Hoài Cổ Truyện

Ta Xuyên Thành Muội Muội Út Của Hầu Phủ

Chương 9: Bí Mật Trong Phòng Tam Ca

Cửa phòng tam ca không lớn, cũng không cao. Nhưng khi Cố Nghiệt vừa ngồi xuống ngang tầm muội, ngưỡng cửa gỗ sau lưng hắn tự dưng thu lại một chút, như thể chỉ vừa vặn ôm lấy hai người trong buổi chiều cuối thu.

Muội bảy tuổi. Muội biết mình đang cong mắt cười. Muội biết má mình đỏ vì buổi chiều nắng còn vàng ở đầu đao. Nhưng khi tam ca nhìn muội, nói ra bốn chữ “muội khác”, muội thấy sống lưng lành lạnh, y như có ai đổ một thìa sương sớm xuống dưới lớp áo bông.

Ta lộ rồi, tôi nghĩ trong đầu. Không nhiều. Nhưng đủ để một đứa nhỏ bảy tuổi không che nổi.

Muội vội cong mắt hơn, cong đến độ mắt gần thành hai vết trăng non. Muội trề môi, nghiêng đầu. Nụ cười này muội đã tập trước gương đồng phòng mẹ suốt hai tháng: cha mê nhất, nhị ca thấy là gõ đầu, đại ca thấy là kéo tay ra xoa má. Chỉ có duy nhất một người trong hầu phủ không mê, ấy là người đang ngồi ngang tầm muội, cách hai gang tay, mắt sắc như dao gọt đào.

Cố Nghiệt chỉ nhướng mày.

“Muội cười cái gì?”

“Muội khác tức là muội đẹp hơn phải không tam ca?”

Miệng bé phát ra câu này xong, tôi bên trong bụm miệng cười thầm. Trẻ con bảy tuổi đã biết ăn vạ chuyện đẹp xấu, quả thật muội đóng vai giỏi. Tự khen chút cũng không sao.

Cố Nghiệt yên lặng, môi mím thành một đường thẳng như cây cung chưa kéo. Rất lâu sau, hắn đứng dậy, phủi vạt áo, quay lưng vào trong.

“Vào.”

Muội chớp mắt hai cái, mắt thật sự tròn ra. Muội tưởng hắn sẽ đóng cửa, sẽ đẩy muội ra, sẽ nói vài câu lạnh nhạt như mọi hôm cuối tháng vẫn nói. Muội không tưởng được là hắn sẽ nói một chữ “vào”.

Muội đứng dậy chậm, dùng vẻ ngơ ngác của một đứa bảy tuổi vừa được cho cây kẹo đường phèn không dám tin. Nhưng bên trong, tôi tỉnh táo hơn bao giờ hết. Đây là phòng tam ca. Đây là bí mật. Đây là căn phòng trong ba trăm chương “Phượng Hoàng Đài” tôi chưa từng được ngó vào lấy một dòng.

Bước qua ngưỡng cửa, muội cảm thấy có cái gì đó khác hẳn ngoài sân. Không khí trong phòng ấm hơn một tầng, mùi mực và mùi giấy cũ quyện với mùi trầm xa xa từ một nén hương chưa cháy hết. Cửa sổ hướng đông đã hạ rèm nửa cây, ánh nắng lọt qua bức mành trúc thành từng vệt vàng như đường phèn tan trong nước ấm.

Muội đứng giữa phòng, hai tay khoanh trước bụng, mắt lễ phép nhìn xuống chóp giày. Nhưng tôi bên trong tranh thủ liếc quanh, ghi từng chi tiết vào lòng.

Một chiếc bàn gỗ lê thấp đặt sát cửa sổ, trên bàn là chồng sách xếp cao đến khuỷu tay, mỗi cuốn có gấp trang kỹ càng. Một nghiên mực còn ướt bên góc, bút lông treo ngay ngắn trên giá đồng nhỏ. Bên tường tây là một chiếc tủ cao chỉ hơi thấp hơn tam ca, hai cánh tủ đóng chặt, khoá đồng đã sáng bóng vì lau nhiều. Cạnh giường có một chiếc ghế nhỏ, trên ghế có một chiếc áo choàng đen phủ sẵn. Áo còn thoang thoảng hơi lạnh biên ải, chắc tam ca vừa quơ vào khi ngồi ngoài sân chiều nay.

