Ta Xuyên Thành Muội Muội Út Của Hầu Phủ
Chương 8: Cố Nghiệt Không Ăn Kẹo
Sáng hôm sau Trung Thu, sương trắng phủ lên hầu phủ mỏng như tấm khăn lụa cha đắp lên trán muội đêm sốt năm ngoái.
Muội tỉnh dậy trong chăn bông thơm mùi tùng hương. Nha hoàn Bích Đào đang khép cửa sổ, quay lại thấy muội mở mắt liền cười khẽ.
“Cô nương dậy rồi ạ. Mẹ đang chờ ở nhà chính, cả nhà ăn sáng chung.”
Muội gật đầu, để Bích Đào chải tóc buộc hai chỏm cao. Trong bụng, ta thầm đếm. Kể từ tối qua đứng cạnh tam ca dưới cây lê, đưa nửa cái bánh trung thu ra, hắn không nhận cũng không từ chối, đến giờ đã tròn một canh giờ tám khắc.
Con người ta khi trong lòng có vết, một đêm chưa đủ để lành. Ta biết. Ta hai mươi lăm tuổi kiếp trước cũng từng ngồi khóc thầm cả đêm chỉ vì một câu bâng quơ, huống chi hắn còn mang cả một mất một còn của kiếp mồ côi mẹ.
Bữa sáng ở nhà chính bày biện đầy đủ. Cháo bạch quả nấu đường phèn, bánh bao nhân đậu xanh nóng hổi, đĩa dưa muối xào tôm khô mẹ đích thân sai bếp làm. Cha ngồi đầu bàn, mẹ ngồi bên trái, đại ca hai tay bưng chén cháo mời mẹ, nhị ca gãi đầu chào muội.
Ghế bên phải cha, chỗ tam ca hai hôm nay ngồi, trống trơn.
Muội leo lên ghế của mình. Nhị ca liền ghé đầu qua, thì thầm to đến mức cả bàn nghe được.
“Muội muội, tam ca không xuống. Nha hoàn nói ban đêm không ăn, sáng nay đóng cửa từ canh năm. Ta gõ ba lần cửa, ta hô hai lần tên, cả hai lần chỉ có tiếng dế ngoài vườn đáp lại.”
“Nghê.” Mẹ liếc nhị ca một cái, giọng dịu nhưng nghiêm. “Ăn cháo đi. Chuyện của huynh nuôi, mẹ tự lo.”
Nhị ca chu môi, cắn nửa cái bánh bao, nhai bực bội. Muội nhìn đại ca. Đại ca cụp mắt xuống chén cháo, không lên tiếng, nhưng cái cách anh khuấy cháo mãi không đưa lên miệng đã đủ nói. Cha thở dài một hơi rất nhẹ, phe phẩy quạt trầm hương, mắt nhìn ra ngoài cửa sổ nơi cụm hoa quỳnh đêm qua vừa tàn.
Ta thầm quan sát cả bàn. Nhị ca là đứa bực nhất, kiểu người trên mặt để đâu ra đấy, ai nhìn cũng biết đang bực. Đại ca kín kẽ hơn, nhưng ai thân đại ca đủ lâu sẽ biết anh đang lo. Còn cha, cha là hầu gia biên ải, cha hiểu con nhà lính mất mát, cha sẽ để tam ca một mình thêm mấy hôm, thêm mấy ngày cũng được, cho tới khi hắn tự bước ra.
Nhưng ta không thể để hắn một mình.
Trong nguyên tác Phượng Hoàng Đài, Cố Nghiệt trưởng thành thành một cái đao lạnh không ai gọt được. Vì kiếp này ở hầu phủ, không một ai bước qua cái ngưỡng cửa lạnh ấy đủ sớm. Ai cũng nghĩ để hắn tự nguôi. Hắn tự nguôi thật, nhưng nguôi rồi cũng đóng cửa vĩnh viễn.
Ta đã hai mươi lăm tuổi kiếp trước, ta biết một thiếu niên mất người thân cần cái gì. Không phải lời an ủi. Không phải lời dỗ. Chỉ cần một người ngồi im bên ngoài cửa, đủ lâu, đủ kiên nhẫn, để hắn hiểu rằng cửa mình đóng không đuổi được ai đi.
Muội đưa muỗng cháo lên miệng, nuốt chậm.
