Hoài Cổ Truyện

Ta Xuyên Thành Muội Muội Út Của Hầu Phủ

Chương 13: Trên Đường Biên Ải

Hành lang sau thư phòng cha còn vương mùi mực chưa khô. Tiểu Đường bước rất nhanh, hai chỏm tóc buộc cao rung theo nhịp chân, ống tay áo bông lụa tím nhạt quẹt vào cột gỗ lim lạnh ngắt. Trong lòng nàng, hai mươi lăm tuổi kiếp trước và tám tuổi kiếp này đang đứng dàn hàng, cùng nhìn về một phía: chái đông, nơi mẹ đang ngồi thêu bên ô cửa sổ nhìn ra vườn lê.

Mẹ Tống thị hôm nay mặc áo lụa xanh chàm nhạt, tay cầm khung thêu nhỏ. Trên khung là nửa cành trúc chưa xanh trọn, mấy lá còn chờ sợi tơ mới. Mẹ nghe tiếng chân con gái, ngẩng đầu, nhíu mày.

“Đường Đường, sao mắt đỏ thế?”

Nàng bước vào, không đi vòng, quỳ thẳng xuống bên gối mẹ. Vòng hai tay ôm lấy đầu gối mẹ, muội gục má vào áo lụa xanh chàm. Hơi lụa hơi lạnh, có mùi hoa mộc phơi trong tủ mấy tuần. Muội hít một hơi thật sâu.

“Mẹ ơi…”

“Ừ, mẹ đây.”

“Muội xin mẹ một chuyện.”

Mẹ đặt khung thêu xuống bàn con, tay đặt lên đầu con gái, ngón tay vuốt từ chỏm tóc xuống lưng gáy. Ta cảm nhận rõ từng đốt bàn tay mẹ đi qua. Kiếp trước ta không có mẹ. Kiếp này ta có. Chỉ từ ngón tay mẹ, ta biết mẹ đang lo, đang chờ ta nói xong mới đáp.

“Con nói.”

“Tam ca có chuyện, mẹ. Muội biết chắc. Cha cũng biết. Nhưng cha không cho muội đi tìm.”

Mẹ im. Bàn tay trên gáy con gái vẫn vuốt đều, không dừng, không nặng thêm.

“Con biết chắc từ đâu?”

“Muội mơ. Muội thấy tam ca nằm trong lều, người xanh, cơm có vị lạ. Muội… còn thấy trong lòng.”

Mẹ đưa tay dưới cằm con gái, nâng đầu nàng lên, hai mắt nhìn thẳng vào mắt nàng. Ta thấy hai đồng tử mẹ đen như hai giọt mực, không dao động, không chớp. Mẹ Tống thị xuất thân danh môn văn phái, chưa từng dựa vào linh cảm để quyết chuyện, nhưng mẹ chưa bao giờ bỏ qua điều con gái nói bằng ánh mắt như thế này.

“Cha nói với con thế nào?”

“Cha nói muội tám tuổi, đường biên ải hai ngàn dặm, cha không mạo hiểm muội. Cha đi một mình.”

“Cha đi một mình thì…”

“Cha đi không kịp, mẹ. Muội biết cách cứu.”

Mẹ im lâu. Ngoài cửa sổ, một con chim khách đậu trên cành lê muộn, gõ mỏ ba tiếng vào gỗ khô. Trong phòng chỉ có tiếng khung thêu cựa lay theo gió, cùng tiếng thở khe khẽ của hai mẹ con.

Cuối cùng mẹ đứng dậy. Áo lụa xanh chàm rơi thành mấy nếp mềm. Mẹ dắt tay con gái út, đi thẳng ra ngoài. Muội bước theo, hai chân bé phải bước hai nhịp mới bằng một nhịp của mẹ.

“Đi đâu mẹ?”

“Đi thư phòng cha.”

Đến trước rèm thư phòng, mẹ dừng một giây, chỉnh lại tay áo. Rồi mẹ đẩy rèm bằng bàn tay còn nắm chặt tay con gái. Cha đang đứng trước bàn, tay còn cầm cuốn địa đồ biên ải, mặt xám lạnh. Ông thấy hai mẹ con vào, thoáng sững, rồi buông cuốn địa đồ xuống bàn.

“Phu nhân.”

