Hoài Cổ Truyện

Ta Xuyên Thành Muội Muội Út Của Hầu Phủ

Chương 10: Ba Ngày Sốt

Cơm chiều hôm ấy muội ăn được nửa chén cháo trắng thì đặt thìa xuống. Không phải vì món không hợp miệng, mà vì trong bụng muội, tôi hai lăm tuổi vẫn còn nghe rõ tiếng gót giày lụa dừng lại ở góc hành lang lúc chiều. Cái tiếng động đó nhẹ như một sợi tơ, kín như một chiếc bóng bên bậu cửa, nhưng nó đè lên bát cháo trắng mẹ vừa múc cho muội một tầng, khiến muội nuốt cái nào cũng thấy mằn mặn.

Mẹ ngồi cạnh, tay đưa khăn lụa chấm mép cho muội, mắt hơi nhíu.

“Đường Đường không đói à?”

“Muội đói mà mẹ ơi. Muội ăn no chén này thôi, tối muội xin bánh phèn.”

Mẹ cười, gõ nhẹ đầu ngón tay lên trán muội. Nghe nghỉ tay ở đó một khắc, mẹ hơi nghiêm mặt: “Con hơi âm ấm.”

“Muội chạy nãy nên nóng.”

Muội nắm tay mẹ kéo xuống, áp vào má mình. Da mẹ mát như ngọc còn giữ hơi giếng. Tôi bên trong biết trán muội nóng hơn bình thường, nhưng chưa đủ để mẹ hoảng. Mùa cuối thu ở Biện Kinh thời tiết trở trái, buổi trưa còn ấm mà buổi tối gió thốc lạnh, một đứa nhỏ vừa lăn qua ngưỡng cửa tam ca ra vào chỉ khoác áo bông mỏng thì lên cơn sốt cũng là chuyện thường ngày. Mẹ chỉ mim môi, gọi nha hoàn Bích Đào chuẩn bị nước tắm gừng ấm.

Đại ca ngồi bên bàn, tay vẫn cầm cuốn sách chữ trung, khoá đôi mắt xuống muội một lần: “Chiều nay muội chạy nhiều à? Nghê nói muội trốn vào phòng tam ca.”

Nhị ca chống cằm, mắt sáng: “Muội vào phòng huynh nuôi làm gì? Huynh có gì thú vị không?”

Cha ngồi đầu bàn, gõ đũa lên chén canh, mắt hơi liếc muội. Trong tia mắt cha có gì đó lặng lặng, không phải trách. Là hỏi.

“Đường Đường vào phòng tam ca à?”

“Muội tò mò thôi cha ơi. Tam ca ngoan lắm, tam ca rót trà cho muội.”

Cả bàn dừng đũa.

Tôi bên trong bụm cười. Ở hầu phủ này, “tam ca rót trà cho muội” là câu ngang với “cây lê trước sân biết nở hoa vào tháng chạp”. Đại ca đặt sách xuống. Nhị ca dựng thẳng lưng. Mẹ ngừng khăn. Cha thở ra một hơi, kéo môi lên nửa nụ cười khô: “Đường Đường của cha có phép nhỉ.”

Chỉ có tam ca, đang bước từ sân vào ngồi xuống chỗ trống cuối bàn, không phản ứng. Hắn cúi đầu chào mẹ chào cha một tiếng “cha, mẹ”, ngồi xuống, cầm đũa. Không nhìn muội. Nhưng khi mẹ đẩy đĩa trứng hấp về phía hắn, hắn gắp một miếng, đặt vào chén cháo trắng của muội trước, rồi mới gắp cho mình.

Nhị ca há miệng: “Ơ, tam ca…”

Đại ca dùng đũa gõ nhẹ vào chén nhị ca, ý bảo im.

Tôi bên trong, cái tim hai lăm tuổi ấy nhẹ nhàng ghi một dòng nữa vào bản đồ: chiều nay trong phòng tam ca, cái người vừa mở bọc vải đỏ cho muội xem, cái người vừa nói ba chữ “muội đừng cho ai biết”, vừa mới ngồi xuống bàn ăn của cả nhà đã ngầm nhận muội là mình. Tam ca không nói ra bằng miệng. Tam ca chỉ nói bằng một miếng trứng hấp.

