi trong xe, một mình.

Ba năm trước ta cũng ngồi trong một cỗ xe hoa đi ngang qua chính con đường này. Kiệu hoa đỏ, chăn hồng, tiếng nhạc cưới nổi trước sau. Kiếp trước ta ngồi trong kiệu ấy, tay run vì hồi hộp. Ta mười tám tuổi, mới đỗ nữ tài cấp đạo hai năm. Ta tin mọi thứ trước mặt là hoa gấm.

Kiếp này ta hai mươi lăm. Ta ngồi trong xe về nhà mẹ đẻ, tay không run. Tay ta chỉ lạnh.

Ngoài cửa sổ, phường phố Lâm An lướt qua từng khối. Đèn lồng thắp lên khi ta ra khỏi hoàng thành. Đèn hàng bún, đèn hàng tương, đèn hàng thợ giày. Một đứa trẻ chạy ngang, kêu mẹ. Một con chó sủa. Cuộc sống ngoài rèm dày, ngột.

Ta lật đi lật lại hai chữ ba tháng trong đầu.

Ba tháng đủ để làm gì?

Đủ để tra ngược một chuỗi vu oan mười lăm năm dài, không đủ.

Nhưng đủ để không cưới nhầm người lần thứ hai. Đủ để nhìn rõ mặt Tam hoàng tử dưới ánh sáng ban ngày, không phải chỉ dưới bóng đèn triều đình. Đủ để ta biết chàng đứng ở phe nào, thật hay giả.

Dục tốc bất đạt. Kiếp trước ta chết vì bốn chữ ấy. Kiếp này ta khắc bốn chữ ấy vào lòng bàn tay.

Về đến Chu phủ Ngô Sơn, trời đã sập tối.

Đèn thắp khắp gian.

Từ cổng ngoài đến sân trong, đèn lồng đỏ cột lên đầu cột, đèn bấc đặt trên bậc thềm. Ngô Sơn tháng chín trời sớm rét, gió lùa qua hàng liễu cạnh giếng, thổi tắt đèn nào là a hoàn chạy ra thắp lại đèn ấy. Cả phủ sáng như đêm hội đăng.

Ta xuống xe. Ống tay áo còn dính chút bụi từ ngưỡng cửa cung. Ta không phủi.

Bích Đào chạy đến, mắt ướt: “Tiểu thư… không phải, phu… phu nhân…”

Con bé ngừng. Không biết xưng ta thế nào. Ta đã hoà ly, không còn là vương phi Trấn Bắc. Nhưng ta cũng chưa về làm cô nương, chưa cài lại trâm thứ nữ.

Ta cười nhẹ. “Gọi là tiểu thư. Ta chưa cưới lại, ta vẫn là con gái nhà họ Chu.”

Nó gật, mím môi cắn. “Lão gia đợi tiểu thư ở tiền sảnh.”

Ta gật. Đưa mắt nhìn dọc hàng đèn. Kiếp trước ba năm ta ở vương phủ, chưa lần nào Chu phủ thắp đèn dày như thế. Kiếp trước ngày ta xuất giá, cha ta cũng chỉ cho thắp bốn cặp đèn ở cổng. Hôm nay ta trở về sau hoà ly, đèn thắp gấp bội đêm rước dâu.

Cha ta đang chào mừng ta về.

Cha ta cũng đang chào mừng ta thoát ra.

Ta bước vào tiền sảnh. Hương trầm còn thoảng trong không khí, ấm và ngọt như một cốc trà pha đúng độ.

Cha ngồi bên bàn trà. Áo dài xanh sẫm, tóc mai đã bạc nửa. Tay ông cầm một chén trà đầy, không nhấp, chỉ để hơi bốc lên trước mặt.

Nghe tiếng bước ta, ông ngẩng lên.

Mắt ông sáng.

Sáng đến mức ta phải cúi xuống. Vì đôi mắt ấy, kiếp trước ta chỉ được thấy vào ngày ta đỗ nữ tài cấp đạo lúc mười sáu tuổi. Sau đó là mười năm mắt cha xa dần. Sau đó là ba năm mắt cha lạnh như tro. Sau đó là ngày mắt cha nhắm hẳn trong linh cữu, mà kiếp trước ta không dự tang được vì ta đã ở trong lãnh cung.

