Ta Xuyên Thành Muội Muội Út Của Hầu Phủ
Chương 6: Huynh Nuôi Xa Lạ
Một năm trôi qua trong hầu phủ nhẹ như một trận sương sớm tan trên tàu lá lê.
Đêm cha ôm ta ngồi trên di vật của mẹ đẻ, ta cứ ngỡ mình sẽ khóc mãi không dứt. Vậy mà sáng hôm sau tỉnh dậy, gối đã khô, chỉ còn vệt muối lặng thầm trên vải lụa hồng nhạt. Cha kể mẹ đẻ hay ngồi bên cửa sổ thêu, hay nấu chè đường phèn cho cha ăn khuya, hay cười khi thấy cha giả vờ nghiêm mặt. Cha kể xong, tay khẽ vuốt trán ta, giọng khàn: “Đường Đường của cha, sau này cha kể tiếp.” Ta gật đầu, thu hết mọi lời cha nói vào một ngăn kín trong lòng, khoá lại như khoá một hộp trang sức bằng khảm trai.
Sau đêm đó, hầu phủ vẫn cứ trôi theo nhịp cũ. Bốn mùa đi qua như bốn khay bánh khảo mẹ Tống bày trên án gỗ: mùa xuân hoa lê nở trắng cả sân trước, mùa hè ve kêu ran trong bóng tùng, mùa thu lá vàng lát kín lối đá xanh, mùa đông tuyết mỏng phủ lên nóc mái ngói lưu ly. Ta lớn thêm một tuổi. Bảy tuổi. Vẫn còn là con nhóc má bầu bĩnh, tóc buộc hai chỏm cao, ống chân trắng thò ra khỏi váy lụa hồng đào mỗi khi chạy. Nhưng bên trong bộ dáng “muội muội út của Định Bắc hầu phủ” ấy, ta, một linh hồn hai mươi lăm tuổi trót đọc quá nhiều tiểu thuyết cổ trang, ngày ngày ngồi tính từng bước cờ để đổi cái kết ở chương ba mươi.
Sáng hôm nay khác. Sáng hôm nay không giống mọi sáng.
Sáng hôm nay tam ca sẽ về.
Ta chưa gọi hắn là tam ca bao giờ, vì ta chưa gặp hắn bao giờ. Nhưng trong đầu ta, cái danh xưng ấy đã có sẵn từ khi ta còn chưa mở mắt sang kiếp này. Cố Nghiệt. Mười lăm tuổi. Con trai của tướng quân họ Trịnh đã hy sinh nơi biên ải khi giữ thành, được cha nhận nuôi ba năm trước, nay theo phó tướng của cha rời quân doanh trở về Biện Kinh. Đó là những gì người trong phủ nói ra miệng, nhắc đi nhắc lại đến độ nha hoàn Bích Đào cũng thuộc.
Còn trong đầu ta thì có một tờ giấy khác, dài hơn rất nhiều. Tờ giấy ấy do “Phượng Hoàng Đài” ba trăm chương ghi giúp ta. Cố Nghiệt trong nguyên tác không phải huynh nuôi hiền lành. Cố Nghiệt là phản diện gốc. Là tam ca lạnh lùng ngồi trong bóng tối uống rượu, là quan lớn triều đình đứng sau vô số biến cố, là kẻ ở chương hai trăm sáu mươi đã đưa nữ chính Lâm Tú Vân xuống địa ngục để trả thù cho một cô em gái đã chết oan. Cô em gái đó, chính là ta. Chính là Cố Tiểu Đường bị vu tráo ngọc bội, chết trong lãnh cung ở chương ba mươi.
Ta thấy đây là một logic rất khôi hài. Kiếp trước ta chết vì bị người ta hại. Tam ca vì ta chết mà thành phản diện. Vậy kiếp này, chỉ cần ta sống, thì tam ca cũng không cần trở thành phản diện nữa. Ta cứu ta, đồng thời cứu luôn hắn. Một mũi tên trúng hai con nhạn, cha ta nói võ nghệ thì nghe thuận tai, còn ta thì nói tiếng lòng thì nghe thuận dạ. Có điều, một con nhóc bảy tuổi làm sao mà cứu một thiếu niên mười lăm tuổi? Ta cũng chưa biết. Ta chỉ biết phải bắt đầu từ hôm nay.