Muội ăn miếng trứng đó. Miệng bé nhai chậm chậm. Bên ngoài mắt tròn ngoan như con mèo con đang mút chăn bông. Bên trong tôi hai lăm tuổi biết miếng trứng này khác hẳn tất cả các miếng trứng muội đã ăn trong đời.

Nhưng cũng chính lúc đó, đằng sau lưng muội, ngoài rèm cửa sảnh cơm chiều, tôi cảm giác lại có một luồng khí lạnh khẽ trượt qua. Không rõ ràng. Chỉ là một cái gì đó dán vào vành tai muội một chút rồi lùi ra, giống như một tấm màn tơ mỏng vô tình quệt vào da.

Muội xin phép mẹ về phòng sớm, nói đầu hơi váng.

Mẹ chưa kịp gật thì cha đã đặt đũa xuống: “Bích Đào, cõng Đường Đường về phòng. Đốt thêm than sưởi. Đắp chăn bông kỹ.”

Bích Đào cõng muội đi. Đằng sau lưng, muội nghe cha nói với mẹ, giọng hơi trầm: “Cuối thu năm nay lạnh sớm. Bảo Trẫm sang phòng Đường Đường ngủ cùng đại tẩu vài đêm. Muội ngủ một mình cha không yên tâm.”

Mẹ ừ một tiếng.

Tôi bên trong biết cha đã nhận ra. Cha lo. Không phải vì trán muội âm ấm. Cha lo vì cha đọc được cái gì đó ở trong ánh mắt tam ca cuối bàn cơm chiều. Cha lo vì cha là cha, cha luôn cảm được trước.

Muội nằm xuống chăn bông của mình. Chăn thơm mùi lá bưởi phơi nắng. Bích Đào đắp đến cằm, thắp một cây nến trầm trên bàn nhỏ đầu giường, rút lui. Đèn dầu ấm hắt bóng tay muội nhỏ xíu lên tường. Muội duỗi một ngón, bóng ngón lay lay theo ngọn đèn. Nhắm mắt lại.

Chỉ một canh giờ sau, cơn sốt ập xuống như một cơn mưa cuối thu, không báo trước.

Muội nghe tiếng mình rên khe khẽ trong họng trước khi tôi hai lăm tuổi kịp phản ứng. Thân xác bảy tuổi nhỏ xíu, nóng lên rất nhanh. Chăn bông dày mà không đủ đè xuống cơn run. Mồ hôi túa ra dưới cổ áo, ướt cả sợi dây đỏ đeo mảnh ngọc bội gia truyền. Muội cắn môi. Muội biết nếu muội kêu, mẹ sẽ chạy vào. Mà mẹ chạy vào lúc này, cả phủ sẽ chấn động. Muội không muốn.

Nhưng thân xác bảy tuổi nào có thể chịu được cơn sốt kiểu này quá lâu.

Bích Đào ngủ ngoài rèm nghe muội trở mình lần thứ ba đã bật dậy, sờ trán muội, thất kinh: “Tiểu tiểu thư!”

Mẹ đến trước cha. Mẹ ngồi xuống mép giường, bàn tay lạnh áp lên trán muội, khuôn mặt trắng đi một tầng. Cha đến sau, chân trần chưa kịp xỏ giày, tay còn cầm áo choàng ngoài. Cha nói một chữ, gọn: “Thầy Trịnh.”

Bích Đào bay ra khỏi phòng. Đại ca chạy theo. Nhị ca đứng ở cửa, mặt tái. Muội thấy tất cả qua một tầng nước, mắt muội đã ướt, không phải vì khóc, mà vì thân xác đang chống lại cơn nóng bằng cách rơm rớm.

Cha ngồi xuống, dùng lòng bàn tay to lau trán muội. Bàn tay cha thô nhưng dịu như một mảnh vải mềm. Cha cứ lau, không nói. Mẹ cầm khăn ấm, chấm nhẹ hai bên má. Muội mấp máy môi: “Cha ơi, muội xin lỗi.”

Cha khựng tay lại một khắc, cúi xuống, mũi cha chạm vào tóc muội. Giọng cha vỡ ra một chút, giấu ngay: “Con bé này. Sốt còn xin lỗi cái gì.”