Không có gì thừa. Không có gì thiếu. Cả căn phòng của một thiếu niên mười lăm tuổi lại gọn gàng như phòng công đường.

Tôi phá lên cười khẽ trong đầu. Đúng nhân vật gốc, tôi nghĩ. Ngăn nắp đến mức không giống người mười lăm tuổi. Không giống người đã sống. Trẻ con bảy tuổi khi thấy phòng như thế này, có lẽ sẽ thấy sợ. Nhưng muội bảy tuổi, thân xác bảy tuổi tim hai lăm tuổi, muội chỉ thấy tam ca vừa hiện lên rõ hơn một tầng.

“Ngồi.”

Cố Nghiệt chỉ tay lên chiếc đôn gỗ nhỏ cạnh bàn. Muội ngoan ngoãn leo lên, hai chân đong đưa vì chưa chạm đất. Muội cố không đong đưa đều nhịp. Trẻ con bảy tuổi đong đưa được, nhưng đong đưa đều nhịp là lộ.

Tam ca không ngồi. Hắn quay ra chỗ bàn, rót một chén trà nhỏ, đẩy sang muội.

“Uống.”

Muội hai tay đón chén, cúi đầu nói cảm ơn. Nước trà thơm mùi hoa cúc, ấm vừa phải, không quá nóng. Tam ca pha trà giỏi hơn tôi nghĩ.

Uống một ngụm rồi, muội đặt chén xuống, ngoác miệng cười: “Tam ca, phòng đại ca không có bàn cao vậy đâu. Đại ca hay ngồi bệt lên đệm.”

“Ừ.”

“Tam ca là con tướng công trên bắc phải không? Cha nói tướng công dạy tam ca cưỡi ngựa từ năm ba tuổi.”

“Ừ.”

Ba câu, ba tiếng “ừ”. Tôi bên trong thầm chào thua. Nếu chỉ dùng một chữ “ừ” mà lấy được cả câu chuyện trong bụng người đối diện, chắc tam ca có thể mở lớp dạy hỏi cung.

Muội kiên nhẫn hỏi tiếp, hỏi những câu ngu ngơ nhất mà một đứa bảy tuổi có thể hỏi. Tam ca có anh chị em không, tam ca hay ăn món gì, tam ca ghét ai nhất trong phủ. Câu ghét ai nhất, tam ca không đáp, chỉ liếc muội một cái, như cảnh cáo. Muội biết. Muội chuyển ngay sang chuyện khác, kể sáng nay đại ca dạy muội viết chữ “trung”, nét cuối muội hất lên cong quá, đại ca cười muội viết thành cái đuôi cá chép.

Kể xong, muội thấy khoé miệng tam ca hơi cong. Chỉ một chút. Chưa thành cười. Nhưng có.

Tôi ngoài mặt muội mừng như bắt được vàng, nhưng bên trong, tôi biết mình chưa nên vui vội. Cái tam ca đang thả lỏng một góc miệng chưa phải vì muội. Đó là vì cái tên “cá chép” gợi cho hắn nhớ chuyện gì đó xa xa. Có lẽ chuyện của mẹ hắn, có lẽ chuyện của bà nội hắn, có lẽ một bát canh cá chép hầm nào đó trong quá khứ. Tôi không rõ.

Nhưng khoảnh khắc đó, khi tam ca mất tập trung chỉ trong một hơi thở ngắn, tôi tranh thủ đảo mắt sang chiếc tủ ở tường tây.

Và tôi thấy.

Trong khe hở giữa hai cánh tủ, một góc vải đỏ thò ra chừng bằng đốt tay út. Đỏ thẫm, đỏ như son thắm, đỏ như chỉ mẹ dùng để thêu chăn bông cho muội mùa đông. Cái đỏ này lạc lõng với căn phòng đen trắng của tam ca như một cánh hoa đào rơi vào chậu mực.

Tim tôi đập nhanh hơn. Mắt muội vẫn ngoan ngoãn nhìn chén trà. Nhưng đầu tôi đã chạy hết mọi manh mối trong ba trăm chương “Phượng Hoàng Đài” tôi thuộc lòng.

