Ta Xuyên Thành Muội Muội Út Của Hầu Phủ
Chương 7: Trung Thu Kẹp Bươm Bướm
Trăng chưa treo lên đầu cây lê bốn mươi năm tuổi, mà Định Bắc hầu phủ đã sáng rực như ban ngày. Đèn lồng đỏ giăng dọc hai hàng hiên, mỗi chiếc chao nhẹ theo cơn gió thu, mang theo mùi hoa quế thơm ngậy từ vườn sau bay ra. Muội ngồi ngoan trong lòng nhũ mẫu, để bà quấn thêm một lớp áo lụa mỏng bên ngoài chiếc váy hồng đào cha mua ở Đông đại nhai. Trẻ con bảy tuổi thân thể mỏng như tờ giấy điều; gió thu chỉ chạm nhẹ cũng có thể ho vài tiếng, huống chi Trung Thu năm nay lại lạnh sớm hơn mọi năm.
Nhũ mẫu vừa buộc dải yếm vừa lẩm nhẩm câu quen thuộc: “Nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa. Tiểu thư nhà ta đêm nay phải đẹp nhất trong sảnh, chớ có chạy nhảy làm rối tóc.” Muội mỉm cười, cắn nhẹ đầu ngón tay bụ bẫm, gật đầu thật ngoan.
Trong đầu muội, giọng nói của cô gái hai lăm tuổi kiếp trước cựa quậy nhẹ nhàng như một con mèo cuộn trong chăn bông. Trung Thu kiếp trước ta chỉ ngồi trong căn phòng thuê ba mét vuông, ăn nửa cái bánh dẻo mua vội ngoài chợ, ngắm trăng qua khe cửa sổ. Kiếp này ta có cả sân đèn lồng, có cha nương, có ba vị huynh trưởng đang đợi ngoài sảnh chính, có nhũ mẫu cưng như cưng đường phèn. Ta thật sự may mắn.
Nhũ mẫu cài lên tóc muội một dải lụa đỏ, buộc thành hai chỏm nhỏ. Bà tấm tắc: “Thế này mới ra dáng bảo bối của hầu gia.” Muội gật đầu, tay bé nắm lấy tà áo bà, chân bước ra sảnh chính.
Sảnh Cẩm Vân đêm nay sáng đèn khắp bốn phía. Trên bàn dài kê chính giữa, đã bày sẵn một khay bánh trung thu tròn trịa, đỏ vàng xen kẽ nhau, cùng một đĩa hạt sen nấu đường phèn hãy còn bốc khói. Cha ngồi phía đầu bàn, áo gấm màu xám tro, tay cầm chén trà nóng, mắt ánh cười khi thấy muội bước vào. Nương ngồi bên cạnh cha, tóc búi gọn, cài một cây trâm ngọc đơn giản, đang cẩn thận đặt vài quả nho tím vào chén sứ nhỏ.
Đại ca Cố Trẫm mười ba tuổi đứng bên tủ sách sát tường, tay vẫn còn cầm quyển “Chu Lễ” đọc dở. Đại ca là thư sinh chân chính; ngay đêm hội cũng không quên mang sách, khiến nương vừa thương vừa buồn cười. Nhị ca Cố Nghê mười tuổi thì hoàn toàn ngược lại: cậu ngồi vắt vẻo trên bậu cửa sổ, chân đá đá vào không khí, tay xoay xoay một chiếc túi lụa nhỏ, mắt sáng long lanh khi thấy muội xuất hiện.
Còn ở phía đối diện, gần cây đèn đứng bằng đồng, là bóng dáng cao gầy của Cố Nghiệt. Tam ca mới về hầu phủ chưa đầy một tháng, vẫn giữ nguyên vẻ lạnh nhạt của một thiếu niên mười lăm tuổi lớn lên nơi biên tái. Hắn mặc áo bào xanh đậm, tay áo buông thẳng, đứng khoanh tay nhìn ngọn đèn, khuôn mặt không cười cũng không cau có, chỉ như một bức tranh mực khô nét.