Bên trong tôi cũng khựng. Câu “muội xin lỗi” thoát ra khỏi miệng bé không phải cố ý. Nó bật ra vì cái phản xạ 25 tuổi đè xuống thân xác 7 tuổi, thấy cha lo, tự động thấy có lỗi. Nếu tôi tỉnh táo hơn, tôi đã đóng vai muội nhõng nhẽo, khóc oà lên đòi cha thổi ma. Nhưng cơn sốt đã đè xuống rồi. Đầu tôi không còn diễn nổi.

Thầy Trịnh đến trong nửa canh giờ. Râu ông bạc trắng, tay cầm hộp châm, tay cầm túi thảo. Ông ngồi xuống, bắt mạch. Bắt cổ tay trái, rồi cổ tay phải, rồi kẹp cằm muội xem lưỡi, xem mống mắt, xem hai bên nách.

Rất lâu, ông đặt cổ tay muội xuống chăn.

“Cảm phong sốt cao. Thân âm hư, phong xâm nhập. Không có dấu độc.”

Muội trong mê man vẫn nghe rõ ba chữ cuối. Không có dấu độc. Tôi bên trong nhẹ đi một hơi, nhưng chỉ nhẹ nửa hơi. Vì thầy Trịnh nói không có dấu độc, không có nghĩa là không có kẻ đã âm mưu. Có kẻ đứng ngoài phòng tam ca cả buổi chiều nay. Có kẻ đó, dù không hạ độc muội, cũng có thể đã hạ tay xuống việc khác. Ví dụ, cửa sổ phòng muội mở sẵn từ khi nào, muội đâu có nhớ.

Cha nghe “không có dấu độc” thì thẳng lưng, nhưng vẫn không nhả tay muội. Cha bảo thầy Trịnh: “Ở lại đêm nay. Ba đêm. Ta trả bằng lượng bạc.”

Thầy Trịnh gật đầu, không lấy tiền, không hỏi lý do. Ông đi biết cha đang lo hơn cha nói ra.

Đêm đầu tiên bắt đầu như vậy.

Nến trầm cháy trên bàn nhỏ đầu giường, ngọn lửa vàng ấm, mùi trầm nhẹ như một tấm chăn mỏng phủ khắp phòng. Mẹ ngồi ở ghế cạnh giường, tay cầm khăn ấm, cứ vài canh giờ lại nhúng khăn vào chậu nước, vắt ráo, đắp lên trán muội. Cha ngồi ở bàn, đêm thứ nhất không rời. Đại ca đứng ở cửa, không dám khóc, thỉnh thoảng vào mở rèm cho gió trời mát vào. Nhị ca ngủ dưới nền phòng ngoài, không ai đuổi được về giường.

Đến canh ba, tam ca đến.

Tôi nghe tiếng bước chân hắn trước cả tiếng mở cửa. Vẫn cái nhịp bước ngắn, đều, không nặng không nhẹ ấy, cái nhịp mà cả buổi chiều hắn dùng để đi trong phòng của mình. Cửa mở, hắn cúi đầu chào cha mẹ, không nói câu nào, đến bên chậu nước, nhúng khăn thay cho mẹ, vắt ráo, đắp lên trán muội.

Mẹ ngước lên nhìn hắn. Một khắc.

Rồi mẹ gật đầu, đứng dậy, nhường ghế.

Tam ca ngồi xuống. Tay hắn cầm khăn không giống mẹ. Mẹ cầm khăn bằng mấy đầu ngón. Tam ca cầm cả khăn, vắt bằng cả bàn tay, chắc chắn, không rơi giọt nước nào. Cái tay bao năm cầm cương ngựa, cầm cung, cầm bút binh pháp, đêm nay cầm một mảnh vải nhỏ mỏng như vỏ trấu, cầm lâu chưa hề mỏi.

Muội mê man. Nhưng cảm quan không tắt. Muội cảm được bàn tay hắn đặt trên trán muội. Muội cảm được cái mát của khăn ấm chậm rãi thay nhau lớp này lớp khác. Muội cảm được cả ngọn nến trầm gần cạn phải thay lần thứ hai, mùi trầm chuyển từ khô sang ấm nhẹ.

Đến khuya sâu, tam ca không nói câu nào. Chỉ đắp khăn. Vắt khăn. Đắp lại. Vắt lại. Cứ như thế, hết một canh giờ, hết hai canh, hết ba canh.

