Ta Xuyên Thành Muội Muội Út Của Hầu Phủ
Chương 27: Về Cung
Chiều đầu thu, gió từ hướng bắc luồn qua khe mái ngói cong của hầu phủ, thổi lên tán cây lê già trước sân một cơn xạc xào rất nhẹ, giống như tiếng ai đó thở dài trong bóng chiều còn chưa kịp tắt.
Muội đứng dưới hiên đông, tay vịn cột gỗ sơn son, mắt hướng ra cổng lớn. Nắng chiều còn một sợi mảnh vắt ngang tường vôi trắng, nhuộm nửa cái sân trước thành màu đường phèn hâm nóng. Xe ngựa cha vừa dừng trước cổng, tiếng bánh lăn trên đá xanh phát ra một tràng lộc cộc quen thuộc, quen tới độ chỉ cần nghe cũng biết là xe của Cố hầu, không phải xe của khách.
Bích Đào đứng cạnh muội, hai tay chắp trước bụng, cúi thấp đầu.
Muội không cúi. Muội chỉ nhìn.
Cha bước xuống xe, dáng người vẫn còn thẳng như thanh thương ngày ra trận, nhưng bờ vai chiều nay hơi trĩu xuống. Áo triều màu chàm sẫm còn nguyên vệt bụi đường từ cung về, đai lưng vàng cũng chưa được cởi ra. Cha đi thẳng qua sân, không dừng lại chào ai, ngẩng nhìn muội một cái, rồi quay đầu đi vào thư phòng. Chỉ có ánh mắt cha vừa nãy, chạm vào muội đúng một khắc thôi, đã nói cho muội biết chuyện lớn trong cung đã xong.
Muội cúi mặt, tay vô thức nắm chặt vạt áo lụa.
Trong đầu, tôi thở ra một hơi. Vậy là ổn. Vậy là cha đã đối chất Vân tỷ tỷ trước thái hoàng thái hậu, và tam ca cũng đã bị đưa vào cung xét huyết thống. Vậy là chuyện muội chờ mấy hôm, cuối cùng đã tới. Chuyện muội tính chín năm, kể từ cái đêm sáu tuổi khắc ba nét mực dưới gốc lê, đã lăn tới khúc cua cuối.
Nhị ca Cố Nghê từ hành lang tây chạy tới, chân bước gấp gáp làm vạt áo ngắn phất lên như đuôi ngựa non. Nhị ca hai mươi bốn tuổi rồi, cao lớn, vai rộng, nhưng đứng trước em gái vẫn quen dáng khom xuống, mắt gấp lại theo kiểu con nhà võ.
“Đường muội, cha về rồi hả? Trong cung thế nào?”
“Cha vào thư phòng rồi, chưa nói gì.”
“Tam ca… đâu?”
Muội quay đầu nhìn ra cổng lớn. Chiếc xe ngựa chỉ có một chỗ. Bên cạnh xe cha, không có xe của Cố Nghiệt.
“Tam ca…” muội nói khẽ, giọng còn giữ nhịp mềm của mười lăm tuổi, “tam ca chưa được về đâu, nhị ca.”
Cố Nghê đứng chững lại. Cả người nhị ca ngưng một nhịp, mắt hơi mở rộng, sau đó khoé miệng nhị ca hạ xuống một chút.
“Chưa được về?”
“Thái hoàng thái hậu… giữ tam ca lại trong cung một tuần. Để làm quen huyết thống.”
Nhị ca cạp môi. Nhị ca vốn không hay bực lâu, nhưng nghe muội nói vậy thì đứng đờ ra dưới hiên. Nội tâm tôi biết nhị ca đang nghĩ gì. Suốt mười năm nay Cố Nghiệt là huynh nuôi, ăn cùng bàn, ngủ cùng nhà, cha giao cho tam ca ngồi phía trong đại ca Cố Trẫm mỗi lần thắp hương tổ tiên, nghĩa là trong lòng cha, tam ca đã là con trai của Định Bắc hầu phủ. Bây giờ cung đình dẫn tam ca đi, dù dẫn đi để tôn vinh, cũng vẫn là dẫn ra khỏi bàn cơm nhà mình.
