Hoài Cổ Truyện

Ta Xuyên Thành Muội Muội Út Của Hầu Phủ

Chương 23: Tráp Gia Phả Mở

Sáng ngày thứ ba sau yến hội mùa hè, hoa lê trước hầu phủ đã rụng gần hết đợt cuối, chỉ còn vài cánh khô nằm nép bên chân cột đá, ánh nắng đầu thu chưa đủ nóng, đủ để trải một lớp vàng nhạt lên mái ngói cổ.

Cố Tiểu Đường ngồi trong đình nhỏ ở góc đông vườn, tay cầm chén trà sen mẹ pha, ngón út bé bé chấm nhẹ mép chén sứ trắng, mắt vẫn còn hơi lơ đãng vì đêm qua ngủ chưa đẫy giấc. Muội mười lăm tuổi rồi, chân tay không còn ngắn tủn như hồi tám tuổi, tóc buộc cao đơn giản, chỉ cài một chiếc trâm bạc nhỏ hình cánh mai, thân áo lụa xanh nhạt tay hẹp, cả người muội bây giờ giống một cành trúc mới lên đọt.

Bích Đào đi tới, cúi người thấp.

“Tiểu thư, cụ hầu cho gọi. Cụ đang đợi trong thư phòng lớn.”

“Cha gọi muội á?”

“Cụ đang mở tráp gia phả.”

Câu ấy khiến Tiểu Đường ngồi thẳng dậy trong đình. Chén trà sen trong tay muội chao một chút. Nội tâm 25 tuổi của ta bên trong khẽ nín thở. Tráp gia phả. Cả hầu phủ có một tráp gia phả duy nhất, đặt trong lòng bàn thư phòng của cha, khoá bằng ba lớp chốt đồng cổ, chỉ mở khi có việc lớn: khi đại ca hạch tú tài, khi nhị ca nhận đao cha ban, khi mẹ vào ngày huý mẹ đẻ ta thắp hương. Ta nhớ trong bốn năm trở lại đây, tráp gia phả mở đúng bốn lần. Hôm nay là lần thứ năm. Và ta là người được gọi vào.

“Bích Đào tỷ đi cùng muội một đoạn.”

“Vâng.”

Muội đứng dậy, phủi vạt áo, bước từng bước từ đình nhỏ ra thư phòng lớn. Đường đi qua hai khoảng sân, một hàng lang có mái, bên trái là dãy tường vôi trắng đã ố nhẹ theo mưa mấy mùa. Trong đầu ta chạy nhanh vài lượt. Cha gọi mở tráp gia phả cho ta. Không phải hạch tú tài, không phải nhận đao, không phải ngày huý. Chỉ có thể là chuyện thứ tư: chuẩn bị lễ nghi cưới của con gái.

Ta giật mình. Không phải sốc kiểu ngã người ra sau, mà sốc kiểu bình tĩnh đảo lại các mảnh ghép trong đầu. Ta mới mười lăm tuổi. Ở Đại Cẩn, con gái mười lăm tuổi mới bắt đầu cài trâm, hai năm nữa mới đến tuổi luận hôn. Vậy cha gọi mở tráp gia phả hôm nay không phải để bàn nhà chồng, mà là để làm một chuyện khác. Chuyện gì?

Muội đẩy cửa thư phòng.

Cha ngồi giữa gian, một tay đặt trên nắp tráp gỗ tử đàn đen, cạnh tráp là một chậu than nhỏ đang cháy khẽ, khói trầm vờn lên, mùi gỗ già ấm và có hậu ngọt. Cha ngẩng lên thấy con gái vào, hai mắt hơi ngân nước, khoé môi cong.

“Đường Đường. Vào đây với cha.”

“Cha ơi.”

Muội chạy nhanh mấy bước, ngồi xuống chiếc ghế thấp cha đã kê sẵn cạnh bàn. Ghế thấp là loại ghế con gái út xưa nay vẫn ngồi khi vào thư phòng cha, không đổi mấy năm nay. Ta ngồi xuống, hai bàn tay đặt lên đầu gối, ngoan như một con mèo con vừa tỉnh giấc bên bếp lò.

“Cha gọi muội mở tráp gia phả á?”

“Ừ.”

Cha đưa tay vuốt nhẹ nắp tráp gỗ đen. Bàn tay cha to, gân xanh nổi rõ, ngón cái có một vết chai cũ từ thời còn cầm đao ở biên ải. Vết chai ấy hai mươi năm không mờ. Cha nhìn vết chai của mình, rồi nhìn con gái út, giọng cha nhẹ như hơi trầm trong lò.

