Hoài Cổ Truyện

Ta Xuyên Thành Muội Muội Út Của Hầu Phủ

Chương 11: Cố Nghiệt Đi Biên Ải

Mùa thu năm đó về Biện Kinh sớm hơn thường lệ.

Cây lê bốn mươi tuổi trước hiên hầu phủ đã trụi lá hai phần, những chiếc còn lại vàng ươm như giấy hoa tiên, mỗi cơn gió sớm thổi qua lại rơi lộp bộp trên mái ngói xanh. Tiểu Đường thức dậy trong chăn bông vẫn còn thơm mùi bồ kết ướp lâu, tay bé đưa lên dụi mắt. Con mèo mun mẹ nuôi từ hồi nàng bảy tuổi giờ đã béo tròn, đang cuộn ở chân giường, đuôi phe phẩy như quạt lụa.

“Muội đã tám tuổi rồi.” Nàng lẩm bẩm trong đầu bằng cái giọng của người hai mươi lăm tuổi kiếp trước. “Ừ, đã tám tuổi. Cái thân bé xíu này rốt cuộc cũng dài ra được một chút.”

Nàng bò dậy, tự mặc áo. Chuyện tự mặc áo, tự đi giày, tự chải tóc đơn giản, giờ đã là bài diễn hằng ngày của nàng. Nếu để nha hoàn Bích Đào làm hết, mẹ sẽ hỏi khéo: “Đường Đường lười thế à?” Còn nếu tự làm hết một mình, cha sẽ đứng ngoài cửa lẩm bẩm: “Con gái út cha lớn nhanh quá, cha chưa kịp bế đã…” Nàng phải giữ lằn giữa hai người lớn ấy, không quá bám, cũng không quá tự lập. Vừa đúng đủ để cả nhà lúc nào cũng có cớ nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa.

Bích Đào đẩy cửa vào, cầm chậu nước ấm. “Tiểu thư, hôm nay đại sảnh có việc, phu nhân dặn xong xuôi rồi hãy xuống.”

“Việc gì?” Nàng đút chân vào giày, ngước lên.

Bích Đào cười cười, cố ý không nói: “Đến thì tiểu thư biết.”

Con mèo mun ngáp một cái to đùng. Tiểu Đường xoa xoa lưng nó, trong lồng ngực chợt thấy nghèn nghẹn. Bích Đào cười kiểu đó là kiểu “không hẳn tin vui”. Trong nhà này, cha mẹ và các huynh có nhiều chuyện muốn giấu nàng lắm. Cha nghĩ nàng còn bé, không hiểu; mẹ nghĩ nàng nhõng nhẽo, không nên bận tâm; các huynh thì mặc định muội muội chỉ cần nhõng nhẽo là đủ. Nhưng “Đường Đường” ngoan hiền của cả nhà đã sống một lần rồi, tai thính hơn họ tưởng nhiều.

Nàng đi qua hành lang dài, hai bên là bức tường trắng có dây leo mùa thu đã đỏ ửng. Sương sớm còn đọng trên lá, thi thoảng rơi xuống vai áo nàng lành lạnh. Đến gần cửa đại sảnh, nàng nghe tiếng cha vọng ra, giọng trầm và chậm:

“Đi sáu tháng. Không thể ít hơn.”

Tim nàng đập một nhịp lỗi.

Sáu tháng.

Biên ải.

Nàng nắm chặt tay áo, đứng khựng lại ngoài rèm. Bên trong, mẹ đáp lại, giọng gần như thở dài: “Chàng đã quyết rồi thì thôi. Nhưng thằng bé mới mười bảy, dù có võ nghệ tốt cũng chưa hẳn…”

“Chính vì mười bảy nên phải đi.” Cha nói. “Cha ta ngày trước gửi ta đi biên ải khi ta mười lăm. Cố Nghiệt là con nhà võ, không thể sống mãi trong sân trước cây lê.”