“Muội muội, đứng yên nào.”
Bích Đào ngồi xổm sau lưng ta, hai tay đang bận rịu buộc lại chỏm tóc bên trái. Trước gương đồng, ta thấy khuôn mặt bảy tuổi của mình nhô lên trên cổ áo lụa vàng nhạt: má bầu bĩnh phe phẩy, mắt to đen như hai hạt nhãn, môi hồng nhỏ hơi bĩu ra vì cứ phải ngồi im quá lâu.
“Bích Đào,” ta nói, cố giữ giọng bé thơ tròn trịa, không lộ ra kiểu nói của một chị công sở kiếp trước, “buộc nhanh nhanh. Muội muốn ra sân sớm đón.”
Bích Đào cười khe khẽ trong họng, tay vẫn không dừng. “Muội muội chưa gặp tam công tử. Vội đón làm gì.”
“Vì cha thương tam ca.” Ta chớp mắt, nghiêm túc. “Cha thương ai muội cũng thương người đó.”
Bích Đào sững một nhịp, rồi cúi xuống buộc dây nhanh hơn. Ta nhìn trong gương thấy sống mũi nàng đỏ lên. Ta cũng không nói thêm gì. Ta biết trong hầu phủ hai năm nay, câu nói dễ làm người ta xúc động nhất luôn là những câu bé bảy tuổi nói ra bằng giọng nghiêm túc quá tuổi. Ta không cố tình. Ta chỉ nói thứ trong lòng ta thật sự nghĩ. Có điều lòng ta không phải lòng bảy tuổi, thế là câu chữ tự nhiên nặng hơn một chút. Nhẹ như sương mà đọng lại như sương đọng lá sen.
Xong tóc, xong áo, xong đôi hài lụa thêu hoa lê nhỏ xíu, ta chạy ra sân trước. Trời còn hơi sương, mặt đá xanh lát sân nhìn ướt sáng bóng như vừa được lau qua bằng nước gạo. Cây lê bốn mươi năm tuổi đứng ở góc sân đã rụng bớt hoa cuối xuân, để lại vài chùm trắng còn sót lại bám hờ trên cành đen, gió nhẹ thổi là rơi lả tả xuống vai áo người dưới gốc.
Cha đứng dưới gốc lê.
Cha ta, Định Bắc hầu Cố Định, một tướng quân biên ải cao hơn hai thước, vai rộng như hai tấm khiên, thường ngày ăn to nói lớn khiến gia nhân co ro như chim sẻ trước diều hâu. Vậy mà buổi sớm này, cha đứng đó, tay chắp sau lưng, mặt hướng ra cổng phủ, mắt như đang nhìn về một chốn xa lắc lơ. Áo bào tím than có thêu vân mây bạc, đai lưng khảm ngọc lam, râu tỉa gọn ba phần, đầu đội mũ ô sa. Cha đã diện chỉnh chu như tiếp một khách quý.
Ta chạy đến bên cha, kéo tay áo cha. “Cha ơi.”
Cha giật mình, cúi xuống nhìn ta. Trong nháy mắt ấy, ánh mắt lơ đãng của cha đã đổi thành ánh mắt của một cha già thấy con gái út: ấm, mềm, và có phần dở khóc dở cười. Cha bồng ta lên, để ta ngồi vào khuỷu tay trái, tay phải chỉnh lại chỏm tóc lệch bên trái mà Bích Đào vừa buộc.
“Đường Đường dậy sớm vậy? Không rét à?”
“Muội mặc ba lớp áo lót rồi.” Ta dí sát mặt vào vai áo cha, hít hà hương gỗ trầm phảng phất còn dư từ tối qua. “Cha đợi tam ca lâu chưa?”
Cha im một nhịp. Ta nghe tiếng cha nuốt khẽ. “Cha đợi từ canh năm.”
“Muội cũng đợi.” Ta chớp mắt, ngước lên. “Muội đợi từ lúc mở mắt.”
Cha khẽ bật cười, một tiếng cười thấp trong ngực. Tay cha vỗ nhẹ lên lưng ta, có phần cồng kềnh vụng về, nhưng thoả mãn. Cha là kiểu đàn ông không giỏi nói lời ngọt, nhưng nhìn cách cha bồng ta suốt hai năm nay ta biết, mỗi cái vỗ vụng về ấy đều bằng một đoạn nói yêu.