“Định Bắc hầu.” Mẹ gọi cha bằng tước hiệu. Ba năm gần đây mẹ chỉ gọi cha bằng tước hiệu khi có chuyện lớn, còn ngày thường mẹ chỉ “chàng”. Cha nghe hai chữ ấy, thẳng lưng lên. “Con gái vừa nói với thiếp một chuyện. Chàng đã quyết đi biên ải một mình?”

“Ta đi. Đường xa, tình cảnh không rõ. Không đem con bé.”

“Con bé nói con bé biết cách cứu.”

“Nó tám tuổi, phu nhân.” Cha thở ra một hơi dài. “Ta biết con bé chúng ta khác thường, ta biết bốn năm nay nó lớn nhanh hơn tuổi. Nhưng đường biên ải không phải chỗ cho một đứa bé tám tuổi thử tài.”

Mẹ im hai nhịp thở. Rồi mẹ hạ giọng, chậm.

“Chàng, thiếp không biết y thuật. Chàng cũng không biết y thuật. Trong nhà này không ai biết y thuật ngoài thầy Lý ở phố Đông, mà thầy Lý còn giữ mẹ già ở đấy không rời. Nếu Cố Nghiệt trúng độc thật, chàng đến kịp mà không có người biết cứu, chàng sẽ làm gì?”

Cha im. Ông không đáp được câu ấy. Muội đứng bên gối mẹ, nắm chặt vạt áo mẹ, không nói. Ta biết mẹ đang chọn đúng câu để mở lối cho ta.

“Thiếp cũng không muốn con đi. Thiếp nhìn con còn nhỏ, thiếp còn xót hơn chàng.” Mẹ tiếp. “Nhưng nếu con biết cách, mà không cho con đi, để Cố Nghiệt nằm đấy chờ chết, thiếp sợ cả nhà chúng ta sau này nhìn nhau mà không dám nhìn. Chàng đi, đem con theo. Đem cả Bích Đào. Đem quân hộ vệ tinh nhuệ nhất. Đi đường vòng qua trạm dịch Thanh Xuyên tránh Bắc Địch. Chàng nghĩ được đường ấy chứ?”

Cha nhìn mẹ. Nhìn thật lâu. Rồi ông nhìn xuống con gái út đang đứng dưới bàn mình. Muội ngẩng lên, hai mắt thâm vì đêm qua không ngủ, hai chỏm tóc lệch nhau vì mẹ chưa kịp chải, môi mím thẳng như cụ già.

Cha thở ra thật dài. Ông cúi xuống, hai tay đặt lên vai nhỏ của nàng.

“Đường Đường.”

“Cha.”

“Con nghe cha. Ra ngoài, cha đi thì con phải nghe từng lời cha nói. Không tự tiện chạy. Không tự tiện ra khỏi tầm mắt cha nửa bước. Không tự tiện mở miệng khi cha đang nói chuyện với người lạ. Đến quân doanh, con ở trong lều, không ra ngoài lều nếu chưa có cha đi kèm. Con làm được không?”

“Muội làm được.”

“Nếu tam ca không cứu được…” Ông ngừng một giây, giọng khô đi. “Con phải chịu được cảnh ấy.”

Ta nhìn cha. Bên trong ta là một người hai mươi lăm tuổi từng đọc plot gốc năm dòng. Bên ngoài là một đứa bé tám tuổi lần đầu đi biên ải. Ta biết mình có lẽ sẽ cứu được. Nhưng nếu không cứu được, ta cũng biết phải chịu. Ta gật đầu.

“Muội chịu được.”

Cha đứng thẳng lên. Ông quay sang mẹ.

“Ta đi trong hai canh giờ. Phu nhân sắp cho con đủ áo bông, một cuộn khăn dày, một hộp thuốc thông thường. Bích Đào theo hầu. Ta đem theo mười hộ vệ. Đi đường Thanh Xuyên. Năm ngày ngựa. Về là mười ngày.”

“Vâng.”

Mẹ đáp một tiếng, bình tĩnh như thể vừa dặn nha hoàn ra chợ. Nhưng ta thấy tay mẹ nắm khung áo bên hông run một nhịp. Rồi mẹ quay đi, dắt ta ra khỏi thư phòng, đi thẳng về chái đông. Ra khỏi rèm, ra khỏi tầm nghe của cha, mẹ mới cúi xuống, ôm ta vào lòng thật chặt. Không khóc. Chỉ ôm. Cái ôm ấy như một chiếc chăn bông vừa mới phơi xong, mềm và ấm, mà cũng nặng.