Tiểu Đường cắn môi. Nội tâm hai mươi lăm tuổi của nàng gào lên: “Không được. Không được cho tam ca đi. Đây chính là chuyến đi hắn bị đầu độc. Đây chính là chuyến đi…”

Nàng bấu vào cánh tay mình, tự nhắc: bình tĩnh. Bình tĩnh. Đường Đường tám tuổi không thể lao vào đại sảnh la lên “Con biết tam ca sẽ chết”. Đường Đường tám tuổi chỉ có thể ngoan hiền, khôn khéo, mượn cái vẻ trẻ con bé nhỏ này mà đặt từng viên gạch cứu người.

Nàng hít một hơi thật sâu, đưa tay vén rèm.

“Cha ơi.”

Cả đại sảnh quay lại nhìn nàng. Cha đang ngồi ở ghế chủ, tay cầm một xấp thư có triện đỏ. Mẹ ngồi cạnh, tay cầm khăn lụa. Đại ca Cố Trẫm mười ba tuổi đang đứng, khuôn mặt đăm chiêu như thư sinh sắp thi. Nhị ca Cố Nghê mười tuổi đang ngồi vắt vẻo trên bậu cửa sổ, tay chống cằm. Còn Cố Nghiệt, tam ca của nàng, mười bảy tuổi, đứng bên cạnh cha, dáng cao gầy, mắt sắc, khuôn mặt vẫn cái điệu không cười ấy.

Cha giãn khuôn mặt ra một giây, cố nặn nụ cười: “Đường Đường dậy sớm thế. Vào đây, ngồi vào lòng cha.”

“Cha nói tam ca đi đâu?” Nàng bước vào, cố ý làm giọng nhõng nhẽo bé xíu, nhưng không dám nhìn Cố Nghiệt.

Đại ca thở dài: “Tam đệ đi biên ải rèn luyện. Sáu tháng.”

Nhị ca nhảy phốc xuống bậu cửa: “Đi biên ải là đi đâu? Xa lắm không? Sao không cho ta đi cùng?”

“Con còn nhỏ.” Cha lườm nhị ca. “Học cho xong đã. Đường bên ấy không phải chỗ trẻ con nghịch.”

Tiểu Đường leo lên lòng cha. Cha vòng tay ôm nàng, tay khô ráp mà ấm. Nàng gối đầu lên vạt áo lụa của cha, giả vờ hỏi ngu ngơ: “Sáu tháng là bao lâu?”

“Từ giờ đến qua Tết.” Mẹ đáp thay cha, giọng dịu. “Đúng khi hoa mai đầu năm nở, tam ca của con về.”

“Vậy Tết này tam ca không ăn bánh chưng à?”

“Không.” Cố Nghiệt bên cạnh đáp gọn.

Cả đại sảnh cười khẽ. Chỉ có nàng cười theo, nhưng trong lồng ngực có cái gì lăn dần xuống, lạnh như viên đá bỏ trong bát chè. Nàng ngẩng đầu, đưa mắt nhìn tam ca lần đầu tiên từ khi vào phòng. Cố Nghiệt đang nhìn nàng, ánh mắt vẫn cái điệu lạnh nhẹ nhàng ấy, nhưng có chút gì hơi khác, khó nói. Nàng biết. Từ đêm nàng sốt ba đêm liền năm ngoái, từ khi hắn ngồi bên giường nàng ba đêm không ngủ, từ khi sáng thứ tư ấy nàng đưa tay bé xíu vuốt tóc hắn, giữa hai đứa đã có một sợi tơ mảnh mà không ai nhắc, cả nàng và hắn đều tự biết.

“Tam ca.” Nàng gọi khẽ. “Muội tiễn tam ca lên đường được không?”

Cố Nghiệt gật đầu.

Cha nhìn hai đứa, ánh mắt cha vốn xưa nay có thói quen ẩn giấu, nhưng trong khoảnh khắc đó Tiểu Đường thấy cha đọc rõ tình cảm trong lòng nàng như đọc chữ trên giấy. Cha khẽ cười, tay xoa đầu nàng: “Muội của con, muốn tiễn thì tiễn.”