Đêm thứ hai lặp lại như đêm thứ nhất.

Cha sáng ngày phải lên triều, mẹ ngày phải quản việc phủ, đại ca phải học chữ, nhị ca phải luyện côn. Tam ca không phải làm gì. Hắn ở lại. Ngày ngủ ở phòng ngoài. Đêm sang phòng muội. Ngồi chỗ cũ. Vắt khăn cũ.

Thầy Trịnh sáng thứ hai bắt mạch, nhíu mày: “Sốt không lui. Uống thuốc mà không xuống. Kỳ.”

Cha nghiêng đầu, ánh mắt sắc như đao mài. Cha hỏi Bích Đào, cha hỏi bà quản gia, cha hỏi đầu bếp, cha hỏi cả người quét sân. Ai vào phòng muội chiều hôm ăn cơm. Ai vào phòng bếp lấy chén cháo trắng của muội. Ai bước ngang hành lang cạnh sảnh cơm chiều. Ai không có mặt ở khu chính vào canh thứ hai chiều hôm ấy.

Câu trả lời cho cha: không có ai lạ. Cả phủ tối đó chỉ có gia nhân quen mặt. Không có ai lạ.

Cha nghe xong, không đáp. Cha ngồi trong phòng làm việc thêm nửa canh giờ, rồi cho gọi tam ca. Hai người đóng cửa nói chuyện trong đó gần một canh giờ. Tôi bên trong không nghe được. Muội bên ngoài đang mê man.

Nhưng sau đó, tam ca ra khỏi phòng cha muội với hai bờ vai hơi trầm hơn. Không phải buồn. Là gánh. Cha đã kể cho hắn nghe cái gì đó. Có lẽ là cả cha lẫn hắn đã cùng nhận ra: cái người nghe lén ngoài phòng tam ca chiều hôm qua, và cơn sốt lạ đêm nay, có thể có liên hệ.

Đêm thứ hai, tam ca ngồi lâu hơn đêm thứ nhất. Đến canh tư, tôi mê man thấy hắn ngả đầu xuống mép giường, tay vẫn cầm khăn ấm, chậm rãi thay lần cuối. Mùi trầm hương phảng phất, mùi mực từ tay áo hắn phảng phất, cả hai quyện với mùi lá bưởi trên chăn bông muội. Ấy là mùi ba lớp: chăn bông của mẹ, trầm hương của phủ, mực và biên ải của tam ca. Ba lớp mùi ôm muội trong cơn sốt.

Đêm thứ ba, khi cả phủ đã lo cuống lên, khi cha đã ngồi ba đêm không ngủ hết ba, khi mẹ đã cạn nước mắt và bắt đầu tụng kinh nhỏ ở góc phòng, khi thầy Trịnh đã ba lần đổi bài thuốc mà không thấy sốt lui, cơn sốt của muội đột nhiên đẩy lên đỉnh cao.

Nhiệt độ nóng như hòn than trong lò. Thân xác bảy tuổi run bần bật dưới ba lớp chăn bông. Muội nói mê. Câu chữ lộn xộn. Có câu bằng giọng bảy tuổi, có câu bằng giọng người lớn không biết mình đang nói. Ai nghe cũng nghĩ trẻ con sốt cao thì mê sảng, không ai bắt bẻ. May.

Đêm đó chỉ có tam ca ngồi bên giường muội.

Cha đêm thứ ba đã kiệt sức, ngã trên ghế ngoài phòng, đại ca đắp chăn cho cha. Mẹ tụng kinh xong một hơi thở dài rồi cũng ngủ gục ở góc phòng. Nhị ca vẫn nằm ngoài, ôm cây côn, không bỏ. Thầy Trịnh ngồi trong phòng thuốc, viết đơn thuốc mới. Cả phủ vào canh hai đêm thứ ba như một chiếc đèn dầu ấm sắp cạn.

Chỉ có tam ca thức. Vẫn ngồi chỗ đó. Vẫn cầm khăn ấm. Vẫn đắp. Vẫn vắt.

Muội mê man nghe hắn thở khẽ. Tiếng thở dài đầu tiên trong ba đêm.

