Hoài Cổ Truyện

Sau Khi Hoà Ly Ta Trở Thành Hoàng Hậu

Chương 6: Kiếp Trước Chàng

Giọt trà nóng trên mu bàn tay ta chưa kịp lạnh, mà lồng ngực đã như bị ai bóp chặt.

Hắn cũng trọng sinh.

Ba chữ ấy tựa ba mũi kim, xuyên thái dương, xuyên tim, xuyên qua mười lăm năm sương thu ta ngỡ đã chôn kín dưới đáy giếng lãnh cung.

Ta cúi đầu, hong tay áo lên vệt trà loang trên bàn. Tơ lụa hút nước rất nhanh, chỉ trong nháy mắt đã không còn dấu. Nhưng trong ngực ta, có thứ vừa loang ra thì không cách nào lau khô nổi.

Chu Vãn Ninh của kiếp trước từng nghĩ, cả đời nàng chỉ có mình nàng chết oan.

Hoá ra không phải.

Hoá ra ở một góc nào đó của Đại Tề, có một người cũng nếm qua vị chén rượu lạnh, cũng thấy sương thu phủ trắng gót chân mình, cũng như nàng, quay về từ cõi chết.

Và người đó, chính là hắn.

Là Tam hoàng tử Tiêu Trường Uyên. Là kẻ ba năm trước trong yến hội Đông cung từng đưa cho ta một chiếc khăn tay thêu hoa mộc cận, để rồi ta trả lại chàng với ánh mắt lạnh nhạt của một chính thất Trấn Bắc vương phủ.

Là kẻ mà kiếp trước, ta còn không biết mặt cho tường tận.

Ta ngẩng đầu.

Trong phòng khách nhỏ của Chu phủ, gió chiều lùa qua khe cửa. Chàng vẫn đứng bên khung cửa, tay chắp sau lưng, y phục màu tro nhạt, nếp áo phẳng phiu như chưa từng bị đêm dài nào làm nhàu. Nhưng ta nhìn ra được, dưới lớp áo tro ấy có gì đó vừa mới rung lên một lần, rất khẽ.

Ta hắng giọng, giữ giọng bình thản:

“Ra sau vườn nói chuyện đi, tam điện hạ. Đình sen bên hồ, ít tai mắt.”

Chàng khẽ nghiêng đầu, chắp tay:

“Xin theo ý phu nhân.”

Chữ “phu nhân” ấy rơi xuống, hơi có chút chua chát. Ta đã ký hoà ly thư sáng nay. Trên danh nghĩa, ta không còn là phu nhân Trấn Bắc vương phủ nữa. Nhưng chàng vẫn gọi ta như thế, không phải để châm chọc, mà là bởi vì trong tay chàng còn giữ một cách xưng hô khác chưa dám dùng.

Ta biết. Ta biết ngay lúc chàng khẽ ngập ngừng.

Đình sen Chu phủ nằm ở góc tây bắc khu vườn cũ, một mái ngói tám cạnh, sáu cây cột gỗ mun, giữa đình đặt một chiếc bàn đá tròn. Vào tháng bảy, sen còn nở đỏ rực cả một góc hồ, nhưng bây giờ đã là cuối thu, đài sen khô đen như những nắm tay nhỏ nắm chặt vào không trung.

Ta ngồi xuống trước.

Chàng đứng chờ ta đặt tay lên bàn, mới ngồi xuống đối diện. Khoảng cách vừa vặn ba thước, không gần đến mức thất lễ, không xa đến mức lạnh nhạt.

Ta rót một chén trà. Chàng đón lấy bằng cả hai tay.

“Tam điện hạ,” ta nói, “hôm nay hồ ao vắng vẻ, không có Vệ nhị tiểu thư, không có Trấn Bắc vương, không có người bên hoàng cung. Điện hạ muốn nói gì, xin cứ nói.”

Chàng nâng chén trà, không uống, đặt lại xuống bàn. Ngón tay trắng, gầy, ngón út có một vết chai nhỏ ở đốt giữa. Ta biết vết chai ấy là dấu của bút lông cầm quá lâu. Kiếp trước ta từng gặp vết chai như thế trên tay phụ thân, khi ông ngồi thảo tấu chương thâu đêm cho phụ hoàng.

Vô năng cái gì. Đến vết chai của chàng cũng đã cho ta câu trả lời rồi.