Trong tiểu thuyết gốc, phần thân thế mẹ Cố Nghiệt được viết mập mờ đến mức khó chịu. Chỉ ba dòng ngắn: “Mẹ Cố Nghiệt là chính thất của tướng công Trịnh, mất sớm khi Nghiệt ba tuổi.” Không tên, không xuất thân, không di vật. Nhưng ở chương hai trăm lẻ tám, khi Cố Nghiệt bị bắt vào ngục vì tội khi quân, một lão thái giám già đã đến thăm hắn, đem theo một tờ giấy vàng và nói đúng một câu: “Công chúa nếu còn sống, chắc cũng đã tóc bạc.”

Công chúa. Không phải chính thất tướng công.

Tôi ngồi trên đôn gỗ nhà tam ca, hai chân đong đưa, tim đập nhè nhẹ như thùng thúc dưới màng bụng. Nếu công chúa là mẹ tam ca, thì cha tam ca không phải tướng công Trịnh. Cha tam ca là hoàng tử. Mà hoàng tử duy nhất mất tích hai mươi lăm năm trước, đúng vào thời điểm một công chúa “lưu lạc” xuống nam, là Đại hoàng tử. Anh ruột đương kim hoàng đế.

Tam ca không phải huynh nuôi. Không phải con tướng công. Tam ca là hoàng tử thất lạc.

Tôi bên trong bụm miệng lần thứ hai trong buổi chiều nay. Nhưng lần này không phải bụm cười. Là bụm để không thốt lên nửa chữ.

Bên ngoài, muội vẫn ngoan ngoãn nâng chén trà lên, uống thêm một ngụm nhỏ, mắt tròn ngước lên nhìn tam ca. Muội chuyển giọng thật đúng độ lụa của một đứa bảy tuổi vừa buồn ngủ:

“Tam ca, muội xin phép được lại gần tủ kia một chút được không?”

Tam ca liếc theo hướng tay muội chỉ. Không phải chỉ vào cái tủ, mà chỉ vào chiếc rèm cửa sổ ngay bên cạnh tủ. Muội cong mắt: “Muội thích cái tua rua đỏ ở góc rèm. Giống của mẹ.”

Tam ca ngập ngừng một khắc. Rồi gật đầu.

Muội tụt xuống đôn, đi hai bước rất nhẹ, tay chạm vào tua rua rèm cửa sổ, mắt lại lén liếc sang khe tủ.

Vải đỏ thò ra. Đúng góc. Đúng chỉ. Đúng cỡ. Bọc vải này không mới, đường viền đã cũ, chỉ đầu sờn nhẹ. Người bọc bọc rất kỹ. Bọc kỹ thế thì bên trong là vật vô cùng quý.

Tôi hít vào một hơi. Muội quay lại, cong mắt cười với tam ca:

“Tua rua đỏ đẹp hơn của mẹ. Tam ca ở đâu ra vậy?”

Tam ca không đáp. Hắn nhìn muội rất lâu. Trong tia nhìn đó, tôi thấy có gì đó khác. Không phải cảnh giác nữa. Là một sự cân đo. Như thể hắn đang tính xem có nên cho đứa bé bảy tuổi trước mặt biết một chuyện gì đó lớn hơn tuổi nó rất nhiều.

Rồi hắn quay đầu. Bước hai bước dài đến chiếc tủ. Tay hắn lấy chùm chìa khoá nhỏ giấu trong tay áo, mở khoá đồng, kéo cánh tủ.

Bên trong tủ, chỉ có bọc vải đỏ. Ngoài ra không còn thứ gì.

Tam ca nâng bọc vải hai tay. Ôm sát ngực. Bước lại chỗ bàn, ngồi xuống, đặt bọc vải lên mặt bàn, mở từng lớp một. Lớp ngoài là lụa đỏ. Lớp trong là lụa vàng. Lớp trong cùng là một tấm khăn trắng mỏng như sương.

Rồi hắn kéo tấm khăn ra.

Trên tấm khăn trắng là một mảnh ngọc bội.

