Hoài Cổ Truyện

Ta Xuyên Thành Muội Muội Út Của Hầu Phủ

Chương 29: Vua Ban Chỉ Hôn

Sáng sớm tháng năm, hoa lê trước hầu phủ đã rụng gần hết, chỉ còn một hai cánh muộn màng bám lại đầu cành, run rẩy trong gió nhẹ như một tiếng thở dài của mùa xuân đã đi qua. Trên bờ tường mái ngói, con mèo tam thể quen thuộc nằm khoanh mình, đuôi cuộn tròn dưới bụng, đôi mắt nheo lại nhìn xuống sân trước, nơi hai chú sai vặt của phủ đang quét dọn từng cánh hoa trắng rơi rớt trong đêm.

Muội đứng bên khung cửa sổ phòng mình, tay ôm một chén trà đường phèn nóng, hơi trà bốc lên nghi ngút thành một làn sương mỏng bay vào cửa. Đêm qua muội ngủ không thật ngon. Không phải vì lo lắng, mà vì trong đầu quá nhiều tiếng vọng. Tiếng thái hoàng thái hậu ba hôm trước phán xuống trong điện Trường Xuân, tiếng nắp tráp gia phả cha mở, tiếng Vân tỷ tỷ khóc oà giữa sảnh gạch đá lạnh của cung, và tiếng cha lần đầu tiên trong đời cầm tay muội nói: “Đường Đường, con lớn rồi, con phải tự trả lời cha câu này.”

Tôi khẽ thở ra.

Câu ấy cha hỏi tối hôm qua, dưới ánh đèn dầu ấm trong thư phòng ông, khi cả nhà đã ngủ và chỉ còn muội với cha ngồi đối diện qua chiếc bàn gỗ đàn hương lâu năm. Cha hỏi muội có thật lòng thương tam ca không. Muội im lặng một hồi, không phải vì ngập ngừng, mà vì trong lòng có quá nhiều điều muốn nói, không biết bắt đầu từ đâu. Cuối cùng muội chỉ gật đầu, khẽ đáp: “Thương lắm, cha ơi.” Cha cười, cười hiền như một buổi chiều sương phủ nhẹ trên mái ngói. Cha bảo: “Vậy được.” Rồi cha đứng dậy, đưa tay xoa đầu muội một cái, đúng kiểu xoa đầu như hồi muội mới sáu tuổi tỉnh dậy sau cơn sốt đầu tiên trong thân xác này.

Muội húp một ngụm trà, vị đường phèn ngọt thanh chảy xuống cổ, ấm cả một khoang bụng.

Trong sân trước, tiếng ngựa hí đột nhiên vang lên. Nghe từ hướng cổng lớn, không phải ngựa nhà, mà là ngựa lạ, tiếng thở khoẻ, tiếng vó gõ mạnh trên đá lát. Muội đặt chén trà xuống bậu cửa, khẽ vén rèm gấm nhìn ra. Bích Đào tỷ nghe tiếng động cũng chạy vào, tay còn vắt ngang một khăn tay ướt.

“Tiểu thư, xe của công công trong cung. Có chỉ dụ về.”

Muội gật đầu, giữ vẻ bình thản trên mặt.

Nhưng trong đầu, tôi biết đây là ngày ấy. Cha đã dâng thư xin hôn cho muội và tam ca năm hôm trước, ngay khi Cố Nghiệt còn ở tạm trong cung “làm quen huyết thống” dưới sự bảo hộ của thái hoàng thái hậu. Bà cụ vốn là chỗ dựa cuối cùng cho tam ca lúc lộ thân, đọc thư xong đã cười lên khe khẽ, nói với vua đương triều: “Con bé Cố Tiểu Đường cứu Nghiệt nhi ta lần ấy trên đường biên ải, ơn ấy hoàng tộc không được quên.” Vua đương triều là thúc phụ ruột của tam ca, cả một triều đình đều đang lúng túng vì thân phận đứa cháu ruột thất lạc mấy chục năm bỗng dưng xuất hiện, việc gả một cô nương hầu phủ vốn đã có ân với hắn, so với gả một tôn thất khác, dễ dàng hơn nhiều lần.