Sau bữa sáng, cả nhà rời đại sảnh, mỗi người mỗi việc. Đại ca vào thư phòng học chữ. Nhị ca ra sau vườn tập cưỡi ngựa. Cha đi tiếp khách. Mẹ vào phòng riêng bàn với quản gia chuyện chuẩn bị hành trang cho Cố Nghiệt.

Tiểu Đường theo Cố Nghiệt ra sân trước, đến dưới cây lê.

Đây là chỗ hai người thường đứng. Từ ngày Trung Thu năm ngoái, khi nàng đưa nửa cái bánh trung thu cho hắn, cây lê này đã lặng lẽ trở thành cây tin gửi của họ. Không cần hẹn, hai đứa đến giờ nào cũng thường lượn qua đây một chút.

“Muội buồn.” Nàng nói khẽ. Nàng có thể diễn kiểu “buồn giả nhõng nhẽo”, nhưng lần này nàng cố tình để giọng thật lộ ra một chút. Muội muội tám tuổi không được nói “tam ca có thể chết”, nhưng muội muội tám tuổi được phép nói muội buồn.

Cố Nghiệt đứng cao hơn nàng gần một cái đầu, tay chống vào thân cây lê. Vỏ cây sần sùi, thớ cây đen thẫm sau nhiều năm sương gió. Hắn nhìn xuống nàng, khuôn mặt vẫn cái điệu bình lặng ấy, nhưng giọng dịu đi:

“Muội bao nhiêu tuổi rồi?”

“Muội tám tuổi.” Nàng đáp, không hiểu ý.

“Tám tuổi thì phải biết tiễn đưa cho ra dáng.” Hắn khẽ cong khoé miệng, không hẳn cười. “Không được khóc lóc như hồi bảy tuổi.”

“Muội đâu có khóc lóc.” Nàng phồng má, nội tâm hai mươi lăm tuổi thầm cười: cái tên này, ngày trước còn bảo muội muội phiền quá, giờ đã học cách trêu muội muội tự nhiên như thở.

Cố Nghiệt cúi xuống, ngồi xổm để ngang tầm mắt nàng. Ánh nắng thu chiếu chéo qua kẽ lá, đậu lên vai áo hắn, thành từng vệt vàng nhạt. Hắn nhìn nàng, giọng nhỏ:

“Ta đi rồi sẽ về. Đường Đường yên tâm.”

Nàng gật đầu, cố kìm không để tay mình run. Nội tâm nàng đang chạy như ngựa hồ. “Ta đi rồi sẽ về” là câu nam chính hay nói nhất trong tiểu thuyết trước khi bị đầu độc, trước khi bị phục kích, trước khi biến mất. Cứ ai nói câu đó rồi ra khỏi cửa là y như rằng chương sau nữ chính khóc lên khóc xuống. Ở đời thực thì không sao, nhưng trong truyện này, câu đó là một cái điềm.

Nàng nắm vạt áo hắn, kéo nhẹ. “Tam ca.”

“Ừ?”

“Tam ca ở biên ải ăn gì? Uống gì?” Nàng cố tình hỏi trẻ con.

Hắn hơi ngạc nhiên một giây, rồi đáp: “Ăn cơm quân doanh. Uống nước giếng.”

“Nước giếng ở đó có ngọt không?”

“Có nơi ngọt, có nơi mặn.”

“Vậy tam ca uống nước ngọt thôi. Đừng uống nước mặn.”

“Ừ.”

“Tam ca đừng ăn đồ người lạ đưa.” Nàng bồi thêm câu này, cố giữ giọng ngu ngơ nhất có thể. “Ở biên ải nhiều kẻ xấu. Muội nghe cha kể.”

Cố Nghiệt dừng lại. Hắn nhìn nàng lâu hơn bình thường một chút. Nàng cảm giác cái ánh mắt sắc ấy đang chọc thẳng vào lớp vỏ “trẻ con” của mình, nhưng nàng không lùi. Nàng chỉ trợn cái mắt to lên, làm mặt lo âu.