Ngọc bội thắt lưng hán phục — phong cách cổ điển

Ngọc bội thắt lưng hán phục — phong cách cổ điển

237.826đ

Xem chi tiết →

Mảnh ngọc không lớn, chỉ bằng ba đốt ngón tay muội chụm lại. Ngọc trắng đục, có vệt xanh nhạt chạy dọc, hoa văn khắc bên trên là một cánh phượng đang xoè ra, chỉ một nửa cánh, chưa hoàn chỉnh. Ánh nắng qua rèm chiếu vào, mảnh ngọc sáng lên một tầng như sương sớm đọng trên lá sen.

“Của mẹ ta.”

Tam ca nói. Ba chữ. Rất khẽ. Nhưng ba chữ đó đè xuống căn phòng nặng như một tấm gạch nung.

Tôi ngoài mặt muội đứng ngây ra, hai tay khoanh trước bụng, mắt tròn xoe. Không phải giả. Muội thật sự ngây, vì cái đẹp lạnh của mảnh ngọc, vì cái không khí bất chợt trầm xuống, và vì cả cái vẻ mà tam ca cúi xuống nhìn mảnh ngọc, vẻ mềm hẳn đi một tầng, giống như con mèo con đang liếm chiếc chăn bông cũ của mẹ nó.

Bên trong, tôi nhìn kỹ hoa văn.

Cánh phượng chưa hoàn chỉnh. Đó là biểu tượng hoàng thất Đại Cẩn. Phượng nguyên đôi cánh chỉ thái hậu và các công chúa hoàng thất được phép đeo. Nửa cánh, tức là mảnh ghép. Ngọc bội hoàng thất luôn có hai mảnh, một mảnh khắc nửa cánh trái, một mảnh khắc nửa cánh phải, hai mảnh gộp lại thành một con phượng đủ đôi cánh xoè.

Trong tay tam ca là nửa cánh trái.

Tôi bên trong lặng người một khắc. Không phải công chúa nào cũng có ngọc bội phượng chưa hoàn chỉnh. Chỉ có công chúa bị lưu đày mới được ban một mảnh, mảnh còn lại giữ trong nội cung, đợi ngày công chúa được gọi về sẽ ghép lại. Đây là luật riêng của Đại Cẩn từ thời tiên đế.

Vậy là chắc chắn. Mẹ tam ca là công chúa lưu đày. Cha tam ca không phải tướng công. Tam ca là hoàng tử thất lạc, được cha nuôi Cố Định giấu dưới danh nghĩa “con tướng công đã hy sinh” suốt bao nhiêu năm.

Ba trăm chương “Phượng Hoàng Đài” tôi thuộc lòng, có bao nhiêu manh mối rải rác, tất cả gộp lại đúng ngay lúc này.

Tim tôi đập một nhịp thật mạnh trong lồng ngực bé xíu.

Muội chớp mắt hai cái, hỏi rất khẽ, giọng vẫn trẻ con:

“Mẹ tam ca đẹp không?”

Tam ca hơi nghiêng đầu. Vẻ mặt hắn không thay đổi, nhưng ngón tay hắn đặt trên mảnh ngọc bỗng khép chặt một chút.

“Ta không nhớ mặt mẹ.”

“Vậy làm sao tam ca biết là của mẹ?”

“Cha ta trước khi mất giao tận tay.”

“Ồ.”

Muội ừ một tiếng, xoay lưng, đi lại ghế đôn ngồi xuống. Bên trong tôi ghi thêm một dòng vào bản đồ của mình: cha nuôi cũ của tam ca, tướng công Trịnh, đã biết bí mật. Ông giữ mảnh ngọc, giao cho đứa trẻ ba tuổi trước khi mất, vì biết đứa trẻ này không phải con mình mà là hoàng tử thất lạc. Trịnh tướng công đã liều mạng bảo vệ, đến chết vẫn giữ kín. Rồi cha muội, Định Bắc hầu, nhận nuôi tam ca đúng theo dặn dò của Trịnh tướng công.

Cha muội cũng biết bí mật.

Ba trăm chương “Phượng Hoàng Đài” gốc không cho tôi biết chuyện này. Nhưng logic gộp lại chỉ có một khả năng. Cha nhận nuôi một thiếu niên không cùng máu, đưa về ở cùng phòng huynh ruột mình, đối xử ngang huynh ruột, đâu phải chỉ vì tấm lòng nghĩa hiệp. Cha đang gánh một bí mật quốc gia.