Muội xuống lầu, chỉnh lại tà áo. Áo hôm nay muội mặc màu hoa đào nhạt, viền cổ thêu vài bông lê nhỏ bằng chỉ trắng, tóc tết đôi đơn giản, cài một trâm bạc hoa mai cũ tam ca tặng năm muội mười hai tuổi. Muội không có ý cố tình mặc đẹp, chỉ là sáng ra tự nhiên tay chọn áo ấy, tay chọn trâm ấy, tự thân đã biết hôm nay là ngày quan trọng.

Ngoài sân trước, cha đã đứng đó sẵn, đầu đội mũ hầu, thân khoác áo triều màu tía nghiêm chỉnh. Mẹ đứng cạnh cha, tay khẽ vịn khuỷu tay cha, mắt hướng ra cổng. Đại ca Cố Trẫm với nhị ca Cố Nghê cũng đã có mặt, hai anh em đứng thẳng lưng bên trái cha mẹ. Muội đi tới, nép vào bên phải mẹ, mẹ liếc muội một cái, không nói gì, chỉ đưa tay nắm nhẹ tay muội. Tay mẹ ấm, một chút run nhẹ dưới da.

Công công truyền chỉ bước xuống xe, tay cầm cuộn giấy vàng có thắt nơ đỏ. Sau công công là hai vệ sĩ mặc áo cẩm phục thêu kỳ lân nhỏ. Toàn phủ quỳ xuống, muội cũng quỳ, đầu cúi thấp. Cha nhận chỉ, hai tay đưa lên ngang trán.

Giọng công công cao và trong: “Định Bắc hầu Cố Định tiếp chỉ.”

Cha thưa: “Thần tiếp chỉ.”

“Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết. Cố phủ đích nữ Cố Tiểu Đường, năm xưa trên đường biên ải cứu Trấn Quốc Vương thoát khỏi độc kế, ơn nặng lòng thành, thần dân đều biết. Nay đặc phong Vĩnh An quận chúa, hưởng lộc năm trăm hộ, thực ấp Vĩnh An huyện. Đồng thời chuẩn theo tờ tấu của Định Bắc hầu, gả Vĩnh An quận chúa cho Trấn Quốc Vương Cố Nghiệt, ngày lành lấy trong tháng bảy, do khâm thiên giám chọn. Khâm thử.”

Cả sân im.

Tôi nghe tiếng tim mình đập một nhịp lớn dưới lồng ngực áo hoa đào. Không phải nhịp giật thót, mà là nhịp ấm ấm, tràn ra khắp bốn phía như trà đường phèn vừa mới rót đầy chén. Muội cúi đầu thấp hơn, che đi khoé môi đang cong lên. Cả một sân người quỳ mà chỉ có mèo tam thể trên mái ngói kia đủ tinh tường để thấy nét cười ấy, và nó thì không nói cho ai nghe.

Cha nhận cuộn giấy vàng, tay cha vững, nhưng muội thấy đôi vai cha khẽ rung một cái. Cha đứng lên, cúi tạ, thưa: “Thần tạ ân hoàng thượng.”

Công công cười, nhận trà cha mẹ dâng, dặn thêm mấy câu về nghi lễ nhận sắc phong ba hôm nữa, rồi lên xe rời phủ.

Cửa sảnh vừa khép, mẹ đã ôm chầm lấy muội.

Mẹ không nói gì, chỉ ôm chặt, tay xoa lên gáy muội, xoa lên lưng muội. Muội để mặt vào vai mẹ, hít vào mùi hương trầm nhẹ trên áo mẹ, cái mùi đã theo muội suốt chín năm nay, từ ngày muội sáu tuổi tỉnh dậy sau cơn sốt đầu tiên đã nhận ra ngay đây là mẹ. Vai mẹ ấm và thơm như một cái chăn bông xuân đắp thêm một lớp lụa mềm bên ngoài.