“Đường Đường.”

“Mẹ.”

“Con sang bên ấy, thấy tam ca thì cứu tam ca. Xong rồi thì cho mẹ một câu: ‘Muội và tam ca đều còn nguyên vẹn.’ Chỉ cần một câu ấy. Rõ chưa?”

“Muội rõ, mẹ.”

Mẹ hôn lên đỉnh đầu nàng. Chỉ một nụ. Rồi mẹ đặt nàng xuống, quay đi lo hành lý, ống tay áo xanh chàm phất một cái, cả bờ vai mẹ vững lại.

Hai canh giờ sau, ngoài cổng phủ đã có mười hai con ngựa. Cha ngồi trên con ô truy đen tuyền, áo giáp mỏng bên ngoài áo bào. Tiểu Đường được cha bồng lên, đặt trước bụng cha trên yên. Bích Đào ngồi trong xe ngựa kéo phía sau, cạnh hai rương thức ăn khô, một rương thuốc, một rương chăn bông. Đại ca Cố Trẫm và nhị ca Cố Nghê đứng bên mẹ ở bậc thềm. Cố Nghê hôm nay không cãi, không nghịch, chỉ đứng thẳng, hai tay khoanh trước ngực, môi mím lại, mắt không rời cha và muội.

Cha giật cương. Đoàn ngựa lăn bánh ra khỏi cổng phủ. Tiểu Đường quay đầu lại nhìn. Mẹ đứng giữa hai anh, tay giơ lên, không vẫy, chỉ mở lòng bàn tay. Ta biết mẹ đang muốn ta thấy bàn tay ấy. Ta cũng giơ tay bé, mở lòng bàn tay ra, đáp lại mẹ.

Đường biên ải năm ngày ngựa, tính từ Biện Kinh đi lên phía bắc theo lối Thanh Xuyên, băng qua ba con sông, hai dãy đèo, một cánh rừng phong đầu hạ đã héo lá.

Ngày thứ nhất, đoàn đi từ bình minh đến hoàng hôn không nghỉ trưa. Cha bồng nàng trên yên, một tay cầm cương, một tay vòng qua bụng nàng cho nàng khỏi ngã. Ta ngồi tựa lưng vào ngực cha, nghe tim cha đập qua lớp áo giáp. Nhịp tim cha nhanh. Ta biết cha đang lo. Nhưng cha không nói. Cha chỉ hỏi ta mỗi canh giờ một lần: “Đường Đường mỏi không?” Ta đáp: “Không cha.”

Đến hoàng hôn, đoàn nghỉ ở trạm dịch nhỏ giữa đường. Bích Đào đun nước ấm, pha chè đường phèn. Ta uống hai chén, ăn nửa cái bánh khô, rồi ngủ. Ngủ trong lòng cha, cha ngồi tựa cột, không dám nằm sợ đè lên ta.

Ngày thứ hai, mưa. Không phải mưa lớn, chỉ là mưa bụi thu về sớm, li ti bay ngang mặt. Ta trùm chiếc áo tơi Bích Đào đưa, ngồi im. Cha bảo: “Đường Đường buồn ngủ thì ngủ trong lòng cha. Cha giữ.” Ta gật. Ngủ chập chờn. Có lúc mở mắt thấy cha nghiêng đầu che mưa cho ta, chiếc mũ giáp của cha nước rỏ ròng ròng xuống áo bào, còn ta khô ráo cả một khoảng ngực áo. Nội tâm hai mươi lăm tuổi ta thầm nghĩ: kiếp trước ta không có cha. Bây giờ ta có. Chỉ mấy ngày cưỡi ngựa dưới mưa cùng cha thế này cũng đủ ta ghi nhớ cả đời.