“Đường Đường mười lăm rồi. Cha thấy con gái út của cha lớn thật rồi.”

“Cha thổi phồng muội. Muội còn bé xíu.”

“Bé cái gì. Con còn bé thì cả hầu phủ này còn bé. Yến hội hôm nọ, con đứng cạnh mẹ, cha đứng phía xa nhìn, có cảm giác con đã ra dáng của một tiểu thư nhà tướng. Không nhõng nhẽo nữa. Không nhõng nhẽo… cha lại tiếc.”

Ta bên trong bụm miệng cười thầm. Cha à cha, cha muốn con gái út của cha nhõng nhẽo cả đời phải không. Ta nhõng nhẽo được, không có gì khó. Ta là dân bàn phím kiếp trước, đóng vai lâu năm, hôm nay muốn nhõng nhẽo cỡ nào cũng ra.

Muội trề môi, nghiêng đầu, giọng kéo dài.

“Cha ơi. Muội vẫn nhõng nhẽo nè. Muội chỉ nhõng nhẽo với cha thôi. Người ngoài nhìn muội ra dáng, cha đừng có tin.”

Cha bật cười, tay xoa đầu muội. Xoa nhẹ, sợ làm rối kiểu tóc buộc cao của con gái.

“Rồi rồi. Con vẫn là con gái út của cha. Nhõng nhẽo tới bao nhiêu tuổi cũng được.”

Rồi cha thu bàn tay lại. Cha nhìn tráp gia phả một lúc, không nói. Muội ngồi bên cạnh, cũng không giục. Ta biết cha đang chuẩn bị nói một chuyện quan trọng. Trong hầu phủ này, cha là người ít khi mở lời trước, và mỗi lần mở lời trước, luôn có một chuyện đáng để nhớ.

Cha đưa cả hai tay đặt lên nắp tráp. Cha xoay ba chiếc chốt đồng theo ba chiều khác nhau. Chốt thứ nhất xoay trái nửa vòng. Chốt thứ hai xoay phải một vòng ba phần tư. Chốt thứ ba xoay trái hai vòng đầy. Ta ngồi cạnh, mắt ta không rời ba lần xoay ấy. Ta ghi vào đầu. Trái nửa vòng, phải một vòng ba phần tư, trái hai vòng. Ta không biết mình sẽ dùng vào việc gì, nhưng ta ghi vào.

Tách. Tách. Tách.

Ba tiếng nhẹ. Tráp mở.

Bên trong, lót một lớp gấm đỏ đã ngả sang màu đỏ trầm theo tháng năm. Trên lớp gấm ấy, có ba thứ. Một cuốn gia phả bìa đen, chữ vàng đã hơi nhạt. Một chuỗi hạt bồ đề bảy tám mươi năm tuổi, đeo cổ tay cha nội hồi còn sống. Và ở giữa, đặt trong một chiếc túi lụa vàng nhỏ, một mảnh gì đó có hình dáng tròn dài, vừa lòng bàn tay.

Cha đưa tay lấy chiếc túi lụa vàng. Cởi dây buộc. Đổ nhẹ vật bên trong ra giữa lòng bàn tay to đầy vết chai.

Đó là một mảnh ngọc bội.

Ngọc bội thắt lưng hán phục — phong cách cổ điển

Ngọc bội thắt lưng hán phục — phong cách cổ điển

237.826đ

Xem chi tiết →

Ta nhìn. Ta bên trong lặng đi. Bên ngoài, muội mười lăm tuổi cũng ngồi ngây, hai bàn tay khép trên đầu gối, không thò ra sờ. Mảnh ngọc trong tay cha có hoa văn quen thuộc, quen thuộc đến mức muội có thể nhắm mắt tả không sai một nét. Cánh phượng nửa xoè bên phải. Nửa còn lại của mảnh muội đeo trong áo suốt chín năm nay. Mảnh muội và mảnh này gộp lại, sẽ thành một con phượng đủ đôi cánh xoè, giữa lưng phượng có một chữ Cố khắc chìm.

Cha đặt mảnh ngọc lên lòng bàn tay, đưa qua cho muội xem. Không đưa hẳn, chỉ để muội nhìn.

“Con nhớ mảnh cha đưa con hồi con sáu tuổi không?”