“Cha.”

Ta cúi đầu. Chắp tay.

“Con về.”

Cha ta đặt chén trà xuống. Đứng dậy. Bước hai bước ra, đến trước mặt ta. Không ôm. Chu gia không có thói ôm. Chỉ đặt hai tay lên vai ta, nắn nhẹ hai lần.

“Về là được.” Ông nói. “Về là được.”

Ba chữ ấy ông lặp lại như một câu chú. Nhỏ, nhưng chắc.

Ta ngước lên.

Trong ánh đèn đầu bấc, tóc mai cha bạc thêm mấy sợi so với sáng nay. Mắt cha vẫn sáng, nhưng khoé đỏ. Ta biết ông không khóc trước mặt ta, ông đã khóc trước khi ta về.

Kiếp trước ta không hiểu tại sao ngày ta xuất giá cha đứng lặng trước cổng, không đưa. Ta tưởng ông không thương ta. Kiếp này ta biết ông không đưa vì ông biết ta đi vào chỗ chết. Chỉ là ông không đủ chứng cứ, không đủ thế, để giữ ta lại.

Bây giờ ta về, ông thắp đèn vì thứ ông không giữ được ba năm trước, hôm nay đã tự mình trở về.

Ta thấy trong lòng có gì đó nứt ra. Không phải đau. Là một tấm gương vỡ đang được ghép lại, mảnh này khớp mảnh kia, chưa liền hẳn, nhưng đã có hình.

“Cha, con…”

“Ngồi.” Ông kéo ta ngồi. “Uống chén trà.”

Ta ngồi xuống. Bích Đào bưng chén trà mới. Trà mới rót còn nóng, hơi bốc lên vờn quanh vành chén.

Cha ta nhấp một hớp. Ông đặt chén, nhìn ta.

“Trong triều hôm nay có tin đồn.”

Ta gật.

“Người ta nói Tam hoàng tử ngoài cửa ngự thư phòng đợi con.”

Ta gật lần nữa.

“Người ta còn nói…” Cha ngừng. Nhấp thêm một hớp trà. “Điện hạ có ý cưới con.”

Ta không đáp. Nhưng ta biết mắt ta không kín được. Cha đã đọc ra.

Ông đặt chén xuống lần nữa. Ánh sáng đèn hắt lên má ông một vệt vàng. Ta thấy trong vệt vàng ấy có một tia gì đó rất hiếm ở khuôn mặt cha ta. Không phải mừng. Là hy vọng.

Kiếp trước ta không được thấy tia này trong mắt cha, không lần nào.

Ta thở ra.

“Cha.”

Ta cúi đầu, chậm.

“Con vừa hoà ly. Xin cha để con thở đã.”

Không khí trong sảnh dừng lại.

Một tia trong mắt cha vụt tắt. Không phải giận. Không phải trách. Chỉ là tia hy vọng nãy giờ lấp lánh, bây giờ dịu xuống thành thứ gì đó bình thản hơn.

Ta chờ.

Chờ ông sẽ nói: “Đây là cơ hội trăm năm. Nhà họ Chu cần cái ơn này.” Chờ ông sẽ nói: “Con hoà ly rồi, tuổi hai mươi lăm, không cưới ngay lần này thì đợi khi nào?” Kiếp trước ông đã nói câu ấy khi ta than mệt sau ba tháng gả về Trấn Bắc vương phủ. Kiếp trước ông đã đẩy ta trở lại vương phủ mà không hỏi ta đau chỗ nào.

Nhưng ông không nói câu ấy.

Ông chỉ ngồi lặng một lúc. Rồi đưa tay, đặt lên chén trà nguội của ta. Đẩy chén trà ấy về phía ta.

“Uống đi con. Nguội thì thay chén khác. Cha bảo họ pha lại.”

Ta ngước lên.

Không phải chuyện chén trà.