Từ trong hành lang bên trái, mẹ Tống bước ra. Áo lụa xanh nhạt phủ ngoài áo yếm trắng, tóc vấn cao cài trâm ngọc lục, tay bưng khay có ba chén trà đường phèn còn bốc khói mỏng. Mẹ đến gần, đưa cho cha một chén, đưa cho ta một chén nhỏ hơn.
“Uống đi. Sương sớm rét răng.” Mẹ nói, giọng nhẹ như hơi thở của một chiếc quạt lụa. “Đường Đường ngồi chờ trong sảnh đi con. Ngoài này gió.”
“Muội đợi cùng cha.” Ta lắc đầu, hai tay ôm chén trà nhỏ. Trà đường phèn thơm ngọt, hơi ấm thấm vào lòng bàn tay ta lan lên tận khuỷu.
Mẹ nhìn cha, cha nhìn mẹ. Hai người trao nhau một ánh nhìn ngắn ngủi mà đầy chuyện. Ta biết rõ ánh nhìn đó nói gì. Chuyện gì con bé cũng đòi làm cùng, không ép được. Đây không phải nhược điểm, đây là chiến thuật. Ta chỉ có mười hai năm để dệt tấm lưới tình cảm quanh cả nhà mình, mỗi buổi sớm ta đứng cùng cha đều là một sợi chỉ. Đứng lâu rồi thì lưới đủ dày. Lưới đủ dày thì đến lúc Lâm Tú Vân xuất hiện, không lưỡi kéo nào của nàng ta có thể cắt nổi.
Đại ca Cố Trẫm và nhị ca Cố Nghê cũng ra tới. Đại ca mười ba tuổi, đã bắt đầu có dáng thư sinh, khoác áo trường bào xanh cỏ non, ống tay áo vén hờ, trên ngực còn dính một vệt mực nhỏ bên góc. Nhị ca mười tuổi, tóc buộc chỏm cao, mặt còn ngái ngủ, tay cầm một khúc bánh nướng gặm dở, thấy ta thì nhe răng cười.
“Muội muội, ăn bánh không?” Nhị ca chìa khúc bánh nướng ra, mắt lấp lánh.
“Nhị ca!” Đại ca gõ nhẹ lên đầu nhị ca. “Bánh đã cắn dở còn đưa cho muội. Không có phép tắc.”
“Muội đâu chê.” Ta cười, cắn một miếng nhỏ ở đầu chưa bị cắn. Bánh còn nóng, ngọt, có mùi bơ sữa nhè nhẹ, dễ khiến trẻ con mê. Nhị ca vỗ đùi khoái chí. Đại ca lắc đầu, nhưng khoé miệng cong lên.
Cha đứng bên nhìn ba anh em, cười khan trong họng. Mẹ đưa khăn lụa cho ta lau khoé miệng dính vụn bánh. Cả nhà quây một góc dưới gốc lê. Không ai nói lớn. Chỉ có gió qua tàng cây, tiếng cánh hoa lê cuối mùa rơi lộp bộp trên áo cha. Đây là kiểu bình yên khiến ta trong lòng chỉ muốn khoá lại giữ suốt kiếp.
Rồi tiếng vó ngựa từ cổng phủ vọng vào.
Không phải một, mà là mấy con. Nhịp gõ trên đá đều đặn, chậm dần, dừng lại ngoài cổng. Có tiếng lính hầu chào lớn, tiếng cửa gỗ mở nặng nề. Cha đặt ta xuống đất, sửa lại vạt áo bào. Mẹ đưa tay vuốt sau tóc ta một cái, lặng lẽ lùi lại nửa bước, đứng ngang hàng cha nhưng chếch một chút phía sau. Đại ca cầm tay nhị ca, kéo hai anh em đứng thẳng.
Ta hít vào một hơi. Nắm chặt vạt áo cha.
Từ cổng bước vào là một thiếu niên.
Cao. Gầy. Áo giáp da nâu đã cũ, phủ bụi đường, vai khoác một tấm áo choàng đen mỏng. Đai lưng thắt gọn, thanh kiếm đeo bên hông không có tua, cán trơn, chuôi bọc dây da đã sờn. Tóc dài buộc gọn sau gáy bằng một dải vải đen. Cả người không có một mảnh trang sức. Cũng không có một sợi lụa đắt tiền.