Tôi thở ra một hơi thật khẽ. Không phải thở dài. Là thở nhẹ, cách tôi vẫn thở khi thấy một câu chuyện hiện ra đủ mặt.

Muội ngoan ngoãn hỏi thêm: “Tam ca có nhớ mẹ không?”

“Không.”

“Tam ca có buồn không?”

Cố Nghiệt im lặng. Rất lâu. Muội đợi. Bên ngoài, ánh nắng đã xuống thêm nửa đốt tay trên rèm trúc, các vệt vàng đường phèn đã lệch xuống chân bàn. Cuối cùng, tam ca không đáp. Hắn chỉ gấp tấm khăn trắng lại, bọc mảnh ngọc, gói lụa vàng, gói lụa đỏ. Từng lớp một, chậm rãi, như dỗ một đứa nhỏ đi ngủ.

Xong, hắn đặt bọc vải đỏ lên bàn, hai tay úp lên trên.

Muội nhìn hai bàn tay tam ca, tay áo tam ca lộ ra một cổ tay gầy, xương cổ tay lồi lên rõ. Cổ tay của một thiếu niên chưa lớn hết, đã đi biên ải, đã mất mẹ, đã mất cha nuôi cũ, đã một mình về ở nhà lạ.

Tôi bên trong, cái tim hai lăm tuổi ấy, tự dưng đau nhẹ một cái, đau như bị ai bấm nhẹ một đầu ngón.

Không phải thương xót. Là hiểu.

Tam ca của muội không phải một đứa mười lăm tuổi bình thường. Tam ca là một đứa mười lăm tuổi đang gánh trên lưng một bí mật có thể giết hắn nếu bị lộ, có thể giết cả nhà nuôi hắn nếu bị lộ, và có thể lật đổ cả một triều đại nếu bị lộ. Hắn không cho phép mình yếu. Hắn không cho phép mình gần ai. Vì gần một người thì thêm một sợi dây, thêm một sợi dây thì thêm một chỗ có thể bị cắt.

Vậy mà chiều nay, hắn cho muội bảy tuổi vào phòng. Rót cho muội một chén trà. Mở bọc vải đỏ trước mặt muội.

Trẻ con bảy tuổi thì biết gì. Chỉ có tôi trong bụng muội biết. Và tôi biết một điều nữa: tam ca không phải cho muội vào vì tin muội biết giữ bí mật. Tam ca cho muội vào vì hắn cần một khoảnh khắc mà không có ai nhìn hắn bằng ánh mắt phòng bị.

Muội tụt xuống đôn, đi hai bước lại gần bàn, ngước lên nhìn tam ca. Mắt to như hai giọt sương đọng.

“Tam ca, muội cũng có một mảnh.”

Tam ca đang cúi mặt, nghe câu đó, hơi ngẩng đầu. Mắt hắn hơi nheo. “Muội có gì?”

Muội thò tay vào cổ áo, rút ra sợi dây đỏ đeo bên trong. Đầu dây là mảnh ngọc bội gia truyền cha đã đeo cho muội dưới cây lê hôm sinh nhật sáu tuổi. Ba nét chấm mực nhỏ khắc chìm bên trong, chỉ muội mới biết ở đâu.

“Của cha đưa muội. Cha nói ngọc bội gia truyền nhà Cố phủ. Có hai mảnh, muội giữ một, tráp gia phả giữ một.”

Nàng đặt mảnh ngọc trắng của mình lên mặt bàn, ngay cạnh bọc vải đỏ.

Tam ca không cử động. Rất lâu. Rồi hắn từ từ mở bọc vải đỏ lần thứ hai, kéo tấm khăn trắng ra, đặt mảnh ngọc phượng của mẹ hắn xuống bàn.

Hai mảnh ngọc nằm cạnh nhau.

Cả căn phòng lặng đi. Ngoài sân, một cơn gió cuối thu thổi qua, rung rung mấy sợi tua rua đỏ trên rèm cửa sổ. Nắng đã xuống dưới bậu cửa, cả phòng chỉ còn ánh sáng vàng nhạt trên hai mảnh ngọc.