Trong mắt ông, ta thấy ông nhượng bộ. Lần đầu tiên trong hai kiếp, ông nhượng bộ ta trong chuyện chồng con.

Ta muốn khóc.

Nhưng khoé mắt ta khô như bãi cát cuối thu. Kiếp trước ta đã khóc hết nước mắt trong lãnh cung, kiếp này ta chưa có nước mắt mới. Chỉ có một cảm giác rất lạ ở lồng ngực, như một sợi dây hồng vừa được ai đó buộc lại. Không phải dây hồng nhân duyên. Là dây hồng máu mủ. Dây cha con.

Ta cầm chén trà. Nhấp một hớp. Nguội. Nhạt. Nhưng ngọt.

“Cảm ơn cha.”

“Không cần cảm ơn.” Ông thở ra. Một hơi dài. “Ba năm qua cha hối hận. Ngày con xuất giá cha đã thấy Ninh phu nhân Trấn Bắc có mắt lạ. Cha không nói. Cha nghĩ đàn ông xen vào chuyện đàn bà nội trạch là hạ đẳng. Kết quả…”

Ông không nói tiếp câu cuối.

Ta biết câu cuối là gì. Kết quả ta bị vu ngoại tình, uống chén rượu độc chết trong lãnh cung. Kết quả ấy ở kiếp trước, ông chưa biết. Nhưng linh cảm của cha đã đoán ra một phần.

“Cha, chuyện cũ để nó qua.” Ta đặt chén xuống. “Con hoà ly xong, con muốn ba tháng để làm rõ vài chuyện. Sau ba tháng, cha có muốn con cưới, con sẽ tính. Chỉ xin cha ba tháng.”

Ông gật.

“Được.” Một chữ. Chắc.

Ta cúi đầu lần nữa.

Ông đứng dậy, đi đến cạnh cửa sổ. Nhìn ra ngoài. Sân đèn thắp sáng phản chiếu lên khuôn mặt ông một lớp ánh vàng. Bóng ông đổ dài trên sàn.

“Ninh Hàn.” Ông gọi tên ta.

Tên chính của ta là Chu Vãn Ninh. Cha gọi ta là “Ninh Hàn” chỉ khi ta còn bé, ngồi trên đầu gối ông tập chữ. Sau khi mẹ ta mất, ông ngừng gọi thế.

Kiếp này ông gọi lại.

“Cha nghe.”

“Nếu ba tháng nữa con thấy Tam hoàng tử… không hợp, con nói. Đừng ngại. Chu phủ nuôi được con cả đời, không ai bắt con phải cưới ai.”

Ta đứng dậy. Đi tới bên cha. Không nói gì. Chỉ cúi đầu tựa nhẹ vào vai ông một cái.

Chỉ một cái. Rất nhanh.

Rồi ta lùi lại.

“Con biết. Con đi nghỉ trước.”

Đêm ấy ta không ngủ được.

Không phải vì mệt, cũng không phải vì lạnh. Là vì ngực ta có hai sợi dây hồng đang siết vừa lỏng vừa chặt: một sợi cha con vừa buộc lại sau ba năm cha con lạnh; một sợi khác, chưa siết chặt, mới chỉ thoáng qua trong câu chàng nói trước cổng cung.

“Ta chờ nàng hai năm, thêm ba tháng, không lâu.”

Hai năm.

Hai năm mà chàng nói là hai năm nào?

Ta xuất giá ba năm trước. Ta gặp Tam hoàng tử ở cung yến năm thứ hai của mối hôn nhân, đó là lần đầu ta thấy chàng ở khoảng cách gần. Từ ngày ấy đến hôm nay hoà ly, mới hơn một năm. Hai năm chàng chờ, tính từ khi nào?

Ta trở mình trên gối.

Ba năm trước ngày ta xuất giá, chàng còn ở Đông cung học bên Thái tử, ta chưa hề gặp mặt. Vậy hai năm chàng nói, không phải tính từ ngày quen ta.

Vậy tính từ ngày nào?

Ta không đoán ra. Câu ấy như một mảnh giấy nhỏ nhét vào ống tay áo, ta chưa mở ra được, nhưng ta biết trong đó có chữ.