Chàng nhìn ta.

“Vãn Ninh.”

Chỉ hai chữ. Không có “vương phi”, không có “phu nhân”, không có “cô nương”.

Là hai chữ khuê danh của ta.

Ta khép mắt lại. Trong lồng ngực có gì đó rung lên như dây đàn bị chạm quá nhẹ, chỉ ngân một tiếng rồi tắt. Ta mở mắt, nhìn thẳng vào chàng.

“Chuyện kiếp trước, tam điện hạ nhớ đến đâu?”

Chàng bật cười khẽ. Nụ cười ấy không có chút vui, chỉ có mệt.

“Nàng còn hỏi ta câu đó, tức là nàng cũng nhớ đủ rồi.”

Chữ “nàng”.

Chữ ấy rơi xuống bàn đá tròn, rơi xuống mặt trà nguội, rơi cả xuống đài sen đen ngoài kia.

Ta muốn nói với chàng, xin đừng gọi ta là “nàng”. Xưng hô ấy chỉ dành cho phu quân, cho người trong nhà, cho kẻ đã ngoại lệ trong luật lệ. Ta không phải bất kỳ ai trong ba loại đó với chàng.

Nhưng ta không nói.

Bởi vì trong khoảnh khắc chàng gọi “nàng”, trong đầu ta hiện lên một mảnh ký ức chưa từng có: một gian phòng lạnh tối, có mùi thuốc độc còn vương trên môi ta, có một cánh tay run rẩy đỡ lấy gáy ta, và có một tiếng thở rất khẽ, ngay bên tai, gọi ta bằng đúng chữ ấy.

“Nàng nói trước, hay ta nói trước?” chàng hỏi, giọng vẫn khẽ.

“Chàng nói đi,” ta nghe mình đáp, “vì phần của chàng ta chưa biết. Còn phần của ta, ta đã sống qua một lần rồi.”

Chàng gật đầu.

Ta thấy chàng đưa tay lên xoa nhẹ hai bên thái dương, đúng cái động tác mà một người nắm quá nhiều bí mật trong đầu mới hay làm.

“Kiếp trước,” chàng bắt đầu, giọng đều đều như thể đang đọc lại một bản tấu, “ta là quan giám tra. Chức nhỏ, tam phẩm, phụ trách thẩm định các vụ án liên quan đến hoàng thất và tôn thất. Vụ ngoại tình của nàng, chính là ta được giao.”

Ta khẽ nắm chặt tay áo.

“Giám tra?”

“Người ngoài chỉ thấy ta lơ ngơ trong triều, ba câu thơ, hai chén rượu, một buổi vẽ tranh. Nhưng phụ hoàng biết ta không vô năng. Ngài để ta đứng trong bóng, xử những vụ mà thái tử và mẫu hậu không tiện đụng vào. Vụ của nàng, ta xử.”

Ta cúi đầu nhìn mặt bàn đá. Bàn đá phản chiếu một khoảng trời chiều xám. Trong khoảng trời ấy, ta thấy khuôn mặt mình mờ nhạt, tưởng như một hồn ma đang soi vào chính giấc mộng của mình.

“Ta đọc từng tờ giấy trong hồ sơ,” chàng nói tiếp. “Bức thư tình có dấu son đỏ, chữ viết là chữ nàng, giấy là giấy Tây Hồ nhà nàng vẫn dùng. Bên ngoài ai cũng bảo bằng chứng chắc như đinh đóng cột. Nhưng ta biết nàng không viết bức thư đó.”

“Vì sao?” Ta nghe giọng mình khàn đi.

“Vì ta biết nét chữ của nàng.” Chàng khẽ ngẩng đầu. “Ta từng thấy chữ nàng trên bức trướng thêu Chu phủ dâng tết Nguyên đán, năm nàng chưa gả. Nét ngang của nàng bay lên bên phải, nét sổ của nàng dứt ở chỗ chỗ có gân bút. Người giả chữ nàng có thể sao lại hình, nhưng không sao lại được cái gân bút ấy. Bức thư trong hồ sơ, gân bút chết cứng, là chữ của người khác đè lên khung chữ nàng.”

Ta chớp mắt.

Kiếp trước ta không biết chuyện này.