Ngày thứ ba, mưa tạnh. Đoàn đi qua đèo Cát Xuyên. Đá tai mèo nhọn hai bên đường, dưới vực có suối chảy tiếng ầm ầm. Cha căng thẳng nhất ngày này, không nói câu nào. Bích Đào trong xe ngựa cũng im. Chỉ có tiếng vó ngựa gõ lên đá và tiếng suối vọng lên. Ta ngồi ngoan như một chú mèo con trong lòng cha, không nhõng nhẽo, không đòi. Nội tâm ta biết đây là quãng nguy hiểm nhất. Ta thầm nhắc mình: đừng làm cha phân tâm.

Trưa ngày thứ ba, đoàn qua đèo an toàn. Cha thở phào. Ông cúi xuống, đặt một nụ nhẹ lên đỉnh đầu ta.

“Đường Đường ngoan. Cha thương.”

Ta ngước lên, cười một cái. Đúng cái cười của đứa bé tám tuổi, không phải cái cười hai mươi lăm tuổi. Ta chọn cười như thế để cha đỡ lo. Người xưa vẫn nói trong hoạ có phúc, mà cái phúc lớn nhất của muội mấy ngày này là được ngồi trong lòng cha, được cha ôm, được cha bồng, được cha hôn đỉnh đầu như hôm nay.

Ngày thứ tư, đoàn đến trạm dịch cuối cùng trước quân doanh. Từ đây đi thêm một ngày rưỡi là đến. Ở trạm dịch, cha gọi trưởng trạm hỏi tin. Trưởng trạm cúi đầu, giọng lí nhí.

“Bẩm hầu gia, quân doanh phía bắc mấy hôm nay đưa thư về khẩn cấp. Trịnh công tử… nghe nói bệnh nặng, thuốc thang không đỡ.”

Cha nghe câu ấy, không đổi mặt. Nhưng ta thấy bàn tay cha đặt trên đùi run một nhịp. Ta nắm tay cha, không nói. Cha nắm lại tay ta. Bàn tay to của cha bọc lấy bàn tay nhỏ của ta, ấm và chắc, như bàn tay của một người vừa mới nhớ ra mình còn một chỗ để bám víu.

Ngày thứ năm, trời còn chưa rạng, cha đã lên yên. Ta ngồi trước bụng cha như mọi hôm, nhưng lần này cha không hỏi “mỏi không”. Cha đi thật nhanh. Ngựa phi nước đại từng chặng, dừng lại thay ngựa ở hai trạm, rồi lại phi. Bích Đào trong xe ngựa phải bám chặt hai bên thành xe, mặt tái. Đến giờ Thân, khi mặt trời đã ngả về đầu ngọn cây, đoàn nhìn thấy tường thành gỗ của quân doanh phía bắc hiện ra trên đường chân trời.

Ta chưa từng thấy quân doanh. Trong sách kiếp trước ta chỉ đọc mấy dòng tả. Bây giờ tận mắt: một khoảng đất bằng phẳng dài mấy dặm, hàng rào gỗ cao ba trượng, cắm cờ đỏ trên các chòi canh. Lính gác ngoài cổng, thấy cha, cúi chào một tràng. Cửa quân doanh mở.

Cha bồng ta xuống ngựa, không đợi ta xoa chân tê. Bích Đào chạy theo. Một tướng quân mặc giáp bạc chạy ra, chắp tay.

“Hầu gia, mời theo tôi. Trịnh công tử đã hôn mê từ đêm qua.”

Cha bồng ta trên tay, đi rất nhanh, xuyên qua ba dãy lều. Lều tam ca ở cuối cùng, khuất sau một hàng cọc gỗ. Vải lều dày, sẫm màu, cửa lều rủ xuống. Bên ngoài có hai lính canh, mặt xám. Thấy hầu gia đến, quỳ xuống.

“Bẩm hầu gia.”

Cha đẩy rèm lều. Ta được cha bồng vào.

Bên trong lều, ánh sáng lờ mờ. Một chiếc giường gỗ đơn, một chậu than nhỏ đã tàn, một bàn thấp đặt chén thuốc chưa uống hết. Trên giường, dưới chăn mỏng, là một hình người dài. Cố Nghiệt.

Cha đặt ta xuống đất. Ông bước tới, hai chân bước không đều. Ông quỳ xuống bên giường, hai tay run run vén chăn.

Ta đứng ở cửa lều một giây. Ta hít một hơi thật sâu, cố dằn lại cảm xúc.

Rồi ta bước tới, đứng bên cha.