Cha đứng cạnh, không ôm, chỉ đặt bàn tay to lên đầu hai mẹ con, ấn nhẹ một cái. Đại ca Cố Trẫm quay mặt đi, muội biết đại ca đang lén lau mắt. Nhị ca Cố Nghê ngược lại chẳng ngại ngần, hít mũi một cái to, gào lên: “Muội muội em nay được phong quận chúa rồi, ai mà bắt nạt em sau này nhị ca đánh gãy răng.”

Cả nhà bật cười. Mẹ vừa cười vừa lau nước mắt, ngón tay vịn vào cằm muội, ngước mặt muội lên nhìn. Mẹ nói: “Đường Đường ngoan, hôm nay lễ chưa hết đâu con. Thợ may cung đình sắp đến đo áo cưới. Con đi thay áo lót nhẹ đi, để tiện thợ đo.”

Muội gật đầu, khẽ dạ một tiếng, quay lưng đi vào trong.

Hỷ phục nữ Trung Hoa — thêu phượng vàng, chụp ảnh cưới

Hỷ phục nữ Trung Hoa — thêu phượng vàng, chụp ảnh cưới

662.000đ

Xem chi tiết →

Buổi trưa, thợ may cung đình đến. Hai vị thợ chính đều là bà cụ tóc bạc đầu, tay nghề bốn mươi năm, chuyên may áo cưới cho quận chúa, quận vương, và cả công chúa cấp thấp. Đi cùng có bốn thợ phụ và hai nha đầu trong cung, khiêng theo mấy cuộn lụa đỏ thẫm dày dặn, một hộp gỗ đàn hương đựng chỉ vàng chỉ bạc, và một tấm gương đồng lớn cao ngang người muội, mặt gương lau bóng như một hồ nước đứng lặng dưới ánh chiều.

Mẹ dẫn muội vào gian trong phòng lớn. Trong phòng đã kê sẵn một cái bục gỗ tròn, cao chừng gang tay, dùng cho muội đứng lên khi đo. Mẹ ngồi trên ghế gấm cạnh bục, tay đặt trên đầu gối, mắt không rời muội một khắc nào.

Bà thợ chính giở cuộn lụa đỏ ra. Lụa đỏ thẫm loại thượng phẩm, dệt kép sợi vàng chìm, mặt lụa mềm mà nặng, cầm lên tay đã biết đây là lụa tiến vào hoàng cung mỗi năm chỉ có mấy chục cây. Bà thợ khoác lên vai muội một mảnh, ướm dài xuống đến gót. Lụa đỏ chảy xuống thân muội như một dòng nước hồng đọng dưới nắng chiều, muội đứng trên bục gỗ, hai tay giơ ngang, để bà cụ đo từ vai đến cổ, từ ngực đến eo, từ eo đến gót chân.

“Vĩnh An quận chúa vóc dáng gọn nhỏ, eo lưng lại rất nhỏ. Áo cưới lần này lão sẽ may kép tà, tà ngoài dài, tà trong ngắn để lộ giày nhung, chỉ vàng thêu hoa lê rơi khắp thân áo, cổ đứng thấp cho hợp với gương mặt tiểu thư.”

Mẹ gật đầu, giọng khẽ: “Bà cụ tính hộ, tà ngoài đừng nặng quá, con bé mảnh khảnh, không cần lộng lẫy chồng chất.”

Bà thợ cười, gật gù: “Phu nhân nói phải. Áo cưới đẹp nhất là áo hợp người, không phải áo nặng người.”