Kiếp trước, ta chỉ biết mình bị đưa vào lãnh cung, không biết ai đã xét vụ, không biết trong đám quan giám tra có kẻ nhìn ra được sự giả tạo, nhưng vẫn không cứu được ta.

“Ta đưa bản báo cáo phản biện lên,” chàng nói, giọng chợt trầm xuống, “nhưng thái tử ép ba vị đại thần phủ nhận báo cáo của ta. Bức thư giả được đưa vào hồ sơ chính thức. Ta muốn xin diện kiến phụ hoàng, mà phụ hoàng lúc đó đã bệnh, không nghe được. Ta muốn tìm Trấn Bắc vương thương lượng, hắn khoá cửa từ chối gặp. Ta gõ cửa lãnh cung, thái giám gác cửa đưa ra một tờ ý chỉ đóng dấu hoàng hậu, cấm bất kỳ ai vào thăm.”

Ta không nhìn chàng.

Ta đang nhìn xuống lòng tay mình. Lòng tay có một đường chỉ nhỏ chạy từ cổ tay đến gốc ngón cái, kiếp trước sư mẫu bảo đó là đường tình duyên, nói ta có phúc phần sâu dày. Sư mẫu nói sai. Đường tình duyên ấy chỉ dẫn ta đến chén rượu độc, không dẫn ta đến ai khác cả.

“Đêm nàng chết,” chàng nói tiếp, câu này ngắn hơn hẳn, “ta biết. Ta chạy đến lãnh cung.”

Ta nghe được cả tiếng lá khô rơi bên bờ hồ.

“Ta phá cửa. Thái giám gác cửa đêm đó ta không giết, chỉ đánh ngất. Ta chạy vào tận cùng hành lang phía tây, đúng gian phòng cuối. Nàng nằm trên nền đá, tay còn cầm chén sứ nhỏ. Nàng vẫn ấm.”

Chàng dừng lại, hai tay đặt lên mặt bàn, ngón tay siết vào nhau đến mức khớp trắng bệch.

“Ta ôm nàng dậy. Ta gọi tên nàng. Nàng mở mắt một lần, ánh mắt còn có ý muốn nói. Nhưng nàng không nói được rồi. Ta thấy môi nàng động, hai chữ, ta cúi sát tai vẫn không nghe rõ. Sau đó gương mặt nàng lạnh dần trong tay ta. Lạnh từ trán xuống thái dương, xuống má, xuống cằm. Ta ôm nàng, ta đếm từng phần lạnh ấy, ta ước gì tay ta là than hồng, ta ước gì nhiệt trong lòng bàn tay ta có thể chảy sang nàng. Nhưng nàng cứ lạnh dần. Rồi hết.”

Ta không khóc.

Không phải vì ta không muốn khóc, mà là vì trong lồng ngực ta có gì đó cứng như đá tảng, chặn ngang cổ họng, không cho một giọt nước nào lên đến mắt.

Ta chỉ hỏi, giọng rất mỏng:

“Hai chữ ta nói lúc đó là gì, chàng có nghe được không?”

Chàng ngẩng đầu, nhìn thẳng vào mắt ta. Trong mắt chàng có một tia sáng rất nhỏ, như tia lửa cuối cùng trong đống tro nguội.

“Có. Là ‘oan’. Và ‘mẫu’.”

Ta nhắm mắt.

Kiếp trước ta chết đi, hai chữ cuối cùng trong lòng ta thật sự là hai chữ đó: oan này của ta chưa gột, mà mẹ ta bị Từ thái phi ép chết mười lăm năm trước, oan kia của bà ta cũng chưa gột. Ta đi mang theo hai nỗi oan, không mang được gì khác.

Không ngờ chàng đã nghe được.

Không ngờ chàng đã nghe được, mà vẫn phải im lặng suốt mười lăm năm không ai biết.

“Ba tháng sau,” chàng nói tiếp, giọng bình thản đến mức khiến ta sợ, “ta chết trong thư phòng của mình. Chén trà buổi sáng có độc. Người pha trà là a hoàn ta dùng từ nhỏ, con gái của nhũ mẫu, ta chưa từng nghi ngờ nó.”

Ta mở mắt ra.