Đại ca Cố Trẫm bước ra từ cửa thư phòng, tay còn cầm nửa cuộn giấy chưa cuộn hết. Đại ca hai mươi bảy tuổi, năm ngoái đỗ trạng nguyên, giờ đang tập sự Hàn lâm viện, mỗi lần về là đem một chồng giấy lên bàn thư phòng cha. Đại ca thấy nhị ca đứng như trồng cây, đi qua vỗ vai nhị ca một cái nhẹ.
“Vào trong nói. Đứng ngoài sân gió lộng, muội bé lạnh.”
Đại ca lúc nào cũng nhắc muội. Đại ca gọi muội là “muội bé”, cách gọi từ hồi muội mới sáu tuổi, giờ vẫn giữ. Muội nghe câu ấy trong đầu tôi cong khoé môi. Trong nhà, chỉ đại ca là người tinh tế nhất, luôn đoán trước ai cần gì. Nếu bảo tam ca có mắt sắc, đại ca có tay dịu.
Ba anh em muội đi vào sảnh chính. Mẹ Tống thị đã đứng đó từ khi nào, tay còn giữ cuộn kinh Phật đang chép dở. Mẹ mặc áo lụa xanh nhạt viền lam, tóc buộc thấp, không cài trâm, giống như vừa đứng dậy từ án kinh. Mẹ nhìn ba đứa vào, rồi hạ tay xuống. Muội chạy đến, gục đầu vào eo mẹ. Trong lòng tôi, con mèo con vẫn còn hơi ran ran từ hôm tam ca bị dẫn ra khỏi hầu phủ, giờ được mẹ vòng tay ôm một cái, mới yên yên trở lại.
“Đường Đường về đây với mẹ.”
“Vâng mẹ ơi.”
Mẹ vuốt tóc muội. Bàn tay mẹ có mùi hương trầm nhạt của nến chép kinh, mùi ấy ấm và quen, giống mùi chăn bông vừa đem phơi nắng. Muội nhắm mắt hít vào một hơi.
Cha ho khẽ một tiếng từ trong thư phòng. Mẹ đẩy nhẹ vai muội, dặn đại ca dẫn hai em ra ngoài trước, để mẹ vào với cha một lát. Đại ca gật đầu, kéo nhị ca ra hiên đông. Muội cũng theo ra, tay đại ca nắm lấy tay muội, ấm và khô.
Ngoài hiên, đại ca ngồi xuống bậc thềm gỗ, kéo muội ngồi cạnh. Nhị ca đứng dựa cột, tay đút vào tay áo, mắt vẫn còn hằn nét bực.
“Muội bé không lo,” đại ca nói khẽ, “tam ca chỉ đi tạm. Không ai giữ được người nhà mình.”
“Muội biết mà đại ca ơi.”
“Ừ, muội biết.” Đại ca cười. Nụ cười đại ca lúc nào cũng nhẹ, chỉ nhấc lên hai phần khoé môi, không hé răng. “Muội biết nhiều thứ mà đại ca không hỏi. Đại ca cứ tin muội thôi.”
Muội cúi đầu, không đáp. Trong đầu, tôi biết đại ca đã cảm được có gì hơi lạ trong đứa muội bé từ lâu. Đại ca không phải hạng phá án như Bạch tiểu thư trong sách, nhưng là hạng đọc chữ nhiều, đọc đủ lâu để hiểu nhân tình. Đại ca không truy hỏi. Đại ca chỉ đứng đợi. Cả nhà, ai cũng đứng đợi cho muội tự nói.
Nhị ca sốt ruột hơn. Nhị ca bước lại, cúi xuống trước mặt muội.