Tay hắn vuốt tóc muội, chậm, rất nhẹ, ngón tay đi từ đỉnh trán xuống đến hai chỏm tóc buộc cao. Tóc muội đêm nay đã mềm rũ vì mồ hôi, hai chỏm không còn cao nữa, đã trễ xuống hai bên má. Ngón tay hắn dừng ở đầu chỏm tóc, quấn quanh sợi tơ đỏ buộc chỏm.

Hắn nói.

Rất nhỏ. Không phải nói cho muội nghe. Là nói cho chính hắn, tôi biết. Nhưng tai muội bảy tuổi đêm nay nhạy như một chiếc lá non, nghe được từng chữ.

“Muội…”

Một tiếng. Rồi im.

“Muội… phải khoẻ.”

Hai câu ngắn.

“Ta… không mất thêm ai nữa.”

Câu thứ ba đè xuống căn phòng như một tấm gạch nung nóng vừa đặt lên nền lạnh. Cả căn phòng im. Nến trầm hương ở đầu giường phập phồng ngọn lửa. Bên ngoài, gió cuối thu thổi mấy chiếc lá lê khô lăn qua thềm gỗ.

Tôi bên trong, tim hai lăm tuổi đập một nhịp thật chậm. Rồi đập một nhịp thật nhanh. Rồi lại chậm.

Không mất thêm ai nữa.

Câu đó không phải nói với người sốt bảy tuổi. Câu đó nói với tất cả những người tam ca đã mất trong cuộc đời mười lăm năm ngắn của hắn. Mẹ ruột, một công chúa lưu đày, mất khi hắn ba tuổi. Cha nuôi cũ, Trịnh tướng công, mất khi hắn mười hai tuổi giữa cuộc chiến giữ thành. Bao nhiêu người trong đoàn tuỳ tùng, bao nhiêu nha hoàn, bao nhiêu người canh cửa đã chết vì bảo vệ bí mật hoàng tử thất lạc.

Hắn đã mất bao nhiêu người. Hắn không cho phép mình mất thêm.

Vậy mà đêm thứ ba đêm nay, hắn không đứng ở góc phòng phòng bị nữa. Hắn ngồi bên giường một đứa bảy tuổi vừa nắm chung mảnh ngọc gốc với hắn. Hắn cầm khăn ấm ba đêm liền. Hắn thở ra một câu mà cả đời hắn không nói với ai.

Muội mê man. Muội nghe. Muội không đáp được. Mắt muội nhắm chặt, không phải diễn. Là thật.

Nhưng trong ngực muội bảy tuổi, cái tim hai lăm tuổi ấy tự dưng ấm lên. Không phải ấm vì sốt. Ấm vì muội biết: từ đêm nay trở đi, ở hầu phủ này, muội có thêm một người có thể nắm dây cùng muội. Không phải cha nữa. Không phải mẹ nữa. Không phải đại ca nhị ca nữa. Là tam ca.

Cái tam ca lạnh nhạt tưởng như không thèm nhìn muội hôm đầu về phủ, cái tam ca ngồi ngang tầm muội chiều nay và nói hai chữ “muội khác”, cái tam ca đêm nay ngồi ba đêm liền chỉ để đắp khăn. Ba khoảnh khắc gộp lại như ba lớp lụa bọc mảnh ngọc bội trong tủ hắn. Càng bên trong càng mềm. Càng mềm càng quý.

Muội lịm dần vào giấc ngủ sâu. Trước khi lịm, muội cảm được bàn tay hắn vẫn đặt trên tóc muội, không rút.

Sáng sớm ngày thứ tư, muội tỉnh.

Ánh nắng buổi sớm đầu đông đã vào rèm cửa, ngọt và trong như đường phèn tan trong nước sôi. Rèm trúc rung nhẹ một lần theo gió. Trong phòng vắng lặng, chỉ có tiếng nhịp thở đều đều của một người đang ngủ ngay cạnh giường muội.

Muội chớp mắt hai cái. Cảm giác đầu tiên là nhẹ. Trán đã mát. Người đã hết run. Chăn bông vẫn ôm ấm mà không hầm hập nữa. Hai bàn tay muội đã cử động được, đưa lên rờ trán, mát rượi.

Cơn sốt đã lui trong đêm.

Muội quay đầu sang phải. Và tôi bên trong đứng khựng lại.