“Muội nhớ. Muội vẫn đeo trong áo.”

“Đây là mảnh còn lại. Cả cặp là ngọc bội gia truyền của Cố phủ. Từ thời cụ cố nội cha, tính lại thì đã bốn đời rồi. Mỗi đời, một mảnh trao cho con gái út lúc sáu tuổi, một mảnh giữ trong tráp gia phả. Đến khi con gái út lấy chồng, tráp mở, cha trao mảnh trong tráp cho người chồng. Hai mảnh gộp làm sính lễ về nhà chồng. Là dấu ấn của Cố phủ.”

Cha dừng lại. Cha ngước lên nhìn con gái, ánh mắt cha vừa vui vừa buồn, kiểu vui buồn của người sắp sửa gả đi một đứa con gái mình bồng từ hồi còn đỏ hỏn.

“Cha chưa vội trao. Con còn hai năm nữa mới đến tuổi luận hôn. Nhưng cha muốn cho con nhìn mảnh này một lần, để con biết trong tráp gia phả có gì. Sau này con lấy chồng, cha đưa mảnh này ra, con không lạ.”

Muội nhìn mảnh ngọc trong tay cha, mắt hơi cong. Ta bên trong lặng một chút, rồi thầm cong khoé môi. Cha à cha, cha thông báo đi thông báo lại cho muội biết chuyện “cha đưa mảnh này ra khi con lấy chồng”, cha đang nói với muội về sính lễ nhưng cha đâu có nhắc tên chàng rể tương lai. Chàng rể ấy trong đầu cha là ai vậy, cha nói cho muội biết coi. Ta không cần đoán. Ta biết. Nhị ca có lần đùa với đại ca là cha đã ưng tam ca từ lâu. Kể ra, cha ưng lâu hơn cả muội. Bây giờ cha nhắc “sính lễ” trước mặt muội, không nhắc tên, mà mắt cha thì hơi ngân. Cha đang chuẩn bị trong lòng.

“Cha ơi. Muội sờ được không?”

“Được.”

Cha đặt mảnh ngọc lên lòng bàn tay muội. Mảnh ngọc mát lạnh, trọng lượng vừa vặn, ngón tay muội chạm vào cạnh khắc, cảm được từng nét hoa văn. Ta bên trong lật mảnh, kín đáo nhìn mặt trong. Mặt trong không có ba chấm mực. Đúng như dự đoán. Ba chấm mực chỉ có ở mảnh của muội, khắc lén hồi sáu tuổi, để phân biệt với mảnh giả nếu có ai tráo. Mảnh trong tráp gia phả này chưa ai đụng vào chín năm rồi, mặt trong sạch trơn, không dấu hiệu.

Ta nhẹ nhàng để mảnh ngọc lại vào tay cha. Muội cong khoé môi.

“Ngọc đẹp cha ơi. Muội đợi đến ngày cha đưa cho… người ta. Ngày ấy chắc muội khóc lắm.”

Cha đỏ mắt, giả bộ ho.

“Bậy nào. Có ngày gả con thì cha khóc trước, tới lượt con còn lâu.”

Ta bên trong cười khì. Cha à, ta biết ta biết. Cha khóc trước ta. Nhưng cha đừng để ai nghe cha nói câu đấy nhé, nhị ca mà nghe được là nhị ca ghẹo cha ba tháng không hết.

Cha thu mảnh ngọc lại vào túi lụa vàng, buộc dây, đặt vào giữa tráp. Đóng nắp. Xoay ba chiếc chốt theo chiều ngược lại. Trái hai vòng. Phải một vòng ba phần tư. Trái nửa vòng. Tách. Tách. Tách. Ba chốt đồng khoá vào nhau, kín tuyệt đối.

Cha vỗ nắp tráp, giọng chậm.

“Con nhớ. Mảnh này chỉ mở khi cha có mặt, và chỉ mở trong ngày ấy. Không ai được đụng.”

“Vâng ạ.”

Muội gật đầu, ngoan như một chú mèo con ngồi cạnh đĩa sữa còn ấm.

Ngoài cửa thư phòng, khe cửa gỗ hẹp mở ra một khoảng bằng đúng nửa lưng bàn tay. Không ai để ý. Cha không, muội không, Bích Đào lúc ấy đang đứng chờ ở đầu hành lang cách năm bước chân. Chỉ có một người, đang ép sát mình vào cột gỗ ngoài hiên, thở khẽ đến mức không nghe nổi tiếng thở của chính mình.