Cố Nghiệt nằm ngửa. Da mặt xanh nhợt như giấy hoa tiên phơi nắng quá lâu. Môi khô, có vết nứt máu đọng. Mí mắt khép, nhưng dưới mí đang giật nhẹ. Ta nhìn kỹ. Ta nhìn thật kỹ. Ta xoay mặt hắn về phía ánh sáng, tay bé đặt lên trán hắn. Nóng. Nóng như hòn than trong chậu. Ta xem cổ tay hắn, đặt hai ngón tay tìm mạch. Mạch chậm, yếu, không đều. Ta vén nhẹ mí mắt trên hắn. Mống mắt co hẹp lại còn bằng hạt đậu.

Ta ngồi thẳng dậy. Trong lòng ta chín phần đã chắc.

Ngộ độc thạch tín. Không sai.

Cha ngồi bên giường, hai tay ôm mặt Cố Nghiệt, nước mắt lăn trên gò má cứng của ông. Cả đời cha ra trận chưa từng khóc trước ai. Bây giờ cha khóc trước một đứa con nuôi ba năm. Ta nội tâm hai mươi lăm tuổi nghẹn cả một khúc dài. Không phải giả. Là thật.

Nhưng ta không cho phép mình khóc. Ta bước ra cửa lều, giọng nhỏ mà rành rọt.

“Bích Đào tỷ.”

“Tiểu thư.”

“Đem hộp thuốc con để trong túi vải đỏ ra đây. Túi ở đáy rương thứ ba. Rồi bảo quân y đun ba nồi nước ấm, không sôi, chỉ ấm đến khi tay cầm được. Đem thêm ba cây nến trầm hương lớn trong rương gỗ mun, chân đế bằng đồng. Muội cần ánh sáng vàng và ổn định để nhìn triệu chứng trong đêm.”

Bích Đào chớp mắt một cái. Ta biết ngôn ngữ ta vừa dùng không phải ngôn ngữ của đứa bé tám tuổi. Nhưng Bích Đào không hỏi. Nàng chạy đi. Cha ngồi bên giường vẫn ôm mặt Cố Nghiệt, không quay đầu.

Một khắc sau, ba cây nến trầm hương lớn được thắp lên, cắm trên ba chân đế đồng đặt ba góc lều. Ánh vàng ấm phủ khắp không gian, mùi trầm nhẹ toả ra bọc lấy mũi ta, trấn xuống mùi thuốc đắng và mùi mồ hôi bệnh. Trong ánh vàng ấy, khuôn mặt Cố Nghiệt hiện rõ từng đường: sống mũi cao, quai hàm nhọn, đường lông mày sắc như vẽ. Nhưng hai bên má lõm xuống nhiều hơn ta nhớ, quầng thâm quanh mắt đen như mực loãng. Hắn đã sốt bao nhiêu đêm rồi ta không biết. Nhưng ta biết ta còn kịp.

Nến thơm 'Đen Trầm Tính' — Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm

Nến thơm 'Đen Trầm Tính' — Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm

179.000đ

Xem chi tiết →

Cha ngẩng đầu, ánh mắt qua lớp nước còn đọng.

“Đường Đường… con nói cứu được?”

“Muội nói được, cha.”

Nàng bước tới cạnh cha, đưa cho ông túi vải đỏ Bích Đào vừa đem tới. Trong túi có ba gói giấy. Gói bột trắng: lưu huỳnh nghiền mịn. Gói bột đen: than hoạt tán từ vỏ dừa nướng nàng làm ở nhà hai tháng trước, đem theo phòng thân. Gói viên nhỏ: đường phèn nàng nghiền sẵn để hoà. Nàng nói từ tốn, giọng nhỏ nhưng đủ nghe.

“Cha, thạch tín là kim loại kỵ lưu huỳnh. Lưu huỳnh vào ruột, gặp thạch tín, kết thành cặn, không thấm vào máu nữa. Than hoạt hút cặn ra ngoài theo đường tiêu. Đường phèn để dễ uống và giữ sức. Tỉ lệ ba thìa than, một thìa lưu huỳnh, hai viên đường, hoà nửa chén nước ấm. Mỗi canh giờ một chén. Chín canh giờ liên tiếp. Sau đó, mỗi hai canh giờ một chén, thêm hai ngày. Nếu qua đêm nay không nôn ra máu tươi và nhịp mạch ổn lại được sáu mươi cái một khắc, muội tin tam ca qua khỏi.”