Bà đo xong, khoác cả tấm lụa đỏ chính lên vai muội, để muội xoay một vòng trước tấm gương đồng. Muội xoay chậm. Lụa đỏ chảy quanh chân, một luồng ánh vàng chìm hiện lên khi ánh nắng ngoài cửa sổ chiếu vào, chạy vòng quanh viền tay áo như một dải trăng non lượn qua mặt sông. Trên vai muội, hai đầu vải rủ xuống mềm mại, chưa may thành áo mà đã có dáng của một nàng dâu.

Muội nhìn mình trong gương.

Trong đầu, tôi lặng một hồi. Người trong gương là một thiếu nữ mười lăm tuổi mắt to trong veo, má bầu vẫn còn nét thơ ngây, cổ trắng và mảnh dưới lớp cổ áo đỏ thẫm chưa may xong. Nhưng phía sau đôi mắt ấy, tôi biết còn có một người hai lăm tuổi kiếp trước, người đã đọc chương ba mươi của “Phượng Hoàng Đài” rồi chết trong tay chính “Cố Tiểu Đường” trên trang giấy, người đã tỉnh dậy trong thân xác này chín năm về trước dưới chăn bông thơm phảng phất mùi trầm.

Chín năm.

Chín năm để nàng từ một hồn ma đọc dở tiểu thuyết cổ trang, tỉnh dậy trong thân xác đứa bé sáu tuổi, dần dà nhận ra đây là gia đình thật của mình. Chín năm để cha kéo nàng ra sân trước dưới gốc lê, đặt vào tay nàng mảnh ngọc bội gia truyền có ba nét chấm mực nhỏ nàng lén khắc bên trong. Chín năm để nàng ngồi bên giường một chàng trai mười bảy tuổi trong quân doanh biên ải, cho hắn uống thuốc lưu huỳnh mỗi canh giờ, để hắn hết bệnh trở về, để hắn từ một huynh nuôi xa lạ dần thành người đêm nào cũng nghĩ đến. Chín năm để mảnh ngọc thật kịp có ngày ra sáng, để Vân tỷ tỷ tự dâng mảnh giả lên trước mặt thái hoàng thái hậu, để cả sảnh cung khai bung sự thật.

Chín năm để đứng đây, trên bục gỗ tròn, khoác một tấm lụa đỏ chưa may thành áo cưới, mà đã biết mình sẽ mặc áo này cưới ai.

Muội hít vào một hơi rất nhẹ, khoé mắt hơi nóng.

Bà thợ chính ướm xong vai, lùi xuống một bước, đưa cho thợ phụ ghim lụa. Mẹ đứng dậy khỏi ghế, bước tới cạnh muội, giơ tay chỉnh lại một nếp lụa đang lệch trên vai nàng. Tay mẹ chạm vào vai muội qua lớp áo lót mỏng, muội cảm được hơi ấm quen thuộc, mùi trầm nhạt vẫn ở đó.

Mẹ khẽ nói: “Đường Đường xoay lại nhìn mẹ đi.”

Muội xoay.

Mẹ nhìn muội. Nhìn từ đỉnh đầu xuống đến gót chân, rồi lại từ gót chân lên đến khoé mắt. Mẹ không nói gì thêm, nhưng nước mắt mẹ đã lăn xuống hai gò má, không nghẹn ngào không nức nở, chỉ lăn xuống từng giọt, từng giọt, đọng lại trên cằm rồi rơi xuống áo trước ngực.

Mẹ nói: “Đường Đường lớn rồi.”

Ba chữ ấy, giọng mẹ rất nhẹ, nhẹ đến độ chỉ có muội đứng ngay trước mặt mới nghe rõ. Nhưng ba chữ ấy nặng đến độ muội đứng trên bục gỗ mà chân hơi khuỵu xuống.

Muội bước xuống bục, ôm chầm lấy mẹ.