“Sau khi nàng đi, ta lặng lẽ điều tra tiếp. Ta tìm ra ba manh mối. Một, kẻ nguỵ tạo bức thư tình có liên hệ với sứ đoàn Bắc Nguyên năm ấy. Hai, người ép ba vị đại thần phủ nhận báo cáo của ta là thái tử, mà đứng sau thái tử là hoàng hậu, dì ruột của hắn. Ba, hoàng hậu ấy là cháu ruột của Từ thái phi, và Từ thái phi chính là kẻ đã bức tử mẹ nàng mười lăm năm trước.”

Ta ngồi thẳng lưng.

Đây là ba dây thừng ta phải mất mười lăm năm không biết mới lần ra ở kiếp trước, mà cuối cùng cũng chỉ lần được lơ mơ, chưa đủ để tra ngược. Chàng, chỉ trong ba tháng, đã lần ra đủ cả ba.

“Ta viết ba bản mật tấu,” chàng nói, “định dâng phụ hoàng vào ngày sinh nhật của ngài. Trước ngày dâng ba ngày, chén trà buổi sáng của ta có độc. Ta gục xuống bàn viết, tay còn cầm bút. Mật tấu chưa kịp gửi đi. Con a hoàn ấy sau đó cũng bị người diệt khẩu ngay trong đêm.”

Ta thấy hai tay chàng vẫn đặt trên mặt bàn, khớp trắng bệch.

“Ta chết,” chàng nói, “mang theo một câu nói ta chưa kịp nói với ai. Là ta không cứu được nàng.”

Gió lùa qua đình sen. Đài sen đen ngoài kia gõ nhẹ vào mặt nước, cộc, cộc, như tiếng ai đó gõ vào cửa lãnh cung mười lăm năm trước mà không mở được.

Ta rót lại chén trà cho chàng. Trà đã nguội. Ta vẫn rót.

Chàng đón chén trà. Lần này chàng uống một ngụm rất nhỏ.

“Ta tỉnh lại,” chàng nói, “cách đây hai năm.”

Ta ngước lên.

“Hai năm?”

“Ngày ta tỉnh lại, phụ hoàng còn khoẻ, chưa lâm bệnh. Ta là Tam hoàng tử vô năng của Đại Tề. Ta biết trong hai năm nữa nàng sẽ bị vu ngoại tình. Ta biết trong hai năm rưỡi nữa nàng sẽ bị nhốt vào lãnh cung. Ta biết trong ba năm nữa nàng sẽ chết.”

Ta cắn môi.

“Vậy sao chàng không đến tìm ta?”

Câu ấy vừa hỏi ra, ta liền hối hận. Nó nghe như một lời trách. Mà ta không có tư cách gì để trách chàng.

Chàng cúi đầu.

“Ta có nghĩ đến. Đêm đầu tiên tỉnh lại, ta đã nghĩ đến. Sáng hôm sau, ta cho người đưa danh thiếp xin diện kiến Trấn Bắc vương phi. Danh thiếp bị Vệ nhị tiểu thư giữ lại. Ta biết ngay lúc đó, Vệ Nguyệt Lam không phải người thường.”

“Chàng đã đoán được nàng ta là gián điệp Bắc Nguyên?”

“Chưa đoán được ngay, chỉ nghi ngờ. Ta mất một năm rưỡi để lần ra sợi dây thừng thứ nhất: mười lăm năm trước, Vệ gia nhận nuôi một cô nhi con của thúc phụ đã mất, chính là Vệ Nguyệt Lam. Nhưng thúc phụ ấy chưa từng có con. Ta lần ngược, tìm được một sổ bộ ở Kinh triệu ghi thúc phụ Vệ gia chết bất thường vào một ngày đúng lúc sứ đoàn Bắc Nguyên đi ngang Lâm An. Đứa trẻ nhận nuôi được đưa vào Vệ gia đúng một tháng sau. Con ba tuổi, đi được, nói được, biết đọc chữ Đại Tề. Không có đứa trẻ Đại Tề nào ba tuổi mà nói được cả tiếng Đại Tề lẫn tiếng Bắc Nguyên trong nhà.”

Ta nghe đến đây, tay bất giác lạnh.

Vệ Nguyệt Lam là gián điệp Bắc Nguyên. Muội muội ta gọi bằng “biểu muội” suốt sáu năm hôn nhân, người đã ngồi cạnh ta khâu áo cho Trấn Bắc vương, người đã cầm khăn tay lau nước mắt cho ta khi ta buồn vì phu quân đi xa, chính là kẻ mà kiếp trước đã dán son đỏ lên bức thư giả, đẩy ta vào lãnh cung.