“Đường muội, để nhị ca sang phủ cung xin phép vào thăm tam ca không? Tam ca ở đấy một mình, không có ai quen.”
“Không được đâu nhị ca ơi. Cung không nhận khách bên ngoài, dù là người thân cũ. Phải đợi cha có thư mời hoặc thái hoàng thái hậu triệu.”
Nhị ca gãi tóc, thở ra một tiếng. Nhị ca là thần đồng võ, chân tay lẹ, nhưng đụng chuyện cung đình thì tay chân thừa ra, không biết đặt vào đâu. Muội biết cảm giác ấy. Muội cũng như nhị ca, muốn xé áo lụa chạy vào cung, kéo tam ca về nhà, cho tam ca ngồi lại đúng chỗ tam ca thường ngồi ở bàn cơm, bên phải cha, đối diện đại ca. Nhưng muội không xé áo lụa. Muội chỉ ngồi trên bậc thềm, đợi cha.
Tối đó, mẹ dọn cơm ở nhà nhỏ sau vườn. Cả nhà ăn giản dị, bốn đĩa rau, một bát canh cá, không có món tráng miệng. Cha vẫn chưa nói gì. Ăn xong, cha đặt đũa xuống, nhìn muội.
“Đường Đường, ăn xong đi theo cha ra vườn.”
Nhị ca định lên tiếng, đại ca đưa tay ngăn lại. Mẹ cúi đầu, gấp khăn.
Muội đứng dậy, vén tay áo, đi theo cha.
Vườn hầu phủ chiều muộn không sáng, chỉ có mấy ngọn đèn dầu treo dọc hành lang, ánh vàng đỏ đọng lại trên lá lê rụng, thành từng chấm ấm. Cha đi trước, muội theo sau ba bước. Đường ra gốc lê già dài không quá một trượng, nhưng chiều nay muội thấy sao mà xa, giống như đường ra tận biên ải, mỗi bước lại thêm một chút nặng.
Đến gốc lê, cha dừng lại. Cha đưa tay chạm vỏ cây, giữ một hồi. Cây lê này bốn mươi tuổi, hơn cả cha muội. Cha kể ngày cha còn nhỏ, ông nội cha trồng nó lên trên đất chôn đứa cháu đầu bị đậu mùa, dặn cha năm nào nở hoa thì thắp một nén hương. Cha đã thắp nhang bốn mươi năm. Đêm nay cha không cầm nhang. Cha chỉ cầm cây lê bằng bàn tay đã già.
“Đường Đường à.”
“Vâng cha ơi.”
“Cha hỏi con một câu. Con nghĩ kỹ rồi trả lời cha.”
“Vâng.”
Muội cụp mắt xuống. Trong lòng, con mèo con đột nhiên khẽ nhảy một cái nhỏ. Nội tâm tôi tự nhắc mình bình tĩnh, không được để lộ tay áo lụa run.
Cha đứng nghiêng mặt, không nhìn muội trực tiếp. Ánh đèn dầu chiếu lên nửa gương mặt cha, phần bên kia đọng bóng lá. Cha nói, giọng trầm và chậm, giống như đang chọn từng chữ cẩn thận, sợ chọn nhầm.
“Con… có yêu tam ca của con không?”
Sương đêm rơi xuống một cánh lê muộn, cánh trắng lả tả rơi trên vai muội. Muội đứng đờ. Cả người muội trong một khắc nóng bừng lên từ tai xuống cổ, từ cổ chạy sang gò má, đỏ như một chấm son đường phèn ai đó vẽ vụng. Muội cúi thấp đầu, tay bấm vạt áo lụa, tim đập nhanh đến mức nghe rõ tiếng thịch thịch trong lồng ngực.
Trong đầu, tôi đứng lặng.