Lâm Tú Vân.

Nàng đứng ngoài cửa, đầu hơi cúi, tay bấu vào vạt áo tay hẹp. Bốn phút vừa qua, nàng đã nghe toàn bộ. Trong đầu nàng, một cái bản đồ nhỏ đã được kẻ ra rõ ràng.

Ngọc bội gia truyền. Hai mảnh. Một mảnh Tiểu Đường đeo trong áo, chín năm nay. Một mảnh trong tráp gia phả thư phòng cha, khoá ba chốt đồng. Mảnh trong tráp là mảnh gia bảo. Mảnh Tiểu Đường đeo là mảnh trao cho con gái út.

Tú Vân nuốt khan. Trong ba năm sống ở hầu phủ, nàng đã phác nhiều bản kế hoạch, tất cả chung một cái đích: buộc Cố Tiểu Đường mắc tội với hầu phủ, mắc tội nặng đến độ hầu gia đuổi đi. Kế hoạch tráo ngọc bội là kế nàng gạch ra trong đầu từ hôm mẹ Cố Tiểu Đường (Tống thị) lần đầu nhắc “ngọc bội gia truyền” trong bữa cơm hai năm trước. Nhưng suốt hai năm ấy, nàng không biết chính xác mảnh nào là mảnh gia bảo. Bây giờ, nàng biết rồi.

Trong đầu nàng, ba phương án bật ra như ba lá bài rút cùng lúc.

Một, tráo mảnh trong tráp gia phả. Nếu tráo được mảnh gia bảo, đưa mảnh giả vào tráp, giấu mảnh thật, sau vu Tiểu Đường ăn cắp bằng cách “phát hiện” mảnh thật trong đồ dùng riêng của Tiểu Đường. Cách này đẹp nhất, nặng nhất, đủ để hầu gia đuổi con gái út đi vĩnh viễn.

Hai, tráo mảnh Tiểu Đường đeo trong áo. Cách này dễ hơn, vì Tiểu Đường cởi áo tắm hàng ngày, tủ y phục có, hộp trang sức có, không khoá chặt. Nhưng cách này chỉ đủ để Tiểu Đường “làm mất” ngọc bội của mình, chưa đủ để buộc tội. Cần thêm một khâu vu cáo.

Ba, tráo cả hai. Không thực tế. Mất quá nhiều thời gian, quá nhiều rủi ro.

Tú Vân chọn phương án một trong đầu, ngay tại khe cửa. Nếu tráo được mảnh trong tráp, mọi việc gọn. Nàng nhẹ nhàng rút chân, đi lùi ba bước, quay lưng, bước nhanh về phía cửa hông. Bích Đào đứng đầu hành lang không thấy nàng ra.

Buổi trưa hôm ấy, Lâm Tú Vân dùng bữa với Tống thị và Tiểu Đường, cười ngoan, ăn thanh đạm, giọng nói ngọt. Không ai nhìn ra nàng vừa nghe được một chuyện lớn. Muội bên bàn cơm liếc nàng một cái rất nhanh, thấy nàng bình thường, không nghi gì.

Ta bên trong hơi cau. Không phải cau vì nghi ngờ. Cau vì linh cảm. Ta ở hầu phủ với Lâm Tú Vân ba năm, ta biết bà chị nghĩa nữ này cười ngọt nhất khi trong bụng đang có tính toán. Trưa nay bà cười ngọt hơn hôm qua, ta phải cẩn thận thêm.

Đêm rơi xuống chậm. Tiếng ve ngoài vườn im dần theo hơi lạnh đầu thu. Cả hầu phủ đi ngủ theo giờ cũ. Cha vào phòng mẹ như mọi đêm. Đại ca ngủ trong thư phòng riêng, đèn dầu tắt lúc canh hai. Nhị ca ngủ dậy sớm sáng mai luyện đao. Cố Nghiệt tam ca hai tháng nay ở phủ riêng ngoài Đại lý tự, không có mặt trong hầu phủ đêm nay.

Tú Vân đợi đến canh ba.

Nàng khoác áo lụa xám mỏng, chân không mang giày, chỉ đi tất vải mềm để đè xuống gạch không phát tiếng. Nàng bước từ phòng mình ra hành lang phía nam, men theo bóng tường, qua ba lượt tường vôi, đến trước thư phòng lớn. Trên thư phòng, đèn dầu đã tắt. Cửa gỗ đóng, có chốt đồng ngang giữa.