Người có thể quen thân đến mức ấy, mới có thể ra tay tàn nhẫn đến mức ấy.

Càng gần càng độc. Đúng là “cây độc ngọt trái”, càng ngọt thì càng chết người.

“Còn nửa năm sau, ta lần ra sợi dây thừng thứ hai.” Chàng ngước lên. “Hai bức mật thư Vệ Nguyệt Lam gửi lên phương bắc, một đi qua tay một tên tăng lữ ở chùa Bảo Vân, một đi qua một thương nhân Bắc Nguyên buôn ngựa. Ta có bản sao cả hai, giấu ở một nơi an toàn. Đủ để một ngày kéo nàng ta xuống, nhưng chưa đủ để chứng minh nàng ta là kẻ nguỵ tạo bức thư giả tình vu cho nàng. Cái ta cần, là chính nàng.”

Ta nhíu mày.

“Ta?”

“Vụ vu ngoại tình bắt đầu bằng bức thư giả có nét chữ nàng. Chỉ nàng mới biết ai từng chép chữ mình, ai từng tiếp cận sách vở nàng viết, ai từng có cơ hội học nét chữ ấy. Bằng chứng bên ta chỉ đủ để chứng minh Vệ Nguyệt Lam là gián điệp. Muốn xâu chuỗi đến vụ vu ngoại tình, phải bắt đầu từ nàng.”

Ta hiểu.

Chàng không đến sớm hơn, không phải vì chàng không muốn. Là vì nếu chàng đến sớm, ta còn chưa tỉnh, chàng nói ra tất cả, ta sẽ tưởng chàng điên, hoặc tệ hơn, ta sẽ đem những lời ấy nói với Trấn Bắc vương, khiến toàn bộ mạng lưới điều tra hai năm của chàng đổ vỡ trong một đêm.

Chàng phải chờ ta tỉnh trước. Rồi ta tự tìm đến chàng.

Mà ta lại tỉnh muộn hơn chàng những hai năm.

“Chàng chờ ta hai năm?” ta hỏi.

“Ta chờ nàng hai năm.” Chàng đáp, giọng khẽ đến mức gần như một tiếng thở dài. “Chờ nàng tỉnh mà tự tìm ta. Không muốn ép nàng như hắn.”

Chữ “hắn” chỉ ai, ta không cần chàng gọi tên.

Là Trấn Bắc vương. Là kẻ kiếp trước đã lấy ta khi ta mười chín tuổi, ép ta bỏ Chu phủ, ép ta bước qua ngưỡng cửa vương phủ trong một cái kiệu hoa mà ta không kịp chọn màu vải.

Chàng không muốn làm như hắn.

Ba tháng qua, khi ta còn đang chật vật soạn hoà ly thư, chàng đã ngồi trong Đông cung nhỏ của mình, đọc từng bản mật báo, chờ tin ta rời khỏi vương phủ. Chàng không viết một dòng nào cho ta. Không đưa một dấu hiệu nào. Không đến gõ cửa ta một lần.

Chàng chỉ chờ.

Chờ ta tự đứng lên. Chờ ta tự đi. Chờ ta tự bước đến trước mặt chàng, không ai đẩy vào lưng.

Kiếp trước dây hồng của ta bị người ta cột chặt vào cổ, kéo ta đi. Kiếp này chàng để dây hồng nằm im giữa hai người, đợi ta có cầm hay không.

Ta ngước lên, nhìn chàng. Trong mắt ta có gì đó rất nóng vừa dâng lên. Ta cắn răng ép nó xuống. Chưa phải lúc.

Ta thấp giọng:

“Cảm ơn chàng.”

Chàng lắc đầu.

“Không có gì để cảm ơn. Ta còn nợ nàng ba tháng của kiếp trước. Nếu ba tháng ấy ta tra nhanh hơn, có lẽ…”

“Đủ rồi.” Ta cắt lời. “Chuyện kiếp trước, mỗi người đã tự trả giá bằng một mạng. Không ai còn nợ ai. Kiếp này…” ta dừng một nhịp, “kiếp này chúng ta đối phó với ba phe cùng lúc. Thái tử, Trấn Bắc vương phủ, và hoàng hậu đương triều. Không có thời gian để nợ nần nữa.”