“Đường Đường tới rồi!” Nghê nhảy phốc xuống bậu cửa, chạy tới nắm tay muội, kéo lại ghế bên cạnh. “Nhị ca đợi muội cả buổi. Ngồi đây, ngồi đây.”
Muội cười khúc khích, để nhị ca đỡ mình lên ghế cao có nệm bông. Cha nhìn hai đứa, quay sang nương: “Con thấy chưa? Từ ngày Đường Đường tỉnh cơn sốt hồi mùa xuân, Nghê không còn chọc muội khóc nữa. Kể ra cũng lạ.”
Nương lườm cha một cái yêu chiều: “Tướng công đừng nhắc lại chuyện cũ, kẻo nhị lang mất mặt trước khách.”
Khách chính là tam ca đây, muội biết. Nhưng cha nương không nói thẳng, vì sợ hắn tủi thân, muội nghĩ thầm. Muội ngước nhìn Cố Nghiệt, khẽ gọi: “Tam ca, đến đây ăn bánh với muội đi.”
Cố Nghiệt hơi cau mày, dời mắt khỏi ngọn đèn. Hắn nhìn muội chừng nửa nhịp thở, rồi lặng lẽ bước tới, ngồi vào chiếc ghế cách muội một khoảng vừa phải. Không quá gần, cũng không quá xa; đúng cái khoảng cách của một người muốn nhã nhặn mà chưa muốn thân.
Nương gắp một miếng bánh trung thu nhân hạt sen đường phèn đặt vào chén sứ nhỏ trước mặt muội, dùng thìa bạc cắt đôi. “Đường Đường ăn nửa cái này thôi. Còn để bụng cho hạt sen. Trẻ con ăn ngọt nhiều đêm không ngủ ngon.” Muội ngoan ngoãn “Vâng ạ”, cầm thìa bạc, xúc một miếng nhỏ.
Bánh mềm, ngọt thanh, thoảng mùi lá dứa. Muội cắn xong nửa miếng, không hiểu sao mắt cứ rưng rưng. Bánh trung thu ở kiếp này có vị của nhà. Vị của nhà mà ta chưa từng biết đến trong hai mươi lăm năm ở kiếp trước. Muội chớp mắt thật nhanh, sợ ai đó nhìn thấy sẽ hỏi.
Nhưng cha đã nhìn thấy. Cha đặt chén trà xuống, giọng khẽ: “Đường Đường sao vậy? Bánh không hợp khẩu vị?” Muội lắc đầu thật nhanh, cười lộ hai lúm đồng tiền: “Bánh ngon lắm cha. Muội chỉ, chỉ thấy mừng thôi.” Cha bật cười, tiếng cười trầm ấm của một tướng quân biên ải đã về vườn nuôi con: “Con bé này, mừng cái gì mà mắt ướt như thỏ con lạc chuồng.”
Nghê ngồi bên cạnh, đã moi trong túi lụa ra một vật nhỏ giấu sau lưng. Cậu ho khan hai tiếng, giả bộ nghiêm túc: “Đường Đường, đại ca có sách, cha có bánh, nương có nho, nhưng nhị ca cũng có quà cho muội. Quà này nhị ca đích thân chọn ở phố Đông chợ hoa quế, muội có muốn xem không?”
Muội đặt thìa xuống, mắt tròn xoe: “Có ạ! Nhị ca cho muội xem đi.”
Nghê rất trịnh trọng đặt vật kia lên khay sứ nhỏ trước mặt muội. Đó là một chiếc kẹp tóc hình con bươm bướm nhỏ, thân bằng ngọc bích xanh nhạt, hai cánh chạm khắc tinh tế, mỗi cánh gắn một hạt trai nhỏ xíu bằng đầu tăm. Đuôi bươm bướm khắc thành hình lá liễu mềm mại, nhìn qua đã thấy nghệ nhân đổ vào đó không ít tâm sức.