Tú Vân rút trong tay áo một cái chìa nhỏ hình lưỡi bát tự. Chìa này nàng đúc trộm từ hai tháng trước, dựa theo hình dáng chốt đồng ngang mà nàng thấy Bích Đào mở cửa thư phòng khi bưng trà cho hầu gia. Nàng nhét chìa vào lỗ chốt, xoay nhẹ. Chốt bật.

Cửa thư phòng mở ra một khe nhỏ. Nàng lách vào. Đóng cửa lại sau lưng.

Bên trong tối. Nàng không thắp đèn dầu, chỉ dùng một ngọn nến sáp mỏng giấu trong tay áo, thắp lên bằng đá lửa nhỏ. Ánh sáng vàng nhỏ vừa đủ cho nàng thấy mặt bàn.

Tráp gỗ tử đàn đen nằm giữa bàn, im lìm.

Tú Vân đặt nến xuống mép bàn. Nàng ngồi xuống chiếc ghế cha vẫn ngồi ban ngày, hai bàn tay bấu vào mép tráp, thở đều. Ba chốt đồng. Xoay theo chiều nào? Ban chiều Tiểu Đường nhìn từ trong ra, thấy rõ. Tú Vân từ ngoài khe cửa, nhìn nghiêng, chỉ thấy tay cha xoay, không thấy chiều xoay chính xác.

Nàng bắt đầu từ chốt thứ nhất. Xoay trái. Không có tiếng tách. Xoay phải. Không có tiếng tách. Xoay trái nửa vòng nhẹ hơn, chậm hơn. Vẫn không tiếng.

Nàng chuyển sang chốt thứ hai. Xoay phải một vòng. Không có tiếng. Xoay hai vòng. Vẫn không.

Trán nàng đã có mồ hôi mỏng. Nàng lấy khăn tay lụa ra chấm nhẹ.

Trong đầu Tú Vân bây giờ chạy nhanh. Ba chốt đồng, mỗi chốt có thể xoay theo hai chiều, mỗi chiều có bao nhiêu vòng cũng không rõ. Tổ hợp có thể lên tới hàng chục, hàng trăm. Không có cách nào nàng đoán ra chỉ bằng đôi tay run trong đêm.

Nàng thử một cách khác. Nàng dùng chiếc chìa lưỡi bát tự nhét vào khe của một chốt. Chìa không vào vừa. Khe chốt hẹp hơn khe cửa. Nàng thử chìa khác, nhỏ hơn, mang theo dự phòng. Chìa nhỏ vào được nửa, nhưng không thể xoay. Bên trong chốt có cấu tạo rãnh nhỏ, không phải rãnh thẳng, không phải rãnh chéo, mà là rãnh xoáy trôn ốc. Ba chốt, ba loại rãnh xoáy khác nhau. Đây là khoá của một thợ đồng bậc thầy, không phải loại khoá thông thường.

Tú Vân bỗng lạnh.

Nàng nghe nói cha Tiểu Đường có một người bạn cũ ở Bích Vân sơn trại, là thợ đồng ẩn cư, làm khoá cho quan hầu và một số quý tộc thuộc dòng dõi cũ. Có lẽ tráp gia phả này chính là do người ấy làm ra. Loại khoá không mở được bằng chìa vạn năng, chỉ mở được bằng chuỗi chiều xoay đã lập trình sẵn khi rèn.

Nàng đưa tay lên trán, thở dài trong bóng tối. Rồi nàng ngồi thẳng lại, ánh mắt trong bóng nến sắc lên.

Được. Không mở được tráp gia phả. Chuyển sang phương án hai.

Nàng đứng lên, thổi tắt nến, lách ra khỏi thư phòng, khoá chốt cửa từ ngoài. Nàng đi ngược con đường nàng đã đến, không phát tiếng, không để lại dấu chân. Về đến phòng mình, nàng cởi áo lụa xám, thay áo ngủ, ngồi xuống bên bàn trang điểm, cầm khăn lau nhẹ trán.

Trong đầu nàng, bản đồ đã kẻ lại.

Không tráo trong tráp gia phả. Tráo mảnh Tiểu Đường đeo. Mảnh Tiểu Đường không nằm trong tủ khoá, không nằm trong tráp gỗ tử đàn. Mảnh Tiểu Đường nằm trong hộp trang sức trắc kim của nàng, một hộp trắc gỗ khảm trai chỉ khoá bằng chốt gỗ đơn giản, không thợ đồng bậc thầy nào rèn. Chốt gỗ ấy Tú Vân nhìn qua đã biết mở như thế nào.