Ta ngẩng đầu lên. Nhìn.
Mặt hắn nghiêng nghiêng trong ánh sáng buổi sớm còn nhạt. Xương gò cao, sống mũi thẳng, quai hàm sắc. Da không trắng, mà là kiểu ngăm nhẹ của người ở biên ải ba năm không tránh nắng. Môi mỏng, khép chặt. Mắt hẹp và dài, đuôi mắt hơi xếch lên. Nếu ánh mắt là dao thì mắt hắn là dao đá mài, ánh xanh lạnh mà không sáng chói, chỉ có một độ sắc tĩnh lặng nằm sâu dưới đáy.
Ta biết ánh mắt đó. Ta đã đọc chương một trăm tám mươi, chương hai trăm mốt, chương hai trăm sáu mươi, mấy chục đoạn mô tả ánh mắt tam ca lúc ngồi trên ghế Đại lý tự thẩm án kẻ khác. Ánh mắt ấy trong kiếp trước là ánh mắt của một quan lớn ba mươi tuổi. Kiếp này ta đang thấy nó trên một thiếu niên mười lăm tuổi phong sương chưa rụng bụi biên ải.
Trong lòng ta nhói lên một cái.
Hắn tiến lại gần cha. Một bước, hai bước. Đến trước ba bước, hắn dừng, quỳ một gối xuống, chắp tay ngang trán, giọng khàn khô như một tờ giấy để ngoài nắng quá lâu:
“Cố Nghiệt bái kiến cha.”
Cha bước lên, nắm cánh tay hắn kéo dậy. “Đứng lên. Cha con trong nhà, không cần lễ nặng.”
Cố Nghiệt đứng thẳng, không nhìn thẳng mặt cha, chỉ hơi cúi đầu. “Con làm phiền cha đón sớm.”
“Về đến nhà là được rồi.” Cha nói, giọng cố ý giữ vẻ nhẹ nhưng khoé miệng nhấp nháy vài lần, ta biết là cha xúc động. “Từ hôm nay, con là con trai của cha, không phân biệt.”
Cố Nghiệt hơi khựng. Rồi cúi đầu thấp hơn. “Vâng.”
Cha xoay người, giới thiệu. “Đây là mẹ con, hầu phu nhân họ Tống. Đây là đại ca Cố Trẫm, nhị ca Cố Nghê.”
Cố Nghiệt lần lượt vái chào ba người. Đến mẹ, mẹ tự đưa tay đỡ hắn dậy, giọng ấm êm: “Đường về mệt lắm phải không con. Sáng nay mẹ đã bảo bếp nấu cháo yến mạch với đường phèn cho con. Ăn xong đi tắm rồi ngủ một giấc.”
Cố Nghiệt cúi đầu. Không nói gì. Chỉ có gò má hắn hơi động một cái nhỏ, ta thấy được vì ta đứng gần hơn cả.
Đại ca chào lại lễ độ. Nhị ca chào cụt lủn xong bĩu môi, có phần dè dặt, chưa chịu thân thiết ngay. Ta hiểu. Nhị ca chín, à không, mười tuổi rồi, đang tuổi giữ lãnh thổ. Trong lòng nhị ca có lẽ nghĩ, tự nhiên đâu ra một tam ca chen vào giữa anh em ruột. Nhưng nhị ca vẫn cúi đầu, vì cha đã bảo trong nhà không phân biệt, thì nhị ca không dám phân biệt trước mặt cha.
Cố Nghiệt chào xong ba người lớn. Ánh mắt hắn cuối cùng cũng chầm chậm hạ xuống ta.
Ta nhỏ hơn hắn nửa cái đầu người, nói không quá lời, đứng dưới cằm hắn còn chưa tới. Ta ngẩng mặt lên, để hắn nhìn thấy khuôn mặt bảy tuổi của ta trong toàn cảnh: má bầu, mắt to, môi hồng, tóc buộc hai chỏm cao, đang cầm một cái chén trà nhỏ trong lòng bàn tay. Đứa nhóc bảy tuổi trong mắt hắn hẳn là một hình ảnh rất chói mắt so với bụi biên ải hắn vừa rũ khỏi vai.