“Mẹ ơi.” Muội gọi khẽ, giọng bé bỏng, tay giơ chén cháo lên nhấp nhấp. “Muội có thể lấy hai viên đường phèn không? Cháo hôm nay hơi lạt.”
Mẹ ngạc nhiên một thoáng. Ở phủ này, muội chưa bao giờ chê cháo lạt. Cháo bạch quả đường phèn nấu cực khéo, ngọt vừa, thơm dịu. Mẹ liếc cha, cha liếc lại, hai người cùng cười khe khẽ. Cha vẫy Bích Đào.
“Lấy hộp đường phèn với vài cái kẹo mạch nha trong tủ chè cho tiểu thư. Con bé bắt đầu biết ăn ngọt.”
Muội cụp mắt, giả bộ ngoan.
Trong lòng ta thầm cười. Cha ơi, đường phèn này con không ăn. Đường phèn này con để mở cửa cho tam ca.
Bích Đào bưng một cái đĩa gỗ nhỏ ra. Trên đĩa xếp gọn ba viên đường phèn to bằng đầu ngón cái muội, năm cái kẹo mạch nha bọc lá trúc, và một cái bánh táo đỏ mẹ vừa mới lấy ra khỏi lồng hấp.
Muội đón đĩa, cẩn thận đến mức đại ca ngước lên nhìn.
“Đường Đường mang đi đâu?” Đại ca hỏi nhỏ.
“Muội mang cho tam ca.” Muội đáp, cũng không giấu. “Tam ca hôm qua không ăn cơm tối. Không ăn cơm sáng. Bụng đói. Cơm mẹ nấu tam ca có thể không thích, kẹo thì ai cũng thích.”
Cả bàn im một nhịp.
Nhị ca lầm bầm: “Huynh nuôi khó chiều.” Nhưng vừa lầm bầm vừa lén đẩy sang chỗ muội một cái bánh bao còn nóng. “Cầm luôn cái này. Trong đó có nhân đậu ngọt, tam ca chắc cũng đói. Ta ăn tiếc chứ cho tam ca thì ta không tiếc.”
Muội cười. Nhị ca của muội là kiểu người miệng bực bụng thương, càu nhàu một câu thì nhường một cái bánh bao.
Đại ca cởi khăn tay lụa xanh đang gấp trên đùi, đưa muội gói ba viên đường phèn lại cho gọn, ngón tay dài của anh gấp khăn hai nếp vuông vắn như gấp một trang sách quý.
“Đường phèn hay tan chảy. Đường Đường bưng cẩn thận.”
Mẹ nhìn muội, đôi mắt lấp lánh một thứ vừa mềm vừa xa xăm. Mẹ không cản. Chỉ nói với Bích Đào:
“Đi theo tiểu thư. Đứng ngoài cửa phòng cậu ba, đừng vào. Cậu ba không thích ai vào.”
Cha đặt quạt xuống, tựa lưng vào ghế trúc, khẽ gật đầu.
Ta biết cha đang thầm quan sát. Cha không cấm, cũng không giúp. Cha để đứa con gái út của mình tự làm việc mình muốn làm.
Trong cái phủ này, cưng ta không phải là nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa, ai cũng bảo bọc rồi cắt nghĩa. Cưng ta ở đây là để ta có chỗ nương, có chỗ vấp, có chỗ tự đi. Cha mẹ không đè ta xuống dưới cái ô đen của người lớn. Cha mẹ đứng lùi một bước, để ta tự mở ô của mình.
Muội bưng đĩa, đi qua sân trước nhà chính, băng qua vườn có hòn non bộ ba tầng, rẽ vào hành lang gỗ dẫn ra viện phía đông. Viện của tam ca hầu phủ cấp riêng, cách viện muội đúng một cụm trúc thanh xanh cao ngang mái ngói.
Sương sáng còn đọng trên lá trúc, rơi xuống vai áo muội một giọt lạnh. Muội rùng mình, ôm đĩa vào ngực.
Trước cửa phòng tam ca có hai bậc thềm đá xanh mài nhẵn. Cánh cửa gỗ lim khép chặt, then trong đã cài. Bích Đào rón rén đứng cạnh cột hành lang, không dám thở mạnh, hai tay khoanh trước bụng như đang ôm một quả trứng mỏng.
Muội đặt đĩa xuống bậc thềm trên cùng, ngồi bệt xuống bậc dưới. Váy áo trải ra như một cánh bướm nhỏ.
“Tam ca.” Muội gọi khẽ, giọng bé xíu như tiếng mèo con vừa mở mắt. “Muội đây.”