Kẹp tóc bướm đính pha lê ngọc trai — phong cách cổ trang
41.000đ
Xem chi tiết →Muội nhìn kẹp tóc, tay bé thò ra chạm nhẹ vào cánh bươm bướm, giọng khẽ như sợ làm nó bay mất: “Đẹp quá. Nhị ca mua cho muội thật ạ?”
Nghê ưỡn ngực đắc ý: “Chứ còn ai. Ta đi cùng thư đồng ra chợ hoa quế mua bút mực, tình cờ ghé qua tiệm cụ Trần thợ ngọc bên bờ sông, thấy con bươm bướm này ngồi trong tủ kính chớp chớp cánh, ta liền nghĩ, à đây, kẹp của muội muội ta. Cụ Trần nói con bươm bướm này khắc bằng ngọc Điền Nam, dù có rơi cũng khó vỡ, hợp cho trẻ con đeo.”
Muội cầm chiếc kẹp lên, xoay đầu qua nhũ mẫu: “Nhũ mẫu cài giúp muội đi.” Nhũ mẫu lau tay vào khăn, cẩn thận cầm kẹp, nhấc nhẹ một chỏm tóc muội, cài vào đúng chỗ vành tai bên phải. Con bươm bướm ngọc xanh nằm trên tóc đen nhánh của đứa bé bảy tuổi, dưới ánh đèn lồng đỏ, xanh và đỏ hoà vào nhau, đẹp đến mức cha vô thức “chậc” một tiếng.
Muội tụt xuống khỏi ghế, chạy vòng qua bàn tới chỗ cha, tay bé níu lấy ống tay áo gấm. “Cha nhìn muội đi. Nhị ca tặng muội con bươm bướm. Có xinh không cha?”
Cha đưa tay to đón lấy đứa con gái út, đỡ nàng lên đùi. Ngón tay chai sạn của một tướng quân từng cầm đại đao mười năm biên ải, giờ đây khẽ khàng vuốt qua cánh bươm bướm ngọc. Cha nhìn muội, ánh mắt dịu như sương sớm mùa xuân: “Xinh. Xinh nhất Định Bắc hầu phủ. Nhị lang có mắt đấy.” Nghê ở phía sau nghe cha khen, phổng mũi tự đắc, quay sang đại ca hất cằm: “Đại ca thấy chưa? Không phải cứ đọc sách mới giỏi. Nhị ca đây mua kẹp cũng biết chọn ngọc Điền Nam.” Đại ca gõ nhẹ đầu Nghê bằng quyển “Chu Lễ”: “Được rồi được rồi, tài tử ngọc nhà mình.”
Cả sảnh cười vang. Nương nhìn cảnh cha ôm muội, mắt cũng ấm hẳn lên, khẽ chấm khăn lụa lên khoé mắt. Muội gục đầu vào cổ cha, hít mùi trầm hương phảng phất trên áo gấm; trong đầu vang lên một câu bâng quơ: Ta ở kiếp trước không có ai để chạy tới khoe khi nhận được quà. Kiếp này ta có cả sân người đợi mình chạy tới. Ta phải bảo vệ những người này, dù có phải đối đầu với cả Lâm Tú Vân trong tương lai, dù có phải làm mọi cách.
Chính lúc muội đang chìm trong cảm giác ấm áp ấy, muội chợt nhận ra ở phía đối diện, Cố Nghiệt đã im lặng quá lâu.
Muội ngước mắt qua vai cha, nhìn tam ca. Cố Nghiệt vẫn ngồi ở chỗ ban nãy, tay đặt trên bàn, nhưng mắt hắn không nhìn ngọn đèn nữa. Mắt hắn dán chặt lên chiếc kẹp bươm bướm trên tóc muội. Sắc mặt hắn nhợt đi một tầng, hai môi mím thành một đường ngang mỏng như lưỡi dao. Ngón tay hắn khẽ run, siết lại thành một nắm nhỏ, rồi lại buông ra. Rồi lại siết.
Muội tim đập nhanh. Không đúng. Có gì không đúng.