Hai mảnh có cùng chất ngọc. Trắng đục, có vệt xanh nhạt chạy dọc, độ dày y hệt, cạnh nhẵn giống nhau đến từng vết mài nhỏ. Cả hai đều được cắt ra từ một tảng ngọc gốc. Mấy chục năm trước, cùng một người thợ, cùng một khối đá.

Nhưng hoa văn khắc bên trên khác nhau.

Mảnh của muội khắc một cành lê chớm nở, đúng cây lê bốn mươi năm tuổi trước sân hầu phủ. Mảnh của tam ca khắc nửa cánh phượng.

Cố Nghiệt sững người. Hắn đưa tay ra, ngón tay hắn run rất nhẹ. Ngón tay đặt lên cạnh mảnh ngọc của muội, dò theo đường mài. Rồi đặt lên cạnh mảnh ngọc của mẹ hắn, dò theo đường mài. Hai đường mài trùng nhau đến từng vết dao nhỏ.

“Cùng một khối đá,” hắn nói khẽ. Giọng khàn hơn bình thường.

Muội gật đầu. Muội cong mắt, không nói. Nhưng trong lòng tôi biết: nếu ngọc bội của mẹ Cố Nghiệt và ngọc bội gia truyền nhà Cố phủ cùng một tảng đá gốc, thì mối liên hệ giữa mẹ Cố Nghiệt và nhà Cố phủ sâu hơn rất nhiều những gì cả cha và hắn đang nói ra.

Có thể mẹ ruột hắn và mẹ đẻ muội quen nhau. Có thể quen nhau từ trước khi cả hai lấy chồng. Có thể còn hơn thế. Trong “Phượng Hoàng Đài” gốc, tôi không hề đọc được dòng nào về mẹ đẻ muội, Cố phu nhân thứ nhất, người đã mất khi muội hai tuổi. Bà chỉ được nhắc trong ba chữ: “mẹ đẻ muội”. Không có mặt, không có xuất thân, không có thân thế.

Cũng như mẹ tam ca.

Hai người phụ nữ được viết vô hình trong nguyên tác, cùng biến mất khỏi con mắt tác giả. Nhưng lại nắm chung một khối ngọc gốc.

Tay tam ca vẫn để trên mảnh ngọc của muội. Ngón tay hắn không rút về. Muội thấy cổ tay hắn hơi run.

“Ai đưa muội mảnh này?”

“Cha ơi. Ngày sinh nhật sáu tuổi muội.”

“Cha nói gì?”

“Cha nói mảnh này của con gái út. Cha đợi muội đủ lớn mới đưa.”

Cố Nghiệt lặng đi rất lâu. Mắt hắn nhìn mảnh ngọc của muội, không rời. Rồi hắn ngẩng đầu, nhìn thẳng vào mắt muội, mắt hắn không lạnh nữa. Có gì đó rất khác.

“Muội bảy tuổi.”

“Muội biết.”

“Muội biết cha muội đưa muội cái này để làm gì không?”

Muội chớp mắt, giả bộ ngơ ngác. Nhưng tôi bên trong biết. Cha đưa muội mảnh ngọc không phải chỉ vì gia truyền. Cha đưa muội để nếu cha có mệnh hệ nào, muội vẫn có bằng chứng máu thịt với gia tộc, không ai bịt được. Cha đang giấu quá nhiều bí mật. Một bí mật là tam ca. Một bí mật khác, có lẽ liên quan đến mẹ đẻ muội, đến khối ngọc gốc, đến hai người phụ nữ vô hình trong nguyên tác.

Muội lắc đầu. “Muội không biết.”

Tam ca không hỏi tiếp. Hắn nhìn hai mảnh ngọc trên bàn thật lâu. Rồi hắn nâng mảnh của muội lên bằng hai tay, hết sức nhẹ, hết sức trang trọng, đeo lại vào cổ muội, luồn dây đỏ vào trong áo bông.

“Muội đừng cho ai biết muội đã thấy mảnh của ta. Kể cả đại ca. Kể cả nhị ca. Kể cả cha muội.”

“Muội biết.”