Trong phòng không tiếng động.
“Muội mang đường phèn. Đại ca gói giúp. Muội mang kẹo mạch nha, của mẹ. Muội mang bánh bao đậu xanh, của nhị ca. Còn có bánh táo mẹ hấp cho muội, muội nhường tam ca một nửa.”
Trong phòng không tiếng động.
Muội gác cằm lên đầu gối, nhìn sương trên lá trúc. Sương lăn từ ngọn xuống, gặp gân lá thì chững lại một nhịp, rồi nhỏ xuống nền đá. Cứ mỗi giọt sương rơi, muội đếm một tiếng “một”. Đến giọt thứ ba mươi, mặt trời lên cao hơn một chút, sương bốc thành làn khói mỏng bay lơ lửng trên đầu cụm trúc.
Ta biết trong phòng tam ca có nghe. Đêm qua ngoài vườn, ta thấy tay hắn bóp vạt áo đến trắng khớp. Người như hắn không đóng cửa để ngủ. Người như hắn đóng cửa để không ai thấy mình khóc.
Muội hắng giọng nhỏ, tiếp tục nói.
“Tam ca có biết không? Cây lê trước sân trước, mẹ nói năm nay hoa nở sớm. Đêm qua trăng lên, cha bảo cây lê giống người, cứ đến mùa là nở, không cần ai gọi. Muội nghĩ tam ca cũng vậy. Tam ca đến hầu phủ, không phải ai gọi. Tam ca đến, vì đến mùa rồi.”
Trong phòng vẫn không tiếng động, nhưng muội nghe thấy tiếng thở dài rất khẽ. Rất khẽ, gần như tiếng gió lùa qua khe cửa.
Muội mỉm cười.
Không cần vội. Ta có cả buổi chiều. Ta có cả tháng, cả năm. Trong nguyên tác Cố Nghiệt sống thêm hai mươi lăm năm nữa mới chết trên biên ải. Ta chỉ cần lấy hết hai mươi lăm năm ấy về, đặt vào cái phủ này, thì hắn không phải đao, hắn là con trai của cha ta.
Bích Đào ghé xuống bên tai muội, thì thầm.
“Cô nương, ngồi thế lâu người ê ẩm. Nô tỳ đi tìm cái đệm bông cho cô ngồi ạ?”
Muội gật.
Bích Đào đi rồi lại về, mang theo một cái đệm bông vuông nhỏ nhồi bông gòn mềm mại. Muội ngồi lên đệm, dựa vào cột gỗ hành lang. Đĩa đường phèn vẫn để nguyên trên bậc thềm.
Nắng buổi trưa lên cao. Mùi khói bếp bay từ nhà sau, mùi cá kho tộ mẹ dặn kho lâu lửa nhỏ, mùi hành phi rắc lên đĩa rau muống xào. Bích Đào đứng bên, tay khoanh trước bụng, thi thoảng phe phẩy chiếc quạt lá cọ tránh nắng cho muội. Muội không đói. Ta trong lòng còn không dám nghĩ đến đói. Ta đang chờ một cánh cửa.
Đến giờ Tị chuyển sang giờ Ngọ, đại ca đi ngang qua hành lang, đứng lại nhìn muội một chốc. Đại ca không nói gì. Chỉ tháo cái ô che nắng bằng vải dầu vàng, cắm vào giữa hai bậc thềm, che bóng qua cả người muội. Rồi lặng lẽ đi.
Muội ngước nhìn theo bóng lưng đại ca. Trong lòng ấm một cái, như có ai đặt viên đường phèn nhỏ vào giữa lồng ngực. Đại ca không hỏi vì sao ngồi, không giục vào, không đuổi ra. Đại ca chỉ cắm giúp một cái ô.
Đến giờ Ngọ chuyển sang giờ Mùi, nhị ca chạy qua, cầm theo một cái quạt gấp và một túi lê muối. Vứt xuống cạnh đệm muội, cấm cảu.
“Của muội. Đừng có ngồi khô miệng đến hoa mắt. Ăn miếng lê muối cho tỉnh. Nếu tam ca không mở cửa trước giờ Thân, ta phá cửa.” Rồi cũng bỏ chạy trước khi Bích Đào kịp cản.