Hắn giơ tay, chạm ngón trỏ vào giữa trán nàng, đẩy nhẹ. “Ừ. Ta biết.”


Suốt cả buổi chiều đó, Tiểu Đường ngồi lì trong phòng, ngăn giấy trên bàn, tay bé cầm bút lông vẽ vẽ.

Ta nhớ gì? Ta nhớ gì?

Ta nhớ trong “Phượng Hoàng Đài” nam chính họ Trịnh, tức Cố Nghiệt, đi biên ải ở tuổi mười bảy. Chi tiết chuyến đi thì tác giả chỉ viết vài câu. Nam chính bị đầu độc ở quân doanh Bạch Thạch, tay trong là một tên đầu bếp. Chất độc dùng là thạch tín trộn trong canh. Ba ngày sau nam chính hôn mê. Nữ chính, tức Lâm Tú Vân, khi ấy còn chưa nhập hầu phủ, cứu hắn từ xa bằng cách nào đó, tác giả viết rất ảo, kiểu “nghe tin liền vượt đêm mang thuốc thần đến”. Nàng ngày trước đọc đến đoạn đó còn cười khẩy, giờ nghĩ lại chỉ thấy tay chân lạnh.

Ta không phải Lâm Tú Vân. Ta không có thuốc thần. Ta là Cố Tiểu Đường, tám tuổi, ở Biện Kinh, cách quân doanh Bạch Thạch gần hai ngàn dặm.

Nàng đặt bút xuống, chấp hai tay vào nhau, thở đều.

Được. Nghĩ theo cách của một đứa con nhà võ tám tuổi. Ta có thể cho hắn cái gì mà không lộ?

Than hoạt tính. Than hoạt tính hút chất độc. Kiếp trước ta là dược sĩ bốn năm ở một bệnh viện tuyến quận, chuyện này ta thuộc lòng như cửu chương. Chỉ cần đốt than tre, giã nhỏ, gói vào lụa. Uống với nước ấm khi nghi ngộ độc, có thể hút bớt phần độc trong dạ dày trước khi vào máu. Không phải thần dược, nhưng hơn không.

Ngoài than hoạt tính, còn gì? Đậu xanh. Đậu xanh xay, sắc lên uống. Người xưa vẫn nói đậu xanh giải độc, ở đây hợp lý cả về mặt truyền thống lẫn khoa học. Cam thảo. Cam thảo trung hoà, làm dịu ruột. Nếu bị thạch tín, thời gian là kẻ thù. Càng gấp uống càng có cơ.

Còn gì nữa? Đường phèn. Đường phèn không giải độc, nhưng cha thường mua cho nàng ngậm khi ho, và nàng biết nó sẽ đóng vai “trẻ con dỗ ngọt” hoàn hảo. Ai lại nghi ngờ một túi lụa nhỏ có đường phèn?

Nàng gói lại kế hoạch: một túi lụa, bốn thứ. Than hoạt tính giã nhỏ, đậu xanh xay, cam thảo cắt lát, đường phèn nguyên viên. Nàng phải giải thích cách dùng bằng ngôn ngữ tám tuổi. Không được đề cập từ “thạch tín”, không được đề cập từ “chất độc”, không được đề cập từ bất cứ điều gì có mùi hai mươi lăm tuổi.

Chiều muộn, nàng chạy đến chỗ mẹ.

“Mẹ ơi.” Nàng bám vào tay áo mẹ, giọng nũng nịu. “Muội muốn đi mua đồ.”

“Mua gì?” Mẹ đang gấp áo bông cho Cố Nghiệt, mặt hơi buồn nhưng vẫn cố mỉm cười.

“Muội muốn tự tay làm quà cho tam ca. Mua đường phèn với cam thảo với đậu xanh.” Nàng ngước cái mặt tròn lên. “Muội đọc trong sách đại ca, người xưa đi xa hay mang mấy thứ này. Ăn cho ấm bụng.”