Câu hỏi cha đưa ra không phải câu muội không lường trước. Nhưng lường được là một chuyện, nghe được là chuyện khác. Nghe cha nói bằng chính giọng cha, dưới gốc lê bốn mươi tuổi, trong đêm đầu thu, giữa hai chấm đèn dầu treo hai đầu hiên, cảm giác ấy khác hẳn. Trong lòng tôi, con mèo con đứng dậy, đi tới đi lui hai vòng, không biết trốn ở đâu.
Muội mấp máy môi. Không ra tiếng.
“Cha không giục con.” Cha lại nói. “Cha chỉ hỏi thôi. Nếu con không muốn trả lời tối nay, cha đợi mai. Cha đợi tuần sau. Cha đợi bao nhiêu con thấy đủ.”
Nghe câu ấy, mắt muội cay lên. Tôi trong lòng cũng cay theo. Có người cha nào trên đời chịu đợi con gái mình chín năm để hỏi đúng một câu như thế này? Người ta nói cha thương con gái út là thương nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa. Cha thương muội còn hơn cả trứng, hơn cả hoa, cha thương muội bằng cách hỏi rồi đợi, không giục, không ép, không lên án.
Muội hít vào một hơi thật sâu. Sương đêm mát lành, có vị hoa lê chín cuối, có vị đèn dầu ấm, có vị đường phèn còn vương trên đầu lưỡi từ bữa cơm tối. Muội ngẩng đầu nhìn cha.
“Cha ơi…”
“Ừ.”
“Muội… muội yêu tam ca.”
Ba chữ ấy ra khỏi miệng muội nhẹ như một cánh lê. Nhưng ra rồi thì muội thấy cả người mình nhẹ theo, nhẹ đến độ muội tưởng gió thổi thêm một cơn nữa là bay lên nóc hiên. Muội nói xong, lại cụp mắt, hai tay bấm chặt vạt áo, không dám nhìn cha nữa.
Cha im lặng.
Muội chờ. Con mèo con trong lồng ngực muội đứng nghiêng đầu, cũng chờ.
Rồi muội nghe cha bật cười. Tiếng cười cha không lớn, chỉ khe khẽ trong cổ họng, giống tiếng ai đó bật nắp một hộp trà gỗ đàn hương ủ lâu. Muội ngẩng đầu, thấy cha vẫn đứng nghiêng mặt, khoé môi bên trái nhấc lên, mắt đọng một chút sáng ướt.
“Con bé này.” Cha lắc đầu. “Cha đã biết từ đầu.”
“Cha… đã biết?”
“Cha là ai chứ, con.” Cha quay hẳn về phía muội, hai bàn tay chai sạn của cha đưa lên, chạm lên tóc muội. “Cha nuôi Nghiệt bảy năm, cha nuôi con mười lăm năm, không lẽ hai đứa con nhìn nhau thế nào cha lại không biết? Hồi con tám tuổi cứu tam ca ở biên ải, cha đã biết. Hồi con mười hai tuổi cha thấy tam ca đứng canh cửa phòng con đêm con sốt, cha lại biết. Hồi năm ngoái cha thấy tam ca đi cùng con dạo vườn, tam ca đi chậm hơn nửa bước để chờ con, cha biết chắc luôn.”
Muội mở to mắt. Trong đầu, tôi cũng mở to mắt theo. Ta đã tưởng ta giấu kỹ, ta đã tưởng cả bàn ăn cha mẹ hai huynh không ai nhận ra khoé mắt ta giật một cái khi tam ca gắp con tôm to nhất trong đĩa vào bát ta. Té ra cha đã biết từ đầu. Té ra cha là cha muội, không phải ai đó ngoài đường, làm sao mà cha không biết.
“Cha đợi con.” Cha nói. “Cha đợi con lớn thêm chút, đợi con hiểu rõ lòng con. Nếu con nói không, cha vẫn đợi. Nếu con nói có, cha cũng đợi đến hôm nay để nghe đúng chữ có.”