Cha nhìn nàng. Cha không hỏi nàng học được ở đâu. Cha không hỏi nàng tám tuổi sao biết. Cha chỉ nhận túi vải đỏ từ tay nàng, tay ông run một cái, rồi vững lại.

“Con chỉ cha pha.”

“Vâng cha.”

Trong lều, ba cây nến trầm hương cháy đều. Bích Đào bưng nồi nước ấm vào, đặt lên bàn thấp. Ta trèo lên ghế đẩu, hai chân bé tòn ten không chạm đất, tay bé chỉ vừa tới miệng chén. Ta múc ba thìa than hoạt, một thìa lưu huỳnh, hai viên đường phèn. Ta rót nước ấm vào chén. Ta khuấy bằng chiếc thìa gỗ nhỏ. Chén thuốc trở màu đen sánh, mùi lưu huỳnh hăng lên, nhưng bị mùi trầm hương bọc lại, dịu đi.

Cha bồng Cố Nghiệt lên, đặt hắn tựa vào vai mình. Đầu hắn ngoẹo trên cổ áo cha. Ta đưa chén thuốc cho cha. Cha đặt chén lên môi Cố Nghiệt. Môi hắn nứt, thuốc chảy vào, một phần chảy ra khoé. Cha kiên nhẫn đút từng ngụm. Nửa chén cuối cùng cũng vào được hết trong bụng hắn.

Ta ngồi bên giường, một tay đặt trên cổ tay hắn, đếm mạch. Cha không rời hắn nửa bước.

Ngoài lều, mặt trời đã lặn. Đêm biên ải xuống rất nhanh, gió lạnh luồn qua khe lều. Nhưng ba cây nến trầm hương vẫn cháy đều, ánh vàng ấm không dao động, mùi trầm bao lấy cả không gian như một tấm chăn bông vô hình. Ta nhìn nhịp mạch Cố Nghiệt qua đầu ngón tay bé của mình. Từ bốn mươi cái một khắc, sau canh giờ đầu, tăng lên bốn mươi ba. Sau canh giờ thứ hai, bốn mươi sáu. Vẫn còn xa sáu mươi. Nhưng đang lên.

Ta thở ra một hơi thật nhẹ. Nội tâm hai mươi lăm tuổi ta thầm khấn. Trịnh Cố Nghiệt, huynh nghe không? Muội đến rồi. Muội đến đúng lúc. Trời không phụ người có lòng. Huynh cầm cự đến sáng, sáng rồi thêm một đêm, đêm rồi thêm một sáng, huynh sẽ về nhà với muội. Muội đã hứa với mẹ chỉ một câu: “Muội và tam ca đều còn nguyên vẹn.” Muội phải mang được câu ấy về Biện Kinh.

Cha ngồi dựa lưng vào cột lều, một tay vẫn ôm đầu Cố Nghiệt. Ông nhìn con gái út mình đang trèo trên ghế đẩu, hai chỏm tóc lệch nhau vì suốt năm ngày đường không kịp chải, hai mắt thâm, môi mím. Ông không nói gì. Nhưng ta biết cha đang nhìn ta khác. Ta biết ta vừa tự tay khép lại vĩnh viễn cái vỏ “đứa bé tám tuổi ngu ngơ” mà bốn năm nay ta cố giữ. Ta hơi tiếc. Nhưng ta không tiếc bằng cái mạng của tam ca ta.

Đến canh giờ thứ ba, chén thuốc thứ ba đã vào. Nhịp mạch lên bốn mươi chín. Cố Nghiệt trong cơn mê phát ra một tiếng rên nhỏ, đầu tiên trong ngày. Ta ghé sát tai vào môi hắn. Ta nghe.

Hắn thì thầm, không thành tiếng, chỉ hai hơi thở gọi:

“Đường… Đường…”

Ta cắn môi một cái để không khóc. Ta đặt bàn tay bé lên trán hắn.

“Muội ở đây, tam ca.”

Ngoài kia, gió biên ải quét qua vải lều, ba cây nến trầm hương lay nhẹ nhưng không tắt. Đêm đầu tiên trong lều tam ca vừa mới bắt đầu.