Bên mép giường, gục xuống trên khoanh tay, là tam ca. Áo choàng đen phủ nửa vai. Tóc dài buộc thẳng ra sau đã hơi rũ xuống trán. Mắt hắn nhắm nghiền, hàng mi dài đen tựa hai vệt mực chấm xuống dưới mí mắt. Miệng khép chặt. Nhưng cả gương mặt lạnh lùng thường ngày, giờ ngủ, mềm hẳn xuống một tầng, giống một đứa bé mười lăm tuổi thật sự đang ngủ, chưa gánh gì trên vai.

Một tay hắn vẫn đặt hờ trên chăn muội, ngay bên cạnh bàn tay bé của muội. Ngón tay hắn hơi cong. Như đang cầm một cái gì đó vô hình.

Muội hiểu. Đêm nay hắn đã ngủ gục sau khi vuốt tóc muội. Chưa kịp rút tay.

Ngoài phòng, tiếng bước cha đang lại gần cửa, rồi khựng lại. Cha nghe thấy có tam ca trong phòng. Cha không vào. Cha ho khẽ một tiếng ngoài cửa như báo hiệu, rồi lùi ra. Cha để hai đứa yên.

Tôi bên trong hai lăm tuổi cười khẽ. Cha muội trắng đen phải rõ, con nào cha cũng nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa. Sáng thứ tư này, cha biết muội tỉnh trước cả khi cha nhìn thấy. Cha cũng biết tam ca đã ngồi trọn ba đêm mà chưa từng rời chỗ.

Muội xoay người rất nhẹ, quay hẳn sang phía tam ca. Chăn bông theo muội trượt lệch một bên. Đầu muội cách đầu tam ca chỉ nửa gang. Muội có thể ngửi được cả hơi thở đều đều của hắn, thơm mùi trầm hương nhạt và mùi mực xa xa.

Bàn tay bé của muội đưa lên, chậm rãi.

Muội thò tay ra khỏi chăn. Ngón tay bé xíu chạm vào rìa trán tam ca, chỗ hàng mi đầu tiên chạm vào da. Trán hắn hơi lạnh. Hắn thức ba đêm rồi, dù có bếp than, dù có nến trầm, cái lạnh cuối thu vẫn ngấm vào xương.

Muội vuốt ngón tay bé lên, đi qua sống mũi tam ca, qua mí mắt trái, dừng ở gần thái dương. Rồi ngón tay muội chậm rãi luồn vào tóc hắn. Tóc tam ca dày, đen, ẩm nhẹ vì đêm qua có mồ hôi. Ngón tay muội chỉ dài bằng nửa lóng tay hắn. Nhưng muội vẫn xoè ra hết sức, vuốt một đường từ đỉnh đầu xuống đến gáy, chậm, chậm, như mèo con vờn tấm chăn bông cũ.

Đây là lần đầu muội chạm vào tóc tam ca.

Trong ngực muội, cái tim hai lăm tuổi đập nhịp không đều lần đầu tiên kể từ khi xuyên vào đây.

Muội biết tôi đang khóc. Không phải khóc vì buồn. Là khóc vì trong nguyên tác “Phượng Hoàng Đài” ba trăm chương, người con trai này đã bị viết thành nhân vật phản diện chết trong lửa ở chương hai trăm hai mươi lăm, vì em gái nuôi hắn chết trước hắn năm hai mươi tám tuổi. Trong nguyên tác đó, không ai vuốt tóc hắn khi hắn ngủ. Không ai đắp khăn cho hắn khi hắn sốt. Không ai nói “tam ca ra ăn cùng nhé”. Cả một đời hắn, ba trăm chương, không có ai cả.

Kiếp này khác rồi.

Muội tiếp tục vuốt tóc hắn, chậm chậm, đến khi tay bé muội mỏi. Rồi muội đưa tay đó áp lên chăn, ngay cạnh bàn tay hắn. Bàn tay bé xíu, bàn tay xương xẩu. Cạnh nhau.

Trong khoảnh khắc đó, muội bảy tuổi và tôi hai lăm tuổi cùng thề một câu.

Muội bảy tuổi thề: tam ca sẽ không bao giờ mất thêm ai nữa.

Tôi hai lăm tuổi thề: tôi sẽ không để bất cứ đường mũi tên nào của “Phượng Hoàng Đài” gốc chạm vào con người đang ngủ gục bên giường muội đêm nay.