Chàng nhìn ta rất lâu.

Rồi chàng khẽ gật đầu.

“Được. Không nợ nần nữa. Từ hôm nay, hai chúng ta là đồng minh.”

Chữ “đồng minh” ấy rơi xuống mặt bàn, chậm nhưng chắc. Ta biết đó chưa phải chữ chàng muốn nói. Ta cũng biết ta chưa sẵn sàng để nghe chữ chàng muốn nói. Vậy nên “đồng minh” là chữ vừa vặn nhất, cho cả hai.

Ta nâng chén trà nguội. Chàng cũng nâng chén.

Hai chén trà chạm nhau khe khẽ, kêu một tiếng “cạch” nhỏ.

Trong tiếng “cạch” ấy, mười lăm năm sương thu như bị đẩy lùi một bước.

Chỉ một bước. Nhưng đối với ta, đã là cả một trời.

Ngoài đình có tiếng lá xào xạc.

Không phải gió.

Là tiếng bước chân trên lá khô, cố ý giẫm cho nhẹ, mà vẫn không đủ nhẹ.

Ta lập tức nhận ra. Ta lớn lên trong Chu phủ, ta biết vườn sau nhà mình phát ra âm thanh gì khi có người thật sự đi qua. Cái tiếng “xào xạc” vừa rồi có nhịp, có kiểm soát, có ý đồ.

Ta chưa kịp quay đầu.

Chàng đã đứng dậy. Rất nhanh. Không hoảng, chỉ chuyển từ trạng thái ngồi sang trạng thái đứng như một tấm rèm hạ xuống trước bàn đá, che ta khỏi tầm nhìn cửa đình.

Từ sau khóm trúc bên hồ, một tà váy màu hạnh nhân bước ra.

Vệ Nguyệt Lam.

Nàng ta mặc áo lụa hạnh nhân thêu hoa đào, tóc búi cao, cài trâm ngọc bích, cả người vẫn xinh đẹp như tranh vẽ. Chỉ có nụ cười trên môi nàng ta hôm nay lạnh hơn tuyết đầu đông.

“Muội đi tìm chị dâu cả buổi.” Nàng ta ngân dài từng chữ. “Không ngờ chị dâu lại có nhã hứng tiếp khách quý ở đình sen. Tam điện hạ, xin thứ lỗi, muội tới quấy rầy hai người.”

Ta bình tĩnh trở lại. Ba tháng qua ta luyện đủ rồi. Ta cúi nhẹ đầu:

“Vệ nhị tiểu thư. Ta đã ký hoà ly thư sáng nay, không còn là chị dâu của muội nữa. Xin muội đổi cách xưng hô.”

Nàng ta cười.

“Chị dâu cũ vậy. Có được không, chị dâu cũ?”

Chàng không nói gì. Chàng chỉ đứng đó, tay chắp sau lưng, ánh mắt bình thản. Nhưng ta biết, dưới lớp áo tro, các gân trên cánh tay chàng vừa cùng lúc căng lên.

Vệ Nguyệt Lam bước thêm hai bước vào đình. Nàng ta giơ tay phải lên.

Trong tay nàng ta là một bức thư.

Giấy Tây Hồ. Niêm son đỏ.

Y hệt bức thư mười lăm năm… không, y hệt bức thư của kiếp trước ấy.

Ta thấy trước mắt loé lên một tia trắng, như ánh nến trong lãnh cung đêm ấy khi ta run tay nâng chén rượu độc. Trong tai ta có tiếng tim đập, thình thịch, thình thịch, đúng nhịp tiếng đài sen đen gõ vào mặt nước ngoài kia.

Nàng ta phe phẩy bức thư, giọng ngọt đến chua:

“Chị dâu cũ, muội xem đây có phải bức thư tình chị viết cho tam điện hạ không?”

Gió thu bỗng lùa qua đình. Lạnh buốt. Trên tay Vệ Nguyệt Lam, dấu son đỏ của bức thư như một giọt máu tươi mới nhỏ xuống, còn chưa kịp khô.

Ta đứng dậy.

Trong lồng ngực, dây hồng cũ đứt của kiếp trước rung lên một tiếng khẽ.

Kiếp này, ta sẽ không để nó cột lại nữa.