Hắn dừng. Nhìn ta. Rất lâu.
Trong bảy nhịp thở đó, tôi, cái linh hồn hai mươi lăm tuổi trong đứa nhóc, đã kịp nghĩ hết một chuỗi dài. Tôi nghĩ, đây là lần đầu tam ca nhìn mình. Trong nguyên tác, lần đầu tam ca nhìn Cố Tiểu Đường cũng đúng ở khoảnh khắc này. Tác giả “Phượng Hoàng Đài” viết một câu tôi nhớ rõ như in: “Nghiệt thấy con bé bảy tuổi ấy nhõng nhẽo bám cha, trong lòng chỉ dâng lên hai chữ, phiền toái.” Kiếp trước Cố Tiểu Đường không biết. Kiếp này tôi biết. Tôi biết trong đầu hắn ngay lúc này đang chạy đúng hai chữ ấy. Phiền toái.
Cũng phải thôi. Hắn ba năm ở biên ải, chỉ có gió, cát, ngựa, và tin cha nuôi ruột đã hy sinh. Trở về nhà lạ, gặp một con nhóc bảy tuổi bám vạt áo cha nuôi mới, ánh mắt hắn dừng lại trên tôi hẳn là dừng trên một bức tranh sơn son thếp vàng đối lập với đời hắn đến độ đau mắt.
Nhưng có một điều tam ca không biết. Trong nguyên tác, hắn nhìn Cố Tiểu Đường bảy tuổi bằng ánh mắt “phiền toái” đó, rồi đến chương ba mươi Cố Tiểu Đường chết trong lãnh cung, hắn tự nhốt mình ba ngày trong phòng, đập vỡ tất cả đồ sứ, sau đó bắt đầu con đường phản diện tàn nhẫn không lối về. Hắn nợ Cố Tiểu Đường một mạng, mà đến chết cũng không kịp nói.
Kiếp này thì khác.
Kiếp này ta không chết. Ta sẽ sống. Ta sẽ lớn lên bên cạnh hắn, dệt lưới quanh hắn giống như dệt lưới quanh cả nhà, kéo hắn khỏi con đường phản diện, kéo hắn đến chỗ có đèn dầu ấm, có chén cháo yến mạch đường phèn, có cây lê nở hoa trắng trước sân. Kéo hắn về làm tam ca. Kéo hắn về làm người có nhà.
Chuyện đó, bắt đầu từ hôm nay.
Ta nhìn hắn không chớp mắt. Hắn cuối cùng cũng khẽ mấp máy môi, giọng lạnh và khô như tro:
“Muội muội.”
Chỉ hai chữ. Không có câu chào thêm. Không có nụ cười. Không có sự nồng ấm mà mẹ Tống vừa đối với hắn. Chỉ có hai chữ ngắn ngủn rơi xuống mặt đá xanh, kêu bộp một cái rồi tan trong sương.
Hai chữ ấy trong nguyên tác cũng có. Đúng chỗ này. Đúng ngữ điệu này. Đúng ánh mắt này.
Nhưng lần này ta không phải Cố Tiểu Đường của nguyên tác. Ta không cụp mặt xuống oà khóc rồi nắm chặt vạt áo cha. Ta không quay đầu chạy vào lòng mẹ như một chú mèo con bị doạ. Ta cũng không giận. Ta thậm chí không thấy bị lạnh.
Ta chỉ thấy hắn tội nghiệp.
Hắn không biết ta đến đây để làm gì. Hắn cứ tưởng ta là con bé bảy tuổi nhõng nhẽo phiền toái, còn ta thì tưởng hắn là một thiếu niên bụi biên ải chưa được rửa mặt bằng nước nóng. Cả hai đứa ta, dưới gốc cây lê buổi sớm này, thật ra đều là hai đứa trẻ chưa có nhà. Cha ta là hầu gia, mẹ ta là hầu phu nhân, anh em ta có hai, mà trong lòng ta vẫn còn cái ngăn tối om của một linh hồn hai mươi lăm tuổi chết ngay khi đang đọc chương ba mươi. Cha nuôi hắn là hầu gia, mẹ nuôi hắn là hầu phu nhân, huynh đệ hắn có sẵn ba, mà trong lòng hắn vẫn còn cái ngăn khoá kín của một đứa trẻ mười lăm tuổi vừa mất người cha nuôi cũ ngoài mặt trận.