Mẹ ngẩn một giây. Rồi mẹ vỗ nhẹ đầu nàng, mắt hơi ướt: “Con nhỏ này, biết thương huynh rồi. Được, đại ca sẽ dắt con đi.”

Đại ca Cố Trẫm ngoài phòng nghe, đi vào, cười: “Muội muội muốn ra ngoài? Ta dắt.”

Ra hiệu thuốc, Tiểu Đường chọn đúng những gì nàng đã nhẩm. Đại ca nhìn nàng chọn cam thảo, khẽ khen: “Muội biết chọn cam thảo à?”

“Bà lão nhà bên bảo muội. Cam thảo phải chọn khô, đừng ẩm.”

“Bà lão nào?”

“Bà lão… trong lòng muội.” Nàng đáp bằng cái giọng ngây ngô nhất, đại ca phì cười, gõ nhẹ đầu nàng: “Trứng khôn hơn vịt.”

Còn than hoạt tính, nàng không dám nói ra tên. Nàng chỉ vào ống trà đen bên quầy: “Đại ca ơi, kia là gì?”

“Đó là than tre giã, dùng lọc nước hay hút mùi.” Chưởng quầy tiệm đáp thay đại ca.

“Muội muốn một túi nhỏ.” Nàng nhìn đại ca. “Muội gói vào tay nải tam ca, đề phòng nước quân doanh đục.”

Đại ca nheo mắt: “Muội biết nước quân doanh đục?”

“Muội nghe cha kể.”

“Cha nào kể mấy chuyện chi tiết vậy?”

Nàng phồng má, không đáp, chỉ giật giật vạt áo đại ca. Đại ca lắc đầu bật cười: “Được rồi. Mua thì mua.”

Trên đường về, nàng ôm túi giấy nhỏ trong lòng, cảm giác nặng như đá. Trong tay áo mình, nàng đã lén cầm thêm một mẩu giấy chép công thức. Tám tuổi thì viết chữ chưa đẹp, nhưng vẫn đủ đọc.


Đêm trước ngày Cố Nghiệt lên đường, hầu phủ tổ chức một bữa cơm nhỏ. Không rầm rộ, vì cha bảo “đi xa không nên đưa tiễn ồn ào, gở miệng”. Chỉ có cả nhà quây quần bên bàn, cha rót cho Cố Nghiệt một chén rượu ấm, mẹ gắp thức ăn không ngừng, đại ca kể chuyện về vị tướng ở biên ải mà mình đọc trong sử, nhị ca chốc chốc lại chen vào giành nói.

Tiểu Đường ngồi bên tay Cố Nghiệt. Nàng ăn ít, chỉ khều khều bát cơm. Cố Nghiệt gắp cho nàng miếng cá kho, đặt vào bát nàng. “Ăn đi.”

Nàng gật đầu, ăn.

Cha nhìn hai đứa, khẽ cười. Mẹ nhìn cha, mắt đỏ đỏ.

Sau bữa cơm, mọi người tản ra. Cố Nghiệt về phòng chuẩn bị hành lý cuối cùng. Đại ca vào thư phòng viết một lá thư ngắn “gửi anh em bên ấy” nhờ Cố Nghiệt cầm hộ. Nhị ca nằng nặc theo tam ca vào phòng nói chuyện, được năm câu đã bị đuổi ra vì “nói nhiều quá”. Cha ngồi trong đại sảnh với chén trà nguội. Mẹ ngồi trên bậu cửa sổ nhìn ra sân, dáng ngồi hai vai hơi rũ xuống.

Tiểu Đường lặng lẽ về phòng mình.

Nàng lấy túi lụa hôm qua đã gói xong ra. Túi bằng lụa hồng nhạt, thêu một cành mai nhỏ do chính tay nàng thêu, đường kim còn vụng, có chỗ chệch chệch. Bên trong bốn ngăn nhỏ: than tre giã, đậu xanh xay, cam thảo lát, đường phèn viên. Nàng bọc thêm mảnh giấy bên ngoài, viết nét chữ nắn nót:

“Đường phèn, ngậm khi lạnh. Cam thảo, sắc uống khi đau bụng. Đậu xanh, sắc uống khi nóng người. Than tre, uống với nước ấm khi bụng khó chịu. Uống nhiều lần cho đến khi hết khó chịu.”