Muội cười khẽ, cắn miếng lê muối, chua ngọt lẫn lộn, cắn thêm miếng nữa. Nước lê muối chảy xuống cằm, muội đưa tay áo lau, tay áo nhuộm vệt vàng nhạt. Bích Đào xót lắm, muốn thay áo cho muội, muội xua tay, thôi.
Đến giờ Mùi chuyển sang giờ Thân, mẹ cho một a hoàn khác mang ra một chén trà hoa cúc ấm, một tấm khăn lụa mỏng để lau miệng, và một câu nhắn.
“Phu nhân bảo, tiểu thư mệt thì vào. Cậu ba mở cửa lúc nào, mở cửa lúc đó. Phu nhân bảo, cửa nào cũng có lúc mở, không ai đóng được cửa cả đời.”
Muội nhấp trà hoa cúc, ngọt hậu ở cuống họng. Muội không vào. Ta biết mẹ cũng biết ta không vào. Mẹ nhắn vậy chỉ để cha yên tâm rằng con gái út chưa bị nắng làm khô, cũng để nhắn tam ca sau cánh cửa gỗ lim một câu mà mẹ không nói thẳng được. Cửa nào cũng có lúc mở.
Ta hớp thêm ngụm trà thứ hai, thứ ba. Câu nói của mẹ trong đầu ta cứ lăn qua lăn lại như viên bi ngọc trong tay đứa trẻ. Trong nguyên tác, tác giả chưa từng viết một câu Tống thị nào ấm áp như vậy về Cố Nghiệt. Tác giả để mẹ ghẻ với con nuôi luôn có một quãng cách khách khí. Nhưng kiếp này, mẹ đứng ở nhà chính, sai a hoàn mang một tấm khăn lụa với một câu nhắn, cũng đủ để ta hiểu, mẹ đang đứng về phía cửa mở.
Cửa gỗ lim vẫn khép.
Ta không giận. Ta ngồi đủ lâu, ta hiểu, đóng cửa với người ngoài dễ, đóng cửa với một đứa bé bảy tuổi ngồi trên bậc thềm cả buổi chiều, khó lắm.
Đến giờ Thân giữa, mặt trời nghiêng phía tây, bóng cây trúc ngả dài phủ hết sân. Bích Đào cũng đã ngủ gà bên cột, tay ôm quạt, đầu gà gật hai ba nhịp. Muội một mình nhấp tiếp ngụm trà hoa cúc thứ tư, đã nguội, đã đắng.
Trong phòng có tiếng bước chân.
Không phải bước dài dứt khoát của tam ca. Bước ngắn, chậm, dò dẫm, như người vừa ngồi lâu một chỗ mới đứng dậy, chân tê chưa quen.
Muội đặt chén trà xuống, dựng lưng ngồi thẳng. Tim muội đập một nhịp rất khẽ, không phải hồi hộp, mà là kiểu chờ đợi đã sắp có kết quả.
Tiếng then trong cửa nhẹ nhàng nhấc lên.
Cửa mở một khe, đủ để lộ vạt áo trắng của tam ca. Hắn đứng đó, một tay giữ cửa, một tay buông thõng. Mắt hắn thâm quầng, tóc rối một mảng bên trái, môi trắng bợt. Từ trong phòng, mùi mực khô và mùi giấy cũ bay ra, lẫn một chút mùi trầm nhạt đã tắt từ lâu.
Muội ngước lên nhìn hắn.
“Tam ca.” Muội gọi rất khẽ.
Hắn không đáp, chỉ nhìn xuống muội. Ánh nhìn của hắn kỳ lạ. Không lạnh như đêm qua, cũng không phải ấm. Chỉ là kiểu nhìn của một người vừa tỉnh dậy sau đêm dài không ngủ, chưa kịp nhớ mình là ai ở đâu.
“Muội không sợ ta?” Cuối cùng hắn hỏi, giọng khàn khàn như tiếng thuyền chèo qua sông cạn.
Muội lắc đầu.
“Không.” Muội đáp. “Tam ca đang buồn.”
Bốn chữ này ta ngẫm đã cả buổi chiều. Ta không nói “muội thương tam ca”, cũng không nói “tam ca đừng buồn”. Trẻ con bảy tuổi bình thường sẽ nói vậy. Ta không nói vậy, vì ta biết một người đang gồng để không khóc, người khác cứ dỗ, hắn càng phải gồng.
Ta chỉ nói ra sự thật. Tam ca đang buồn. Vậy thôi.
Cố Nghiệt đứng chết trân ở khe cửa hai nhịp thở.