Cố Nghiệt chầm chậm đứng dậy. Hắn cúi chào cha, giọng bằng phẳng: “Bẩm cha, con hơi khó ở. Xin phép ra ngoài chút.” Cha nhíu mày, đặt chén trà xuống: “Nghiệt Nhi bệnh à? Để cha bảo thầy thuốc.” Cố Nghiệt lắc đầu: “Không cần. Con ra vườn hóng gió chút là được.” Không đợi cha đáp, hắn quay người, bước ra khỏi sảnh, tà áo xanh đậm khuất sau cánh cửa gỗ chạm.
Cha nhìn theo, thở dài khe khẽ: “Đứa nhỏ này mới về, còn chưa quen. Đường Đường đừng giận nó nhé.” Muội lắc đầu thật mạnh: “Muội không giận. Nhưng, cha ơi, cho muội xuống được không? Muội, muội muốn đưa nửa bánh cho tam ca.” Cha nhìn muội, ánh mắt hiện lên một tia bất ngờ, rồi hoá thành mềm mại. Cha gật đầu: “Đi đi. Nhũ mẫu theo Đường Đường. Ngoài vườn có sương.”
Nương gói nửa chiếc bánh trung thu hạt sen đường phèn vào một miếng lá dứa, buộc dây lụa đỏ. Nhũ mẫu khoác thêm một chiếc áo bông mỏng lên vai muội, dắt tay muội bước ra hành lang.
Đêm Trung Thu ở hầu phủ đã sang canh. Trăng lên cao qua đầu tường, tròn vành vạnh như một chiếc đĩa bạc mới đúc, ánh sáng phủ trắng lên mái ngói. Sân giữa lát đá xanh vẫn sáng rực đèn lồng đỏ, nhưng phía vườn sau, nơi có cây lê bốn mươi năm tuổi, chỉ có ánh trăng lọt qua cành khô. Cây lê mùa thu không còn hoa; nhưng cha bảo mỗi năm cứ đến tháng ba, cả cây lại phủ trắng như tuyết, đẹp tới nỗi cha nương từng đứng nắm tay nhau nhìn nửa canh giờ không nói.
Muội bước chậm, tay bé nắm chặt gói bánh trong lá dứa. Nhũ mẫu đi phía sau, cầm một chiếc đèn lồng nhỏ soi đường. Đến cổng tròn vào vườn, muội ngoảnh lại: “Nhũ mẫu đứng đây đợi muội nhé. Muội vào một mình. Nhũ mẫu vào, tam ca sẽ ngại.” Nhũ mẫu do dự, nhưng thấy trong vườn có ánh đèn lồng treo sẵn cạnh gốc lê, nên cũng gật đầu, dặn: “Không được đi xa. Rét đấy.”
Muội “Vâng ạ”, một mình bước vào vườn.
Cây lê đứng giữa vườn, thân to cỡ hai vòng tay người ôm. Dưới gốc kê một băng đá xanh dài, chỗ mà cha nương thường ngồi uống trà lúc rảnh rỗi. Ngay lúc này, dưới bóng cành khô loang lổ ánh trăng, Cố Nghiệt đứng dựa lưng vào thân cây, đầu hơi cúi, tay phải bóp chặt vạt áo trước ngực. Bóp tới nỗi tà áo xanh nhàu lại thành một nếp gãy, mà hắn vẫn không nới ra.
Muội đi tới nhẹ như chú mèo con. Tới cách hắn ba bước, muội đứng lại, không dám gọi. Trẻ con hai lăm tuổi trong đầu muội biết rất rõ: có những nỗi đau chỉ cần một tiếng gọi sai thời điểm cũng đủ khiến người ta vỡ vụn. Muội đứng yên như vậy, đợi hắn tự nhận ra sự hiện diện của mình.