Nàng đọc lại. Không có chữ “thạch tín”. Không có chữ “chất độc”. Không có gì lộ. Chỉ có bốn thứ trẻ con nghĩ ra vì thương tam ca.

Nàng cầm túi, nhét vào tay áo, đi ra khỏi phòng.

Hành lang khuya nay đèn dầu leo lét. Sương phủ nhẹ trên lan can gỗ. Nàng đi chân trần, bước từng bước ngắn, chỉ sợ nha hoàn nào thức dậy thấy. Đến hành lang phía đông, cửa phòng Cố Nghiệt vẫn còn ánh đèn hắt ra qua khe.

Nàng đứng trước cửa, do dự một lúc. Rồi gõ nhẹ, ba tiếng.

Cửa hé mở. Cố Nghiệt cúi xuống nhìn nàng, ánh đèn dầu phía sau viền một quầng vàng nhạt quanh vai hắn. Hắn không tỏ ra ngạc nhiên. Có lẽ hắn đã biết nàng sẽ đến.

“Muội.” Hắn khẽ nói.

Nàng chui vào phòng. Bên trong, hành lý đã xếp gọn thành ba bọc: một bọc quần áo, một bọc sách, một bọc vật dụng. Bàn còn một chén trà chưa uống hết. Nến đang cháy nhỏ trên giá.

Cố Nghiệt khép cửa lại. Hắn ngồi xuống ghế, ngang tầm mắt nàng như thói quen cũ.

“Có chuyện?”

Nàng rút túi lụa ra. Tay bé nắm chặt cái miệng túi, không dám lơ là.

“Tam ca.” Nàng đưa túi. “Muội tặng tam ca.”

Cố Nghiệt cầm. Túi nhẹ trong tay hắn. Hắn nâng lên nhìn cành mai thêu vụng của nàng, khoé miệng cong lên một chút. Hắn mở nút, nhìn vào trong, thấy bốn ngăn nhỏ với bốn thứ khác nhau.

“Là gì?”

“Là thuốc phòng thân.” Nàng nói. Nàng đã tập câu này cả buổi chiều để giọng vừa vặn ngu ngơ. “Đường phèn, cam thảo, đậu xanh, và than tre. Muội tự nghĩ ra, muội chép cả cách dùng bên ngoài đây này.”

Cố Nghiệt đọc mảnh giấy nàng dán. Hắn đọc chậm, hai lần. Rồi ngẩng lên nhìn nàng.

“Muội tự nghĩ ra?”

“Ừ.” Nàng gật thật mạnh. “Muội đọc mấy quyển sách của đại ca, thấy người xưa hay dùng. Muội chỉ ghép lại thôi.”

Cố Nghiệt nhìn nàng. Nhìn lâu.

Nàng biết cái ánh mắt này. Đây là ánh mắt hắn nhìn nàng lần đầu tiên vào Trung Thu năm ngoái, khi nàng đưa nửa cái bánh trung thu cho hắn dưới cây lê. Đây là ánh mắt “muội khác”. Nàng đã quen, nhưng vẫn thấy nóng mặt.

“Muội.” Hắn nói, giọng rất khẽ. “Muội có phải là đứa trẻ ta nghĩ không?”

Nàng lặng đi một giây. Nội tâm hai mươi lăm tuổi của nàng gào lên: “Đừng hỏi. Đừng hỏi. Chưa phải lúc.”

Nàng ngước mắt, làm cái mặt vô tội nhất trong đời:

“Muội là em muội của tam ca. Không phải à?”

Cố Nghiệt nhìn nàng thêm một khoảng lâu. Rồi hắn cúi xuống, cầm túi lụa của nàng, buộc vào dây thắt lưng, gần sát người.

“Ừ. Là em muội của ta.” Hắn đáp. “Ta sẽ mang theo. Ta sẽ dùng nếu cần.”