Nhưng tráo mảnh Tiểu Đường thì chỉ được nửa. Chỉ có thể vu Tiểu Đường “làm mất” ngọc bội. Không đủ để buộc tội “ăn cắp gia bảo”. Muốn buộc tội, cần thêm một khâu: tạo bằng chứng Tiểu Đường “lén giấu” mảnh gia bảo.

Bằng chứng đó, Tú Vân đã có ý. Nàng sẽ nhờ một người thợ ngọc lành nghề đúc lại một mảnh giả giống mảnh trong tráp (theo miêu tả nàng nhớ được từ khe cửa ban chiều, dù không rõ 100 phần trăm), giấu mảnh giả ấy trong đồ đạc riêng của Tiểu Đường, rồi “phát hiện”. Khi hầu gia đối chiếu, sẽ thấy mảnh trong tráp mất, mảnh trong đồ Tiểu Đường có, buộc tội thành công.

Kế hoạch này có một điểm yếu: mảnh giả nàng sẽ đúc, so với mảnh thật trong tráp, có thể không giống 100 phần trăm hoa văn. Nhưng vấn đề đó nàng để sau. Ba tháng nữa, khi thợ ngọc đúc xong, nàng sẽ tính tiếp.

Tú Vân đặt khăn xuống bàn. Trong gương đồng, khuôn mặt nàng mười tám tuổi, mắt to, môi hồng nhạt, kiểu mặt mà cả Biện Kinh gọi là “nhu thục”. Nàng nhếch khoé môi, chỉ một chút, rất nhẹ, đủ để trong gương phản chiếu ra một góc lạnh mà không ai ngoài nàng nhìn thấy.

“Cố Tiểu Đường. Ngươi có mảnh của ngươi, ta có phương án của ta. Cùng lắm ba tháng nữa, ngươi rời khỏi hầu phủ này bằng lối cửa sau.”

Nàng thổi tắt cả ngọn đèn dầu trên bàn trang điểm.

Bên phòng ngủ chính, Tiểu Đường lăn qua lăn lại trong chăn bông. Muội đã ngủ được nửa canh, rồi giật mình tỉnh. Không phải tỉnh vì tiếng động. Là tỉnh vì trong lòng có gì đó nhoi nhói. Ta bên trong ngồi dậy trong đầu muội, mắt mở to nhìn trần phòng in bóng cửa sổ giấy dó.

Có gì đó không đúng.

Ta rà lại. Chiều nay cha mở tráp gia phả, có Bích Đào đứng đầu hành lang, có cha, có ta. Ba người biết. Chưa ai kịp nói ra ngoài. Vậy tại sao ta thấy trong lòng bồn chồn kiểu chuyện quan trọng bị người thứ tư biết?

Ta ngồi ngẫm một lúc. Ta bước ra khỏi chăn, quờ chân xuống guốc gỗ, ra bên hộp trang sức trắc kim khảm trai đặt cạnh bàn phấn. Ta mở nắp bằng tay bé. Mảnh ngọc bội của ta vẫn nằm ngay ngắn trong ngăn nhỏ, lụa đỏ ôm sát, không bị đụng. Ta cầm mảnh lên. Ánh trăng mờ qua giấy dó phủ lên, mảnh ngọc sáng lên một tầng lạnh. Ta lật mặt trong. Ba chấm mực nhỏ vẫn còn, sạch, rõ, đúng chỗ ta khắc chín năm trước.

Chưa ai đụng vào đêm nay. Nhưng linh cảm ta không bao giờ sai.

Ta gói mảnh ngọc trong lụa đỏ, đặt lại vào hộp trang sức, đóng chốt gỗ. Rồi ta nhớ lại lời dặn dò của bản thân từ hồi mười một tuổi, khi ta bắt đầu ước lượng Lâm Tú Vân sắp đến hầu phủ. Ta đã tự dặn: đến khi Vân đến, ta chuẩn bị hai mảnh giả, đủ giống để đánh lừa mắt thường, nhưng không có ba chấm mực. Ta sẽ đặt hai mảnh giả trong hộp trang sức để Vân tráo, còn mảnh thật ta giấu trong quyển sách trên giá cao.