Đèn dầu ấm ở đầu giường cạn dần, ngọn lửa cuối cùng lắc lư một cái rồi tắt. Nắng buổi sớm đã đủ sáng thay cho lửa. Cả phòng chỉ còn tiếng thở đều của tam ca, mùi trầm nhạt và mùi lá bưởi trên chăn bông muội.

Muội nhắm mắt lại. Lần này ngủ thật.

Ngoài cửa phòng, cha đứng dựa lưng vào cột hành lang gỗ, tay khoanh trước ngực, mắt nhìn xuống mấy chiếc lá lê khô cuối thu trên thềm. Nhị ca ngủ dưới chân cha, ôm côn. Đại ca ngồi cạnh, tay cầm sách nhưng không đọc, ánh mắt cũng nhìn xuống. Mẹ ngồi ở bậc cửa, tay chống cằm, mí mắt nặng.

Cả nhà đã ngồi ở đó cả đêm. Không ai vào. Không ai làm ồn. Nhưng không ai bỏ đi. Cả nhà chờ tin muội tỉnh, và cả nhà cũng ngầm chờ tin về đêm thứ ba của tam ca.

Cha ngẩng đầu, nhìn qua khe rèm hở của phòng muội. Cha thấy cảnh bên trong: đứa con gái út của cha đang ngủ trở lại yên bình, đứa con trai nuôi của cha đang gục bên giường ngủ say, và ngay giữa hai đứa, mấy ngón tay bé và mấy ngón tay xương xẩu đang đặt cạnh nhau trên chăn bông.

Cha thở ra một hơi thật dài. Không phải nhẹ. Là như đặt xuống một cái gì đó rất nặng cha đã cầm hai ngày.

Trên môi cha, một nụ cười rất khẽ. Rồi tắt. Rồi nụ cười khác. Đây là nụ cười của một người cha vừa biết chắc: đứa con trai nuôi mình gánh bao nhiêu bí mật quốc gia trên vai suốt bốn năm, đêm nay đã cho một khoảnh khắc yếu ra ngoài, mà khoảnh khắc yếu đó nằm bên giường đứa con gái út của cha.

Cha đưa mắt sang mẹ. Mẹ đã ngước lên, đang nhìn cha. Ánh mắt hai người gặp nhau. Cả hai đều biết cả hai đang nghĩ gì. Nhưng cả hai đều không nói.

Trẻ con bụng dạ chưa biết. Cứ để trẻ con lớn từ từ. Cha nhắm mắt lại một khắc. Không định trước. Rồi cha đứng dậy, kéo áo choàng của nhị ca đắp lên vai đại ca, đưa tay đỡ mẹ dậy, cả bốn người rời hành lang, để phòng muội yên.

Sáng sớm ngày thứ tư, hầu phủ Định Bắc lặng yên. Cây lê trước sân đã rụng gần hết lá, vài chiếc lá cuối cùng bay theo gió xuống nền gạch xanh. Trong phòng đứa con gái út, hai người trẻ đang ngủ, một chăn bông, một áo choàng, hai bàn tay đặt cạnh nhau.

Nhưng ngoài kia, ở góc xa của hầu phủ, trong bóng của một dãy phòng hạ nhân ít người qua lại, một cánh cửa gỗ khép hờ. Sau cánh cửa, ai đó vừa dập tắt một cây nến sáp trắng.

Cây nến đó đã cháy suốt ba đêm.

Người đứng dậy, rút một tờ giấy mỏng khỏi trong tay áo, gấp lại thành một mảnh nhỏ, giấu vào lớp lót bên trong. Rồi bước ra khỏi phòng, rất nhẹ, không gây tiếng động.

Ba đêm ấy, hầu phủ có một đứa nhỏ sốt cao, có một huynh nuôi thức trắng đắp khăn. Nhưng cũng có một người thứ ba, không phải nhà, đã theo dõi từ đầu đến cuối. Và bây giờ, người đó đã đủ tin những gì mình cần tin.

Chuông đồng thau trên cổng hầu phủ điểm một tiếng đầu tiên của ngày mới. Tiếng chuông trong veo, lan qua khoảnh sân đầy lá lê rụng, chạm vào rèm cửa phòng đứa con gái út, rồi tan trong không khí lạnh cuối thu.