Nàng thở phào bên trong. Nàng biết hắn vừa cho nàng một lời hứa, cách hắn thường cho lời hứa, đơn giản mà dứt.

“Tam ca.” Nàng gọi thêm một tiếng.

“Ừ?”

“Tam ca nhớ đừng ăn canh người lạ nấu. Kể cả trong quân doanh.” Nàng nói câu này ra bằng giọng bé xíu nhất có thể, kiểu như nàng vừa nghĩ ra vì trẻ con hay sợ mấy thứ vặt. “Muội đọc trong truyện, người đi biên ải hay bị đầu bếp bỏ độc.”

Cố Nghiệt chậm rãi gật đầu. Không hỏi thêm.

Nàng cúi đầu chào hắn, ra khỏi phòng. Cửa đóng lại phía sau, tiếng gỗ khép nhẹ trong đêm khuya.

Nàng đứng ngoài hành lang, tay áp lên cánh cửa gỗ lim, nghe cái lạnh của gỗ thấm qua lòng bàn tay. Trong lồng ngực nàng có một cái gì cuộn lên, không hẳn buồn, không hẳn sợ, chỉ là cái cảm giác của người biết trước ván bài mà chỉ được đánh có một quân.

“Tam ca.” Nàng thầm nói với cánh cửa, bằng giọng của người hai mươi lăm tuổi. “Ta đã đưa cho ngươi tất cả những gì ta có thể đưa. Phần còn lại, hãy sống về, cho ta.”

Gió đêm thu thổi qua hành lang. Đèn dầu ở đầu hồi khẽ lay.


Sáng hôm sau, khi mặt trời còn chưa lên hết khỏi mái cung Biện Kinh, Cố Nghiệt đã cưỡi ngựa ra khỏi cổng hầu phủ, sau lưng là hai người tuỳ tùng, sau lưng nữa là con đường dài hai ngàn dặm về biên ải Bạch Thạch.

Tiểu Đường đứng ở cổng, tay bé nắm chặt tay cha. Cha đứng bên nàng, tay to đen kịt vết chai từ ba mươi năm cầm kiếm, giờ nắm bàn tay nhỏ mềm của con gái út, chỉ dám nắm nhẹ nhẹ như sợ làm gãy. Mẹ đứng sau, cầm khăn lụa, không lau nước mắt, chỉ cầm.

Nàng nhìn theo bóng ngựa nhỏ dần trong sương sớm, cho đến khi chỉ còn thấy một chấm đen trên nền trời xám. Cây lê trước sân rơi một chiếc lá vàng lên vai áo nàng, nhẹ như hơi thở.

Trong tay áo nàng, một mảnh giấy chép công thức thứ hai đang được nàng nắm chặt. Mảnh giấy này nàng viết cho mình, không phải cho hắn. Trên đó, bằng nét bút tám tuổi run run, chỉ có một dòng:

Nếu tam ca không về đúng ngày, ta tự đi tìm.

Cha cúi xuống, ôm lấy nàng, không nói. Có lẽ cha nghĩ nàng đang buồn vì tam ca đi xa. Có lẽ cha nghĩ nàng chỉ là một đứa trẻ tám tuổi khóc thương huynh nuôi. Nàng gối đầu vào vai cha, để cha nghĩ thế. Cả nhà nghĩ thế thì tốt.

Nhưng phía sau vai cha, mắt nàng vẫn nhìn về hướng bắc, nơi con đường bụi bay đã nuốt trọn bóng người. Và trong lồng ngực bé nhỏ của Cố Tiểu Đường tám tuổi, quả tim đập theo hai nhịp cùng lúc: một nhịp của muội muội út vừa tiễn tam ca đi rèn luyện, một nhịp của người phụ nữ hai mươi lăm tuổi vừa đặt xong ván cờ đầu tiên trong cuộc chiến giữ mạng người mình yêu.

Ván cờ đã đặt. Quân đã đi.

Giờ chỉ còn chờ tin từ biên ải.