Bốn năm nay ta đã có hai mảnh giả rồi. Đặt trong ngăn nhỏ dưới đáy tủ y phục, không ai biết. Bây giờ là lúc mang ra dùng.

Ta bước sang tủ y phục. Mở ngăn dưới đáy. Bên trong, hai mảnh giả nằm trong lụa vàng, ánh trăng chiếu qua khe cửa sổ đủ để ta thấy hoa văn cánh phượng nửa xoè, giống mảnh thật đến chín phần trăm. Ta nhặt một mảnh giả, đặt vào ngăn nhỏ trong hộp trang sức khảm trai, để đó thay cho mảnh thật. Mảnh thật ta gói vào lụa đỏ, lên lầu, tìm quyển “Trung Dung” bìa đen trên giá sách của cha nội, giấu mảnh giữa quyển sách. Quyển sách này chín năm chưa ai mở. Trên giá còn ba tầng bụi. Cha nội đã mất khi ta xuyên đến. Nội tâm ta hơi rưng.

Ông ơi, cháu mượn giấu ngọc trong sách của ông một thời gian. Cháu sẽ trả lại chỗ cũ sau khi mọi chuyện xong.

Ta xuống nhà, đóng cửa phòng, chui lại vào chăn bông. Chăn bông mẹ đắp mùa xuân, bông cũ mà mới, hơi ấm còn giữ trong lớp lụa. Ta nhắm mắt, thở đều. Linh cảm còn đó, nhưng ta đã chuẩn bị. Cứ để nàng tráo. Trong hộp là mảnh giả không có ba chấm mực. Nàng tráo, nàng ôm về, nàng đắc ý. Chỉ đến ngày đối chứng, ta lôi mảnh thật ra, ba chấm mực đối chiếu, nàng không đường thoát.

Đêm ấy ta ngủ sâu tới sáng. Không mộng. Ngoài cửa sổ, cây lê già đã rụng hết hoa từ tháng ba, giờ chỉ còn lá xanh đậm dần theo hơi thu. Trong hầu phủ, hai người đàn bà trẻ, một mười lăm và một mười tám, cách nhau ba dãy tường, cách nhau chín tuổi khôn ngoan, cùng ngủ, cùng đợi ngày trận đấu ngầm khép lại. Ai gieo gió thì gặt bão, câu ấy tổ tiên đã dạy, và ta bên trong biết ta đang gieo cây gì trong đám ngọc bội này.

Sáng hôm sau, khi Bích Đào đẩy cửa vào phòng, muội đã ngồi dậy chải tóc. Bích Đào ngạc nhiên.

“Tiểu thư dậy sớm thế?”

“Bích Đào tỷ, hôm nay muội muốn mặc áo màu đào nhạt. Với vòng cổ hạt châu đỏ của mẹ đẻ. Cha con muội đi thăm phủ Trấn Quốc Vương một chuyến.”

“Tam công tử… à Trấn Quốc Vương gia có ở phủ không tiểu thư?”

Muội cười, mắt cong hai vệt trăng non.

“Chàng có ở phủ. Muội đã hẹn.”

Bích Đào bật cười, gọi thêm hai nha hoàn vào bới tóc. Ta bên trong đứng ngoài gương đồng, nhìn muội mười lăm tuổi tay áo lụa hồng đào đang được chải tóc, nghĩ thầm. Trước khi trận đấu ngầm với Vân khép lại, ta cần một chuyến sang phủ Trấn Quốc Vương. Không phải để nhõng nhẽo tam ca. Là để bàn với chàng một chuyện: ba tháng tới, Vân sẽ ra tay. Ta cần chàng phối hợp.

Chàng à, muội biết chàng bận triều chính, muội biết chàng đang chuẩn bị nhận sắc phong chính thức. Nhưng muội cần chàng đứng cạnh muội trong chuyện này. Không phải vì muội yếu. Là vì bàn cờ này, muội đã bày chín năm, và bước cuối muội muốn có chàng đứng cùng phía bàn.

Ta đưa tay bé chạm nhẹ vào mảnh ngọc bội cài trong áo lót, chỗ đặt mảnh giả. Mảnh giả không lạnh bằng mảnh thật. Nhưng ai nhìn từ ngoài cũng không phân biệt được.

Nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa. Cả nhà nâng muội chín năm nay. Muội, muội cũng đã học cách nâng lấy cả nhà. Bàn cờ này muội không cho ai lật.