Cố Nghiệt ngẩng đầu lên, ánh trăng chiếu vào mắt hắn, một tia ướt loáng qua rồi biến mất nhanh như chưa từng có. “Muội… theo ta ra đây làm gì.” Giọng hắn khản, không có sức lạnh nhạt thường thấy. Muội đưa gói lá dứa lên: “Nương gói nửa cái bánh cho tam ca. Muội mang ra.” Cố Nghiệt nhìn gói bánh, rồi nhìn muội, rồi lại nhìn gói bánh. Một lát sau, hắn khẽ nói: “Ta không đói.” Muội không rút tay lại, chỉ đứng đó, tay bé chìa gói bánh ra, ngước mắt nhìn hắn: “Muội biết. Nhưng muội mang ra rồi. Tam ca cầm cho muội đi, cầm thôi cũng được.”
Cố Nghiệt sững một nhịp. Cuối cùng hắn đưa tay đón lấy gói lá dứa. Ngón tay dài của hắn khẽ chạm vào ngón tay bụ bẫm của muội, lạnh như đá suối mùa đông. Muội giật mình: “Tam ca lạnh quá. Sao không mặc thêm áo?” Nàng cởi ngay chiếc áo bông nhũ mẫu mới khoác lên vai mình, kiễng chân định choàng qua tay hắn. Cố Nghiệt cản lại, giọng vẫn khản: “Muội… trẻ con không được cởi áo trong đêm. Muội bệnh.”
“Tam ca cũng là trẻ con.” Muội bướng bỉnh, môi bĩu nhẹ. “Tam ca mới có mười lăm tuổi. Mười lăm tuổi cũng là trẻ con.”
Cố Nghiệt thoáng ngẩn ra. Rồi hắn khẽ cười, tiếng cười nhỏ như một tiếng thở. Đó là lần đầu tiên muội thấy hắn cười kể từ ngày về hầu phủ. Không phải nụ cười to hay ấm áp, chỉ là một cái nhếch mép mờ nhạt, nhưng đủ để làm gương mặt lạnh của hắn dịu đi mấy phần.
Hắn cúi xuống, ngón tay lạnh khẽ chạm lên chiếc kẹp bươm bướm ngọc trên tóc muội. Chạm rất nhẹ, gần như chỉ là ánh mắt hắn dừng lại đó. Rồi hắn khẽ hỏi, giọng không giấu được cái run nhỏ: “Chiếc kẹp này… nhị ca mua cho muội ở đâu?”
Muội đáp thật thà: “Phố Đông chợ hoa quế. Nhị ca nói tiệm cụ Trần thợ ngọc bên bờ sông.” Muội nghiêng đầu, đôi mắt đen như hạt nhãn nhìn thẳng vào hắn: “Sao tam ca hỏi? Tam ca cũng thấy đẹp à?”
Cố Nghiệt không đáp câu hỏi. Hắn im lặng nhìn cánh bươm bướm, mắt dần trở nên sâu như đêm không đáy. Muội chờ, chờ một hồi lâu. Rồi hắn khẽ nói, câu này không phải nói cho muội, mà như đang tự trả lời với chính mình: “Bốn cánh, hai hạt trai, đuôi khắc lá liễu. Ngọc Điền Nam. Cùng một khuôn.”
Cùng một khuôn? Muội trong đầu chấn động. Cùng khuôn với cái gì?
Trước khi muội kịp mở miệng hỏi, Cố Nghiệt đã đứng thẳng dậy, tay bóp chặt gói lá dứa. Mắt hắn nhìn về phía cổng vườn, giọng trở lại lạnh nhạt: “Nhũ mẫu đợi muội ngoài kia. Vào đi.” Muội không đi. Muội đứng đó, tay bé nắm lấy vạt áo hắn, giọng dịu như đường phèn tan trong nước ấm: “Tam ca. Nếu tam ca có chuyện gì muốn nói, muội nghe. Muội không kể cho ai.”
Cố Nghiệt nhìn xuống. Nhìn bàn tay bé xíu đang bám lấy vạt áo nhàu của mình. Trẻ con hai lăm tuổi trong đầu muội biết rất rõ: một đứa trẻ bảy tuổi bình thường sẽ không nói ra câu này. Muội đã lỡ lộ một góc “tôi” trong “muội”. Nhưng đêm nay muội không cần giấu; đêm nay muội cần hắn tin.