Muội nghẹn ứ trong cổ. Muội không khóc, nhưng mắt muội ướt. Muội chạy tới, ôm lấy cha bằng cả hai cánh tay lụa mỏng, ép trán vào ngực áo triều chàm sẫm của cha. Áo cha còn mùi bụi cung đình, mùi hương nghi lễ hơi khô, nhưng dưới lớp áo, hơi thở cha vẫn ấm và đều như hồi cha ôm muội sáu tuổi sốt cả đêm.
“Cha… cha ơi.”
“Ừ.”
“Sao cha không hỏi tam ca có yêu con không?”
Cha cúi xuống, cằm chạm nhẹ đỉnh đầu muội.
“Cha đã hỏi Nghiệt rồi.” Cha đáp, giọng thấp và bình. “Cha hỏi từ hồi Nghiệt mười tám tuổi. Trên đường về từ biên ải, năm đấy Nghiệt vừa được con cứu khỏi độc thạch tín. Cha ngồi trong xe ngựa, đối diện Nghiệt, con nằm ngủ trên đùi Nghiệt. Cha hỏi Nghiệt có phải con nhìn muội con như em không. Nghiệt im. Nghiệt không đáp. Cha biết ngay câu trả lời.”
Muội bật ra một tiếng “à” khẽ. Trong đầu tôi cũng bật ra một tiếng “à” giống hệt. Té ra chuyện của muội và tam ca, cha đã canh chừng suốt bảy năm. Cha không nói ra, chỉ đợi. Người ta nói trứng khôn hơn vịt, nhưng vịt có sống bao nhiêu mùa, trứng nào so được. Cha muội đã sống đủ để nhìn ra tình cảm của con gái từ lúc con còn chưa nhận ra tình cảm ấy trong lòng mình.
“Cha ơi…” muội thì thầm, “vậy giờ…”
“Giờ Nghiệt là Trấn Quốc Vương.” Cha nói. “Cháu ruột hoàng thất, thân phận cách hầu phủ ta hai bậc. Hôn nhân của Nghiệt không còn là chuyện cha có thể tự bàn với hầu phu nhân bên gia đình Nghiệt được nữa. Chuyện này phải qua vua. Phải qua thái hoàng thái hậu.”
“Ừm.”
“Cha định tối nay vào thư phòng viết một bức thư. Dâng lên vua.”
Muội ngẩng đầu.
“Xin hôn?”
Cha gật.
Muội nhìn cha. Trong lòng nội tâm 25 tuổi tôi ứ lại một chút, không phải vì bất ngờ, mà vì lần đầu tiên trong chín năm ở thân xác này, ta thấy chuyện của mình được cha nhấc lên đặt lên bàn nghi lễ chính thức, không phải chuyện lén lút, không phải chuyện nhõng nhẽo con nít, mà là chuyện hôn nhân của một tiểu thư hầu phủ với một Trấn Quốc Vương. Cha muội đã đợi đúng đến hôm nay để nói lời ấy, đợi đúng đến khi thân phận tam ca lộ ra, đợi đúng đến khi muội tự mở miệng nói ba chữ dưới gốc lê.
“Cha ơi…”
“Hử?”
“Cha viết thư xin hôn không sợ vua từ chối à?”
Cha cười. Lần này cha cười to hơn một chút, tiếng cười trầm rung nhẹ trong ngực áo.
“Đường Đường, con quên rồi. Cha là ai chứ. Cha là Định Bắc hầu, tướng cầm mười vạn quân biên ải. Vua không dễ từ chối cha đâu. Nhưng cha không xin bằng thân phận Định Bắc hầu. Cha xin bằng thân phận một người cha có con gái út mười lăm tuổi đứng dưới cây lê, đỏ mặt nói yêu một cậu con trai. Vua đương triều là người trọng đạo hiếu, trọng chữ tình. Cha tin vua đọc thư cha sẽ hiểu.”
Muội cười theo. Lần này muội cười thật, cười tới cả khoé mắt cong lên như cong nếp gấp một tờ giấy Tuyên Thành xếp đôi. Trong lòng, con mèo con nằm xuống, cuộn tròn, ngủ ngoan.