Muội gục đầu vào vai mẹ, nói qua vai mẹ, giọng nhỏ và ấm: “Mẹ ơi, muội không đi xa đâu. Trấn Quốc Vương phủ ngay bên cạnh hầu phủ. Ngày ngày muội chạy về ăn cơm mẹ nấu vẫn được. Mẹ đừng khóc, mẹ khóc muội cũng khóc theo, xấu áo cưới thợ vừa ướm cho muội.”

Mẹ vừa khóc vừa cười, tay xoa lên lưng muội mà nói: “Con bé này. Đến giờ này còn giả ngoan để dỗ mẹ.”

“Muội không giả đâu mẹ ơi. Muội thật đấy. Muội sẽ ngày ngày về, cùng mẹ chăm cây lê trước sân, cùng mẹ ăn bát chè đường phèn hạt sen, cùng mẹ dọn tráp gia phả cho đại ca thi hội. Muội cưới không phải để đi mất, muội cưới là để thêm một người vào nhà mình thôi.”

Mẹ nghẹn một tiếng, ôm muội chặt hơn.

Bên ngoài, cha đứng ngoài cửa. Muội biết cha đứng đấy, dù không nhìn ra, vì tiếng bước chân cha muội nhớ rõ, khớp giày da nện xuống nền đá phát ra âm trầm rất riêng. Cha đã đứng đấy có lẽ đã lâu, đứng nghe hai mẹ con nói với nhau, đứng nghe muội dỗ mẹ. Cha không vào, không lên tiếng, chỉ đứng.

Khi mẹ nguôi, thợ may quay lại đo tiếp phần eo. Muội lại đứng lên bục. Bà thợ chính cuốn dây đo qua eo muội, ghi số vào cuốn sổ nhỏ. Muội đứng thẳng, mắt nhìn thẳng vào tấm gương đồng. Trong gương, người thiếu nữ áo đỏ đang từ từ hiện dáng nên hình, mỗi một nếp gấp thợ ghim đều lên một chút, dáng áo cưới lộ ra rõ thêm một chút. Đến khi thợ đo xong phần eo, ướm cả tà ngoài kép lên, muội thấy trong gương không còn là một đứa bé mười lăm tuổi khoác vải, mà đã là một cô dâu.

Cô dâu ấy cười với muội trong gương.

Trong đầu, tôi cũng cười lại với cô ấy.

Thợ may thu dọn, cuộn lụa lại cẩn thận, ghim từng nếp vải bằng ghim gỗ tránh làm hằn dấu ghim đồng lên mặt lụa. Bà thợ chính hẹn ba hôm nữa quay lại thử lần thứ hai, sau đó năm hôm nữa thử lần thứ ba. Áo cưới cung đình phải may qua ba lần thử, mỗi lần chỉnh một khấc, mới đảm bảo hợp thân đến từng ngón tay.

Khi cửa lớn phòng khép lại sau lưng bà thợ, cha bước vào.

Cha đứng ở giữa gian, tay cầm một tráp gỗ nhỏ hình chữ nhật, mặt tráp khảm ba chữ triện “Cố” bằng vỏ trai bóng loáng. Cha đặt tráp lên bàn gỗ đàn hương, nhìn muội, giọng hơi khàn.

“Đường Đường, con lại đây với cha.”

Muội chạy tới, đứng bên cạnh cha. Mẹ ngồi lại xuống ghế gấm, tay đặt trên đùi, không nói.

Cha mở nắp tráp. Bên trong có một lớp lụa đỏ thẫm gấp bốn, cha cẩn thận vén lớp lụa ra. Dưới lớp lụa là một mảnh ngọc bội. Mảnh này khác mảnh muội có. Mảnh muội có bên trong quyển sách trên giá tường tây khắc hai chú lân chầu, mảnh này lại khắc hai đoá hoa lê nở chồng đôi. Nhưng chất ngọc thì giống hệt, cùng một loại ngọc Điền trong veo, cùng một độ mờ ấm không sắc chói, cùng một hoa văn viền cạnh có xoi rãnh nhỏ để hai mảnh gộp vào có thể khớp khít.