Cố Nghiệt nhìn muội lâu, lâu tới nỗi ánh trăng đã dịch qua nửa vòng cành lê. Cuối cùng hắn khẽ nói, gần như chỉ đủ cho một mình muội nghe: “Muội có biết, trong phòng ta, có một chiếc kẹp giống hệt cái này không?”
Muội tim đập lỡ một nhịp. Nhưng mặt muội giữ nguyên vẻ ngoan ngoãn: “Muội không biết. Tam ca kể cho muội nghe được không?”
Cố Nghiệt hít vào một hơi, dài và chậm. Hắn đưa tay áo lau qua khoé mắt, không phải để lau nước mắt, mà để giấu một điều gì đó không được phép hiện ra: “Kẹp đó là di vật của nương ta. Trước khi nương ta mất, nương gói kẹp vào khăn lụa đỏ, dặn ta giữ. Cả đời nương chỉ có một chiếc như vậy. Nương nói kẹp này thợ khắc riêng, cả kinh thành chỉ có một cặp. Một chiếc là của nương, chiếc còn lại của, của tỷ tỷ ruột nương.”
Muội nghe tới hai chữ “tỷ tỷ ruột”, ngón tay nắm vạt áo hắn khẽ siết. Nương ruột của tam ca có tỷ tỷ ruột. Mà chiếc kẹp còn lại, chiếc trong đêm nay đang cài trên tóc ta, được nhị ca mua ở tiệm cụ Trần thợ ngọc, phố Đông chợ hoa quế. Cụ Trần thợ ngọc là ai? Vì sao tiệm cụ có một chiếc kẹp đôi với di vật của mẹ tam ca?
Trong đầu muội, mảnh trí nhớ về plot gốc của “Phượng Hoàng Đài” bắt đầu chắp lại. Trong truyện, mẹ ruột Cố Nghiệt là công chúa hoàng thất bị lưu đày, xưng danh vợ tướng quân họ Trịnh để tránh bị truy sát. Nếu chiếc kẹp bươm bướm ngọc là di vật, thì tỷ tỷ ruột của mẹ tam ca là ai? Có phải, có phải là…
Muội nhìn Cố Nghiệt, đôi mắt bé không giấu nổi tia chấn động dù muội đã cố. Muội hỏi khe khẽ: “Tỷ tỷ ruột của nương tam ca, còn sống không?”
Cố Nghiệt lắc đầu chậm: “Nương ta nói tỷ tỷ mất từ khi ta chưa sinh. Không rõ ở đâu, chỉ biết là mất trước nương ta năm năm.”
Trước năm năm. Muội nhẩm tính. Tam ca năm nay mười lăm. Nương tam ca mất năm tam ca lên năm, tức mười năm trước. Vậy tỷ tỷ ruột của nương tam ca mất, cách đây… mười lăm năm.
Đúng năm mẹ ruột của muội, mẹ đẻ Cố Tiểu Đường mất khi muội mới hai tuổi. Đúng cái năm ấy.
Muội nhìn lên, giọng khản không giấu nổi: “Tam ca. Nương ruột của muội, cũng mất mười lăm năm trước. Muội có một chiếc, chiếc kẹp bươm bướm ngọc khác nữa. Cha để trong hộp trang sức đầu giường muội. Muội, muội mở ra cho tam ca xem được không?”
Cố Nghiệt ngẩng đầu, khuôn mặt lạnh trầm bao ngày, đêm nay lần đầu tiên vỡ nhẹ một khe. Hắn nhìn muội, môi khẽ mấp máy, rồi lại mím lại. Một hồi lâu, hắn mới thốt lên được một câu, giọng như đang lạc vào trong một giấc mộng xưa: “Muội… muội bảo, muội cũng có?”
Muội gật đầu. Nắm chặt vạt áo hắn.