“Muội thật biết?”

“Muội biết.”

Tam ca ngẩng đầu, nhìn muội. Trong tia nhìn đó, lần đầu tiên tôi thấy tam ca thật sự nhìn muội như một người có thể tin. Không phải một đứa bé hắn phải chịu đựng, không phải một con búp bê nhõng nhẽo của hầu phủ, mà một người.

Bên ngoài sân, chuông đồng thau ở cổng phủ điểm ba tiếng. Đã hết giờ tí ngọ, sắp đến giờ cơm chiều. Mẹ chắc đang gọi.

Muội tụt xuống đôn, chạy hai bước lại gần tam ca, chỉ vừa cao đến cạp áo hắn. Muội với tay lên, kéo vạt áo tam ca xuống một chút. Tam ca cúi đầu theo tay muội.

Muội áp má bé vào cổ tay tam ca, cổ tay xương xẩu ấy, hơi ấm và nhẹ. Không nói gì. Chỉ áp một giây.

Rồi muội buông ra, cong mắt cười.

“Muội đi ăn cơm. Tam ca ra ăn cùng nhé.”

Tam ca không đáp ngay. Rất lâu sau, khi muội đã bước ra đến ngưỡng cửa, hắn mới cất giọng, cũng vừa đủ cho muội nghe:

“Ừ.”

Một chữ “ừ”. Vẫn như cả buổi chiều. Nhưng chữ “ừ” lần này khác. Chữ “ừ” này là “ừ, ta ra”. Không phải “ừ, mặc kệ”.

Muội đóng cửa phòng tam ca lại sau lưng mình. Bước hai bước xuống thềm gỗ. Hành lang cuối thu vắng, chỉ có tiếng lá lê khô lăn nhè nhẹ trên nền gạch. Muội đi ba bước, dừng lại, đưa tay áp vào cổ áo, chỗ mảnh ngọc bội đang nằm sát ngực.

Ba nét chấm mực bên trong mảnh ngọc, chỉ muội biết ở đâu. Ba trăm chương “Phượng Hoàng Đài” gốc, chỉ tôi biết cách chấm dứt.

Nhưng bây giờ tôi vừa biết thêm một điều. Câu chuyện của muội không đơn giản là “sống qua chương ba mươi để không bị vu tráo ngọc bội.” Câu chuyện của muội và của tam ca đan vào nhau từ một khối ngọc gốc, từ hai người mẹ vô hình trong nguyên tác, từ một cái bí mật mà cha muội đã gánh trên vai suốt bao nhiêu năm mà chưa từng cho ai hay.

Tôi hít vào một hơi thu ấm. Áp tay vào ngực một lần nữa.

Rồi muội chạy về phía sảnh cơm chiều, hai chỏm tóc buộc cao lắc lư sau gáy, tiếng cười trong veo vang trên hành lang gạch. Gọi từ xa:

“Mẹ ơi, mẹ ơi, muội đói bụng.”

Muội chạy được nửa hành lang thì chợt khựng lại.

Từ phía sau, trong tiếng lá lê rơi, muội nghe rất khẽ một tiếng động khác. Một tiếng gót giày lụa, rất nhẹ, rất kín, đang dừng lại ngay góc hành lang phía sau lưng muội. Ai đó vừa rời chỗ nghe lén khi thấy muội quay đầu.

Người đó không phải cha, không phải mẹ, không phải đại ca, không phải nhị ca. Cả bốn người này giờ đang ở sảnh chính, muội biết chắc.

Vậy còn ai ở hầu phủ có thể đứng ngoài phòng tam ca cả buổi chiều, đợi muội bước ra, rồi âm thầm lùi vào bóng tối?

Muội đứng yên một hơi thở, tim đập ba nhịp thật nhanh. Rồi muội bình tĩnh cong mắt cười với hư không, tiếp tục chạy về phía sảnh cơm chiều, tiếng cười trong veo hơn cả lúc nãy.

Nhưng trong bụng, tôi hai lăm tuổi đã kịp ghi thêm một dòng đỏ vào bản đồ: có kẻ thứ hai trong hầu phủ đang quan tâm đến bí mật của tam ca.

Và kẻ đó không phải người nhà.