Rồi hắn kéo cửa mở rộng ra một chút nữa. Ánh mắt hắn quét chậm qua cái đệm bông muội đang ngồi, đĩa đường phèn kẹo mạch nha bánh táo trên bậc thềm còn nguyên vẹn, tấm ô đại ca cắm lệch sang một bên đã sắp hết bóng, cái quạt gấp nhị ca vứt xuống, chén trà hoa cúc mẹ cho, khăn lụa lau miệng có vệt lê muối vàng, và Bích Đào đang ngủ gục bên cột.
Cả cái hầu phủ này, gom lại thành một sân đá xanh một buổi chiều, đặt trước cửa hắn.
Hắn khép cửa lại một chút, rồi bước ra khỏi bậc thềm.
Muội tưởng hắn sẽ đi qua, hoặc cúi xuống nhặt đĩa lên. Nhưng hắn không làm cả hai. Hắn buông tay khỏi then cửa, ngồi xuống bậc thềm giữa, đối diện muội, ngang tầm mắt muội.
Ngang tầm mắt.
Muội chớp mắt.
Trong cả phủ này, kể từ khi ta xuyên đến, chưa từng có ai ngồi ngang tầm mắt ta như vậy. Cha thì bế lên đùi, mẹ thì cúi xuống, hai huynh thì nhấc lên vai. Không ai ngồi xuống ngang. Vì ta là muội muội út, ai cũng bảo phải bế phải cưng, phải nâng phải hứng.
Ngồi xuống ngang tầm nghĩa là đối thoại. Nghĩa là coi ta là một người, không phải một đứa bé để dỗ.
Cố Nghiệt nhìn muội. Nhìn rất lâu.
Ánh nắng cuối chiều xiên qua tán trúc, rọi qua má hắn, tạo ra một sọc vàng nhạt nghiêng nghiêng. Hắn có vẻ đẹp lạnh, kiểu đẹp của kiếm chưa rút. Ngồi gần thế này ta mới thấy đôi mắt hắn khi hắn không đóng lại đẹp thế nào. Có mệt. Có hoang mang. Có mất mát của đứa con mất mẹ chưa được ai gọi tên.
“Muội.” Hắn nói, chậm rãi từng chữ như đang cân. “Khác.”
Hai chữ. Không phải “muội lạ”, không phải “muội kỳ”, chỉ “muội khác”.
Ta biết. Kể từ khi ta xuyên đến, ta cẩn thận đóng ngu ngơ vừa đủ, ta để cha mẹ hai huynh thấy một đứa bé bảy tuổi có chút thông minh sớm nhưng vẫn là trẻ con bụng dạ chưa biết. Cha mẹ vui vẻ nghĩ ta là con gái út thần đồng nhỏ. Hai huynh nghĩ ta chỉ là muội muội đáng iu bảo bối biết nghe lời. Cả phủ chưa ai nhìn kỹ đến mức nói ta khác.
Tam ca mới về hầu phủ được hai ngày. Chưa đủ để so sánh ta trước và sau xuyên. Nhưng hắn nói “muội khác” bằng cái giọng của người đã nhìn cả buổi chiều qua khe cửa gỗ, đã đếm từng động tác của muội trên bậc thềm, đã thấy muội đưa nửa cái bánh trung thu đêm qua dưới cây lê, đã thấy đại ca cắm ô, nhị ca vứt lê muối, mẹ cho trà hoa cúc, và tất cả những cái đó đọng lại thành một chữ.
Muội mím môi.
Ta biết ta không thể mãi giấu. Ta biết trong cả hầu phủ, người đầu tiên nhìn thấu ta là hắn. Không phải cha, không phải mẹ, mà là cái đứa trai lạnh mười lăm tuổi mất mẹ, ngồi ba đêm trong phòng không mở cửa.
Vì hắn cũng đang giấu. Người đang giấu, dễ nhìn ra người khác cũng đang giấu.
Muội nghiêng đầu, cố nặn một nụ cười ngoan, kiểu cười muội vẫn dùng để cha bế lên vai, mẹ hôn lên má, đại ca gõ đầu, nhị ca véo cằm.
Nhưng lần đầu tiên kể từ khi tỉnh dậy trong chăn bông thơm mùi tùng hương của thân xác sáu tuổi ngày ấy, nụ cười của muội không kịp lên tới miệng.
Vì ánh mắt tam ca đã kịp đến trước.
Hắn đang chờ câu trả lời.