Cha nhấc mảnh ngọc lên, đặt vào lòng tay muội.

Tay cha to, tay muội nhỏ, mảnh ngọc lạnh mà ấm, nằm ngay chính giữa lòng tay muội như một chú chim non đứng nghỉ chân giữa mùa xuân.

Cha nói: “Đây là mảnh còn lại của ngọc bội gia truyền Cố phủ. Từ ngày cha đưa cho con mảnh kia dưới gốc lê chín năm về trước, mảnh này cha vẫn giữ trong tráp gia phả, đợi con lớn, đợi con có nơi ưng. Hôm nay cha đưa cho con.”

Muội ngước mắt lên nhìn cha.

Cha nhìn muội, nhìn kỹ như hôm nào cha nhìn khi cha đưa mảnh ngọc đầu tiên, chỉ khác hôm nay mắt cha đỏ hơn, khoé mắt cha có nếp nhăn muội chưa từng chú ý thấy trước.

Cha tiếp, giọng đều mà chậm: “Đêm tân hôn, con đưa mảnh này cho Nghiệt. Hai mảnh gộp vào là biểu tượng gia truyền của Cố phủ. Từ nay cũng là biểu tượng của hai đứa con. Cha không cho một mảnh riêng, cha cho cả hai mảnh cùng một lúc để hai đứa con cùng giữ. Nghiệt là con nuôi cha, sau này cũng là chồng con. Ngọc chia đôi ai giữ cũng như ai, quan trọng là gộp lại có thành một.”

Muội nắm chặt mảnh ngọc trong tay. Ngón tay muội hơi run, không phải vì lạnh, mà vì lời cha. Ông bà mình có câu, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, nhưng cha muội không đặt, cha muội trao. Cha trao vào tay muội cả một truyền thống chín đời của Cố phủ, không phải để muội bó buộc, mà để muội có gốc rễ trong tay khi bước chân sang một đời khác.

Muội nghẹn một tiếng, không nói được. Chỉ đưa mảnh ngọc lên áp vào má, khép mắt lại một khắc.

Cha đặt tay lên đầu muội, khẽ xoa. Tay cha to và ấm, xoa đúng chỗ mềm nhất trên đỉnh đầu, xoa đúng nhịp đã xoa suốt chín năm nay, không đổi.

“Con đi cất mảnh ngọc cẩn thận. Đừng để lộ như hôm hộp trang sức nữa. Đến đêm tân hôn con mới lấy ra.”

“Vâng cha ơi.”

Muội quay lưng, cầm mảnh ngọc bọc lại vào lớp lụa đỏ, ôm nó vào ngực, đi về phòng mình.

Trong phòng, muội đóng cửa, khoá then. Muội bước đến bên giá sách sát tường tây, rút ra quyển Nhã Vịnh Thi Tuyển. Muội mở đến trang một trăm hai mươi ba, chỗ có bọc lụa xanh. Mảnh ngọc thật có ba nét chấm mực vẫn ngủ ngoan trong ấy, sáng trong như một giọt lệ đông cứng. Muội lấy mảnh ngọc mới cha vừa đưa ra, đặt cạnh mảnh ngọc cũ, hai mảnh nằm song song trên trang giấy Tuyên Thành.

Muội áp hai mảnh vào nhau. Cạnh xoi rãnh nhỏ khớp khít. Hai chú lân chầu bên này, hai đoá hoa lê bên kia, gộp thành một khối tròn nhỏ vừa lòng bàn tay.

Trong đầu, tôi khẽ thở ra một hơi rất dài, hơi thở của người đã đợi rất lâu.

Muội tách hai mảnh ra, bọc lại vào hai lớp lụa riêng, một xanh một đỏ, đặt cạnh nhau ở trong quyển sách. Mảnh có ba nét mực muội để bên trái, mảnh cha vừa đưa muội để bên phải. Muội gấp quyển sách lại, đặt trở về giá sách, đúng giữa quyển Chu Tử Ngữ Loại và quyển Thượng Thư Chú Sớ, ba quyển bìa gấm nâu xếp thẳng hàng như chưa từng ai động vào.