Trăng Trung Thu tròn vành vạnh, treo lơ lửng trên đầu cây lê bốn mươi năm tuổi. Gió khẽ luồn qua cành, làm ánh đèn lồng đỏ ở cổng vườn chao qua chao lại, phủ lên hai đứa trẻ đứng dưới gốc một lớp ánh sáng ấm đỏ. Trong đầu muội, giọng cô gái hai lăm tuổi thì thầm: Nếu di vật hai bên khớp nhau, thì chuyện thân thế của tam ca không chỉ liên quan tới hoàng thất; nó còn dính tới mẹ ruột của ta. Ta không nhớ chi tiết này trong “Phượng Hoàng Đài”. Không hề nhớ. Nghĩa là, trong plot gốc, chi tiết này chưa từng được viết ra. Hoặc ta đã đọc lướt qua và bỏ sót một điều tối trọng.
Bên ngoài vườn, tiếng nhũ mẫu nhẹ vọng vào: “Tiểu thư ơi, sương xuống rồi, về sảnh thôi.”
Muội không đáp. Muội nhìn Cố Nghiệt, tay bé kéo tay hắn, giọng ngoan như trẻ con nhưng ánh mắt không phải của trẻ con: “Tam ca, đi. Về phòng muội. Muội cho tam ca xem chiếc kẹp còn lại.”
Cố Nghiệt để mặc bàn tay bé xíu ấy nắm mình. Hắn cúi xuống, gói lá dứa trong tay siết chặt, mắt vẫn dán vào chiếc kẹp bươm bướm ngọc trên tóc muội, dán vào chỗ mà cụ Trần thợ ngọc phố Đông đã lỡ tiết lộ một bí mật giấu mười lăm năm.
Hắn khẽ đáp, giọng thấp gần như tan trong tiếng gió: “Được.”
Muội dắt hắn quay ra cổng vườn. Nhưng chưa đi được ba bước, Cố Nghiệt bỗng dừng lại. Hắn nhìn muội, ánh mắt vốn lạnh trầm giờ đây có một nét gì đó rất khó gọi tên, như sương chưa tan trên hoa lê buổi sớm. Hắn hỏi, giọng nhỏ tới mức nếu muội không đứng gần thì đã không nghe được:
“Muội muội. Cụ Trần thợ ngọc phố Đông, chợ hoa quế, có phải là cụ Trần bên bờ sông Tiểu Nê không?”
Muội chưa kịp đáp, thì phía sau cổng vườn, từ hành lang sảnh chính, vọng tới một tiếng loáng thoáng của nhị ca Cố Nghê đang gọi vào bằng giọng vui vẻ chưa hay biết chuyện gì:
“Đường Đường! Ra ăn hạt sen thôi! À, mà nhị ca vừa nhớ ra, cụ Trần thợ ngọc bên bờ Tiểu Nê hôm nay đóng tiệm sớm, cụ nói ngày mai sẽ mang thêm mấy chiếc kẹp bươm bướm ngọc cùng khuôn tới hầu phủ cho cha xem. Cụ bảo cả kinh thành chỉ có ba chiếc cùng khuôn, mà một chiếc, tuần trước đã có người khác tới tìm mua rồi…”
Cố Nghiệt siết chặt tay muội. Ngón tay hắn lạnh đến bất thường.
Muội đứng chôn chân dưới bóng cây lê, tim đập mạnh tới nỗi tiếng đập vọng lên tai. Trong đầu muội, giọng cô gái hai lăm tuổi kiếp trước thì thầm rất khẽ, khẽ như một tiếng thở dài:
Người khác đã tới tìm mua chiếc thứ ba. Trong “Phượng Hoàng Đài”, ai là người biết tới chiếc kẹp này? Ai đủ tinh để lần theo dấu vết di vật mười lăm năm trước? Không phải Lâm Tú Vân, cô ta lúc này còn chưa xuất hiện. Vậy là ai?
Gió Trung Thu luồn qua cành lê, làm chiếc đèn lồng đỏ ở cổng vườn khẽ chao. Ánh đỏ hắt lên mặt hai đứa trẻ đứng dưới gốc cây; một đứa mười lăm, một đứa bảy tuổi, tay nắm tay, mà không đứa nào dám cử động.