Ta nhắm mắt lại. Ngoài cửa sổ, gió luồn qua khe giấy, kêu khe khẽ. Trong đầu ta, câu ấy quay đi quay lại như một con quay.

Đến canh tư, ta mới thiếp đi.

Sáng hôm sau, ta dậy sớm.

Sương thu còn phủ trên mái ngói. Ta không dùng bữa. Chỉ uống một chén nước ấm, thay áo màu tro nhạt, tóc búi cao, cài trâm gỗ tử đàn. Không phấn son.

“Bích Đào, chuẩn bị xe. Ta đi phủ Tam hoàng tử.”

Bích Đào tròn mắt: “Tiểu thư… vừa về hôm qua…”

“Đi luôn hôm nay.” Ta đứng dậy. “Chuyện càng để lâu, dây càng thắt chặt. Ta phải nói rõ với chàng.”

Ông bà xưa có câu: một lần bị rắn cắn, mười năm sợ dây thừng. Ta đã bị rắn cắn kiếp trước, kiếp này mỗi sợi dây trên tay ta ta phải tự tay gỡ. Không đợi ai gỡ hộ.

Cha ta không tiễn. Sáng nay ông đi thiết triều sớm. Nhưng bên bàn trà, ta thấy một tấm thiếp nhỏ ông để lại, chữ viết vội: “Chu phủ đợi con về ăn tối.”

Ta gấp thiếp, giấu vào ngực áo.

Phủ Tam hoàng tử ở phía đông thành, kề bên phường học sĩ. Không lớn. Cổng ngoài chỉ một cặp đèn lồng trắng, không đỏ. Trên biển gỗ đề ba chữ “Vệ Ngôn Phủ” bằng nét chữ mảnh, kín đáo.

Vệ Ngôn.

Đó là biệt hiệu của Tam hoàng tử. Không dùng chữ “Tiêu” của hoàng thất. Không dùng chữ “vương”. Chỉ hai chữ trung tính, nghe như nhà một vị học sĩ ẩn cư.

Kẻ ngoài nhìn vào, tưởng chủ nhà là một văn nhân nghèo.

Kẻ trong triều biết, đó là con trai thứ ba của đương kim thánh thượng, người mà cả triều đánh giá là “vô năng, ham chữ, không giành ngôi”.

Ta gõ cửa. Người nhận thiếp là một tiểu đồng chừng mười bốn tuổi, mặt sáng, đôi mắt như hai giọt mực đen. Nó đọc thiếp, gật đầu, không hỏi thêm câu nào.

“Cô nương theo tiểu tử.”

Ta được dẫn qua ba lớp sân. Sân đầu trồng trúc. Sân giữa có một ao nhỏ nuôi cá vàng. Sân trong trồng một cây mai già, thân xù xì, cành khô, chưa có nụ. Cuối sân là một gian nhà gỗ ba gian, mái ngói nâu, cửa sổ giấy trắng chưa dán chữ.

Chàng đợi ta trong gian giữa.

Áo dài màu xanh khói nhạt, không thêu chỉ vàng, không đeo ngọc. Tóc chỉ búi bằng dải lụa đen. Trước mặt chàng là một bàn trà thấp, đặt một ấm trà nhỏ và hai chén trắng.

Nhìn chàng như vậy, không ai đoán được đây là Tam hoàng tử.

Ta bước vào. Cúi mình.

“Điện hạ.”

“Ngồi.” Chàng chỉ chỗ đối diện. “Trà mới pha.”

Ta ngồi xuống. Chàng rót trà. Tay chàng đều, nước chảy thành sợi mảnh, không tràn không thiếu.

Ta cầm chén. Ấm.

“Ta không nghĩ nàng đến sớm vậy.” Chàng nói. Giọng không cao không thấp. “Ta chuẩn bị đợi nàng bảy ngày.”

“Bảy ngày dài.” Ta đáp. “Có chuyện, ta muốn nói cho rõ, để chàng không đợi hụt.”

Chàng ngước lên. Chờ.