Muội đứng bên giá, gõ hai ngón lên gáy quyển Nhã Vịnh.

“Ngủ ngoan cả hai đứa. Đợi ta thêm hai tháng nữa. Đêm tân hôn ta đưa cả hai đứa ra sáng.”

Ngoài cửa sổ hướng đông, gió sớm đầu hạ nhẹ nhàng thổi qua, mấy cánh hoa lê muộn màng cuối cùng cũng rời cành, rơi xuống bậu cửa gỗ đàn hương, đọng lại thành một chấm trắng nhỏ như một dấu hôn của mùa xuân đã đi qua để dành lại cho mùa hạ sắp tới.

Muội ngồi xuống bên bàn học, mở quyển Thi kinh chép dở, chấm bút mực. Chữ đầu tiên muội chép hôm nay là chữ “quy”, trong câu “Chi tử vu quy, nghi kỳ thất gia”, nghĩa là “cô gái ấy về nhà chồng, hợp với gia đình mới”. Tay muội đưa bút chậm, mực đen chảy mượt trên giấy Tuyên Thành như một dòng sông nhỏ chảy chậm về biển.

Trong đầu, tôi cong khoé môi cười một mình.

Chín năm rồi, cuối cùng cũng đến ngày này. Con mèo con trong bụng muội, cái con mèo đã lo lắng, đã căng thẳng, đã đợi chờ suốt chín năm liền, cuối cùng cũng có thể duỗi mình, cuộn tròn dưới một tấm chăn bông ấm, ngủ một giấc thật ngon. Đêm tân hôn còn hai tháng nữa. Hai tháng để mẹ đo áo cưới thêm hai lần. Hai tháng để cha viết thư mời họ hàng xa. Hai tháng để đại ca chép thiếp mời bằng chữ đẹp. Hai tháng để nhị ca chọn ngựa dẫn dâu.

Hai tháng để muội đợi gặp tam ca.

Ba hôm nữa là lễ nhận sắc phong quận chúa. Ba hôm nữa muội sẽ vào cung. Ba hôm nữa muội sẽ gặp lại tam ca. Từ hôm tam ca lộ thân phận đến hôm nay đã gần hai mươi ngày rồi, mà muội chưa được nghe tam ca nói một câu, chưa được nhìn tam ca gần hơn một cái vẫy tay từ xa qua sảnh cung ba hôm trước khi đối chất Vân tỷ.

Muội đặt bút xuống một khắc, tay bất giác đưa lên chạm vào chỗ ngực trái, ngay dưới lớp áo hoa đào.

Chỗ ấy đang đập một nhịp thật đều, thật ấm, thật ngoan.

Muội cầm bút lên, chép tiếp câu sau. Chữ “hợp” trong “nghi kỳ thất gia” muội viết nắn nót hơn một chút, để nét mực đen đọng lại đầm hơn trên trang giấy trắng. Ông bà mình có câu, thương nhau chín đợi mười chờ, chín năm muội đã đợi, hai tháng cuối cùng này thì đợi thêm được.

Bên ngoài, mèo tam thể vẫn nằm khoanh trên mái ngói. Một cánh hoa lê rơi trúng đuôi nó, nó quẫy đuôi một cái, cánh hoa bay xuống sân, đọng lên tấm áo triều màu tía cha vừa cởi ra treo trên giá phơi trong hành lang. Cha nhìn cánh hoa, khẽ cười một mình, rồi vào thư phòng viết thư mời họ hàng.

Trong hầu phủ, mọi thứ vẫn đều đều, ấm ấm, ngoan ngoan, như đường phèn tan chậm trong một chén trà nóng đầu hạ.