Cha vòng tay ôm muội một lần nữa, ngắn thôi, không quá lâu, kiểu ôm của một võ tướng vốn không quen mượt mà. Rồi cha nắm tay muội, dẫn muội quay về hướng thư phòng. Đèn dầu trên hành lang vẫn cháy đều, ánh vàng đọng trên vai áo lụa của muội thành từng đốm ấm, giống như ai đó tưới đường phèn lên tà áo.
Đến trước cửa thư phòng, cha dừng bước.
“Đường Đường vào phòng nghỉ trước. Cha viết thư một mình. Đây là chuyện cha muốn tự tay làm, không nhờ ai chấp bút.”
“Vâng cha ơi.”
“Ngủ ngon.”
“Cha cũng ngủ ngon.”
Cha khép cửa thư phòng lại. Muội đứng ngoài hành lang, tay còn giữ vạt áo, mắt vẫn ướt. Muội quay đi ba bước, rồi ngoảnh lại. Ánh đèn dầu trong thư phòng đã sáng lên từ khe cửa, một dải vàng ấm lọt qua. Muội biết bên trong cha đang mài mực, đang trải giấy Tuyên Thành thượng phẩm, đang chấm bút, đang nhẩm từng câu chữ trong đầu trước khi viết xuống. Chuyện xin hôn của con gái út, cha không dùng thư ký, không dùng đại ca hai mươi bảy tuổi trạng nguyên chấp bút cho, cha muốn tự tay viết từng chữ.
Muội đứng nhìn khe cửa một hồi. Trong đầu, tôi hít vào một hơi dài.
Chín năm trước, muội sáu tuổi, tỉnh dậy trong chăn bông thơm mùi trầm, biết mình sẽ chết ở chương ba mươi vì bị vu tráo ngọc bội. Muội tự vẽ bản đồ đường sống của mình. Muội tự khắc ba nét chấm mực lên mảnh ngọc gia truyền. Muội tự đóng ngu ngơ vừa đủ để cha mẹ hai huynh không nghi. Muội tự chuẩn bị bẫy đón Vân tỷ tỷ. Muội tự nghĩ ra thuốc phòng độc gửi tam ca đi biên ải. Muội tự làm mọi thứ.
Nhưng đêm nay, dưới gốc lê bốn mươi tuổi, cha là người bảo muội đứng lại, để cha viết bức thư ấy. Cha là người đầu tiên trong đời cả hai kiếp của muội đặt tình cảm của muội lên bàn nghi lễ chính thức, không xem là chuyện nhõng nhẽo, không xem là chuyện trẻ con, xem là chuyện quan trọng đủ để cha tự tay chấm bút.
Muội đưa tay lau khoé mắt. Bàn tay lụa mỏng bấm nhẹ vào gò má đỏ.
Trong đầu, tôi thầm dặn con mèo con bên trong: ngủ ngoan. Mấy hôm nữa thư sẽ vào cung. Mấy hôm nữa nữa vua sẽ đọc. Rồi tam ca sẽ được về. Rồi sân hầu phủ sẽ có xe ngựa Trấn Quốc Vương đỗ trước cổng. Rồi hai đứa mi và ta sẽ được đứng cạnh nhau dưới gốc lê này, cùng thắp nén hương cho ông nội cha đã trồng cây lê bốn mươi năm trước.
Muội ngoảnh mặt bước đi, tay áo lụa xanh nhạt quẹt nhẹ qua cột hành lang. Đèn dầu trong thư phòng cha vẫn sáng. Bên trong, tiếng bút mực chậm rãi chạm giấy, phát ra một nhịp sột soạt đều đều, giống như tiếng sương đầu thu đang rơi xuống mặt lá lê, từng giọt, từng giọt, viết một bức thư dài nhất cha muội từng viết trong đời cầm bút.