Ta đặt chén trà xuống. Ngón tay ta chạm mặt bàn, mát.

“Điện hạ. Hôm qua chàng nói cưới ta. Ta đã xin ba tháng.” Ta hít một hơi. “Nay ta muốn nói lại một lần, cho chàng chọn: chàng chờ ta hai năm, ta xin chàng chờ thêm vài tháng. Sau khi ta minh oan xong, ta mới bàn chuyện hôn.”

Chàng không đáp ngay.

Chàng nhấp một hớp trà. Đặt chén xuống. Ánh sáng ngoài cửa sổ giấy lọt qua, hắt lên má chàng một vệt sáng nhạt.

“Nàng minh oan chuyện gì?”

Ta cúi đầu.

“Chuyện bức thư giả tình trong phòng ta ba năm trước, ngày đại hôn Trấn Bắc vương phủ. Ta bị vu ngoại tình. Chàng nghe rồi chứ.”

“Ta nghe.”

“Ta chưa hoà ly được thanh danh. Hoà ly thư đã ký, nhưng bốn chữ ‘ngoại tình vu oan’ vẫn còn trong sổ đăng ký hôn thư của bộ Lễ. Ta không muốn cưới bất kỳ ai, kể cả chàng, khi bốn chữ ấy còn đó. Nếu ta cưới chàng lúc này, thiên hạ sẽ nói ta cưới chàng để tránh tội, chàng cưới ta để lập phe. Chàng thành công cụ, ta thành kẻ trú ẩn. Không được.”

Ta nói một hơi. Chấm câu bằng một cái ngẩng đầu.

Chàng nhìn ta.

Rất lâu.

Rồi chàng cười. Không rộng. Chỉ nhếch một góc miệng, kiểu cười của kẻ vừa nghe một câu đúng ý.

“Nàng nghĩ giống ta.” Chàng nói. “Ta cũng không muốn cưới nàng lúc này.”

Ta hơi khựng.

Nếu chàng không muốn cưới ngay, vậy hôm qua trước cổng cung, câu “cưới ta” hai chữ ấy là gì?

Chàng đọc ra thắc mắc trong mắt ta. Chàng nói tiếp:

“Hôm qua ta nói ‘cưới ta’ là để nàng biết ta ở phe nàng. Không phải để cưới ngay. Nếu nàng gật, ta cũng chờ nàng minh oan xong mới cưới. Nếu nàng lắc, ta vẫn đứng ở phe nàng.”

Chàng đưa tay xuống dưới án, rút ra một quyển hồ sơ dày. Bìa gỗ, dây đỏ buộc chéo. Đặt lên bàn, đẩy về phía ta.

“Cưới thì để ba tháng nữa. Nhưng bây giờ, nàng cần đọc cái này. Nàng muốn minh oan chuyện bức thư giả tình, phải bắt đầu từ đây.”

Ta nhìn quyển hồ sơ.

Bìa cũ. Dây đỏ đã hơi bạc. Đây không phải hồ sơ mới. Đây là hồ sơ đã được ai đó lưu giữ ba năm.

Ta đưa tay. Ngón tay ta không run. Nhưng dưới lớp da, mạch máu đập nhanh hơn thường.

Ta tháo dây. Mở bìa.

Trang đầu là một bản chép lời khai. Chữ nhỏ, ngay ngắn, mực đen.

Ta đọc.

Đọc đến dòng thứ tư, ngón tay ta bắt đầu run.

Đọc đến dòng thứ bảy, ta phải đặt hồ sơ xuống bàn.

Vì dòng thứ bảy là hai chữ tên.

Không phải “Vệ Nguyệt Lam”.

Là “Hoắc Đình Yến”.

Hoắc Đình Yến. Chồng cũ của ta. Trấn Bắc vương. Người mà kiếp trước ta tin đến ngày cuối cùng, vì ta nghĩ hắn chỉ hiểu lầm, chỉ bị Vệ Nguyệt Lam lừa. Người mà kiếp này ta đã hoà ly, nhưng trong lòng vẫn còn tin rằng hắn không chủ mưu, chỉ bị dắt mũi.