Kiếp trước hắn giết nữ chính vì em gái chết. Kiếp này, chỉ cần muội sống, tam ca sẽ khác. Ta đã nghĩ như thế trong lòng, hai chữ “khác” ấy nặng như một lời hứa với chính ta. Trứng khôn hơn vịt gì chứ, ta đang là con nhóc bảy tuổi tay còn chưa cầm nổi chén trà mà đã dám hứa với trời một chữ khác.
Ta buông vạt áo cha ra. Tiến lên nửa bước. Đưa bàn tay bé xíu của ta ra phía trước, lòng bàn tay ngửa lên, năm ngón còn ngắn ngủn xoè hết cỡ như một cánh hoa lê mới chớm.
Ta ngẩng mặt. Cười. Nụ cười phải vừa đủ ngây thơ để hợp với bảy tuổi, vừa đủ ấm để một thiếu niên vừa từ biên ải về nhìn vào thấy nắng.
“Tam ca.”
Ta gọi.
Cố Nghiệt sững lại.
Cả sân trước sững lại theo.
Cha đứng bên ta, ta nghe cha ngưng thở nửa nhịp. Mẹ đứng sau ta, ta nghe khay trà trong tay mẹ khẽ run rung một cái. Đại ca hơi mở miệng, chưa kịp thốt gì. Nhị ca há hốc. Bích Đào đứng xa hơn, đưa tay lên che miệng.
Vì trong hai năm ở hầu phủ này, ta chưa gọi ai là “tam ca” bao giờ. Cha, mẹ, đại ca, nhị ca đều đã có danh xưng quen thuộc. Còn tiếng “tam ca” đó, ta để dành. Ta để dành cho khoảnh khắc này. Cho cái bàn tay bé đưa ra dưới gốc lê buổi sớm. Cho một thiếu niên bụi biên ải chưa từng nghe ai gọi mình bằng hai chữ đó bằng giọng ngọt như chè đường phèn.
Bàn tay ta nhỏ đến độ chỉ vừa vặn đặt hai đầu ngón tay lên lòng bàn tay hắn nếu hắn chịu đưa ra. Nhưng hắn không đưa ra. Hắn chỉ đứng đó, tay vẫn khép hờ bên hông, mắt nhìn xuống bàn tay bé mở của ta.
Trong ánh mắt sắc như dao đá mài của hắn, có một cái gì đó khẽ động.
Không phải nồng nhiệt. Không phải cảm động. Chưa tới mức ấy. Chỉ là một vệt rạn nhỏ trên lớp băng, nhỏ đến độ ta ngờ mình nhìn nhầm. Vệt rạn đó thoáng qua rồi biến mất, khuôn mặt hắn khép lại như cũ.
Hắn không nắm tay ta. Hắn không cười. Hắn cũng không nói gì thêm.
Nhưng hắn cũng không quay đi.
Hắn nhìn bàn tay bé mở của ta. Rồi chầm chậm ngẩng ánh mắt lên, nhìn thẳng vào mắt ta, không né. Nhìn rất lâu. Lâu đến độ ta cảm giác ánh mắt ấy đang đi qua đôi mắt bảy tuổi của ta, đi qua má bầu bĩnh, đi qua chỏm tóc cao, đi tới tận cái ngăn tối om phía sau, nơi ta giấu linh hồn hai mươi lăm tuổi của ta.
Trong khoảnh khắc ấy, ta có một dự cảm rất lạ, rất mờ, rất phi lý.
Ta cảm thấy trong ánh mắt tam ca có một câu hỏi. Không phải câu hỏi “con bé này là ai”. Mà là một câu hỏi khác. Sâu hơn. Câu hỏi kiểu như, dưới cái bàn tay bé kia, dưới cái tiếng “tam ca” gọi ngọt kia, có ai khác đang đứng nhìn ta không?
Ta lạnh sống lưng.
Tay ta vẫn không rụt về. Vẫn xoè ra như cánh hoa lê. Nhưng trong lòng ta, cái linh hồn hai mươi lăm tuổi đang thầm nhắc chính mình một câu, dài như một sợi tơ giăng qua sương sớm:
“Cẩn thận. Tam ca, hình như, không bình thường.”