Trong bản khai, một tên gia đinh cũ Trấn Bắc vương phủ đã khai:

“Bức thư giả tình trong phòng vương phi đêm hôm ấy, không phải Vệ tiểu thư đưa vào. Là do Trấn Bắc vương phái tiểu nhân đặt dưới gối. Vệ tiểu thư chỉ là kẻ được lệnh ‘phát hiện’ bức thư trước mặt Ninh phu nhân. Trấn Bắc vương và Vệ tiểu thư đã thoả thuận từ trước ba tháng: dùng vụ này trừ vương phi, để Vệ tiểu thư danh chính ngôn thuận thay vào ngôi chính thất.”

Ta đọc đến dòng ấy.

Tay ta run đến mức không giữ được trang giấy. Trang giấy rơi xuống bàn, phát ra một tiếng rất nhỏ.

Nhưng trong tai ta, tiếng ấy vang như một cái chuông.

Trong đầu ta, kiếp trước hiện lên từng mảnh gương vỡ.

Hôm ta bị vu ngoại tình, Hoắc Đình Yến đứng bên Vệ Nguyệt Lam, tay dắt tay ả. Ta tưởng hắn tin lầm. Hoá ra hắn diễn.

Hôm ta bị đẩy vào lãnh cung, Hoắc Đình Yến không đến thăm dù chỉ một lần. Ta tưởng hắn giận. Hoá ra hắn cố tình.

Chén rượu độc kiếp trước, tay ai đó đưa còn ấm. Ta chưa nhìn rõ tay ấy. Nhưng bây giờ ta biết, nếu không phải chính hắn đưa, thì cũng là hắn ra lệnh.

Kiếp trước ta cưới hắn ba ngày, hắn đã tính đường trừ ta.

Kiếp trước ta ngồi bên hắn ba năm, mỗi đêm ta pha trà cho hắn, mỗi sớm ta chỉnh cổ áo cho hắn. Ta gọi hắn “phu quân”. Hắn gọi ta “nương tử”. Mỗi âm ấy, hắn đều nói với đầu lưỡi tính toán một ngày sẽ đưa ta đi xa hơn cả lãnh cung.

Máu chảy xuống ngón tay ta. Không phải máu thật. Là cảm giác. Nhưng đủ đau.

Ta ngẩng lên nhìn chàng.

Mắt ta không đỏ. Cũng không ướt. Chỉ có một thứ gì đó cháy khô ở đáy con ngươi, như tro than đã tắt nhưng còn nóng.

“Chàng có… từ ba năm trước…” Ta nghe giọng mình khô, khàn. “Chàng đã biết chuyện này?”

Chàng nhìn ta.

Chàng gật đầu.

Một cái gật rất nhẹ.

“Ba năm trước ta đã biết. Nhưng lúc ấy ta không có cách nào đưa hồ sơ này đến tay nàng mà không hại nàng thêm. Nàng đang là vương phi Trấn Bắc, ai đưa cho nàng cũng bị Hoắc Đình Yến giết. Ta chờ. Ta đợi nàng hoà ly, ra khỏi phủ hắn.”

Chàng ngừng một nhịp. Rồi nói tiếp, giọng chậm hơn:

“Hôm qua ta bảo nàng cưới ta trước cổng cung, không phải vì ta vội. Là vì ta biết, nếu hôm nay nàng đọc hồ sơ này, nàng sẽ đi trả thù. Và ta không muốn nàng đi trả thù một mình.”

Chàng nói xong, đưa tay xuống bàn, đặt trên tay ta.

Tay chàng ấm.

Ấm hơn chén trà.

Ấm hơn cả tia sáng vàng ngoài cửa sổ.

Ta không rút tay ra. Cũng không nắm lại.

Chỉ nhìn xuống bàn tay chàng phủ lên tay ta, và ba chữ “Hoắc Đình Yến” đang cháy khô trên trang giấy dưới hai bàn tay ấy.

Sợi dây hồng thứ ba trong ngực ta, ta cảm được. Chưa buộc chặt. Chỉ mới có một vòng.

Nhưng đã có vòng đầu.