Hoài Cổ Truyện

Ta Xuyên Thành Muội Muội Út Của Hầu Phủ

Chương 4: Mẹ Dạy Chữ

Muội tỉnh dậy khi ánh nắng đầu ngày mới lọt qua khe rèm gấm, rơi một vệt vàng mảnh trên chăn bông thêu hoa lê. Mảnh ngọc bội đeo ở cổ vẫn nằm trên xương đòn, mát lạnh, hơi ẩm vì sương đêm chưa tan hết ra khỏi da. Muội đưa tay bé xíu chạm vào, xoay nhẹ mặt trong. Ba nét chấm mực đêm qua muội lén khắc bằng đầu trâm bạc vẫn còn đó, nằm nép bên rìa, nhỏ bằng đầu kim, chỉ ai biết mới nhìn ra.

Ta thở phào một hơi rất dài. Ta của kiếp trước từng khoá cửa xe kiểm tra ba lần mới đi ngủ nổi, giờ ta đeo bằng chứng sinh tử trên cổ mà vẫn ngủ được, kể ra cũng lì.

Bên ngoài có tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Nha hoàn Bích Đào bưng chậu nước đồng, hơi nước bốc lên thơm mùi cánh hoa quế phơi khô. Nàng ta chừng mười bốn tuổi, mặt tròn, hai má lúc nào cũng ửng hồng như trẻ con lén ăn đường phèn. Bích Đào cúi người:

“Tiểu thư, tới giờ rửa mặt. Phu nhân bảo, sáng nay tiểu thư sang thư phòng bên đông, phu nhân dạy chữ.”

Muội “dạ” một tiếng. Giọng còn ngái ngủ, phát ra là “gạ” nghe rất buồn cười. Bích Đào che miệng, cười khe khẽ.

Muội để nàng ta lau mặt, chải tóc, buộc hai chỏm lên đỉnh đầu bằng dải lụa hồng. Trong gương đồng nhỏ đặt trên bàn son, một khuôn mặt bé bằng nắm tay nhìn ta chớp chớp mắt: má bầu bĩnh, mắt đen tròn như hai hạt nhãn, môi hơi hồng như cánh hoa lê rụng chưa khô nắng. Ta còn chưa quen. Kiếp trước ta hay đứng trước gương chỉnh cà vạt, giờ ta chỉnh dải lụa hồng buộc tóc, thế giới sao mà đảo lộn.

“Tiểu thư.” Bích Đào chạm nhẹ vào vai muội. “Bộ áo màu hoè này của tiểu thư đẹp lắm. Phu nhân chọn hôm qua, bảo hôm nay tiểu thư mặc đi học chữ.”

Áo lụa mỏng màu hoè non, cổ viền chỉ bạc, thắt lưng dệt hình mây bốn cánh. Muội mặc vào, hai tay ngắn cũn cỡn thò ra khỏi ống tay, trông như con búp bê bằng gỗ ai vẽ thêm cho hai ngón cái. Ta cúi xuống nhìn hai chiếc giày thêu bươm bướm, cười khan trong bụng: “Cố tiểu thư ơi, kiếp này ngươi tha hồ mặc đẹp.”

Muội bước ra sảnh chính, cha đã đi triều từ sớm, đại ca ngồi ngay ngắn ở bàn ăn, tay cầm sách, bên cạnh là bát cháo bạch quả nóng bốc khói. Nhị ca Cố Nghê ngồi đối diện, tóc còn chưa buộc gọn, đang mút một cái bánh nếp đầy đậu xanh, má phồng lên như con sóc con.

“Muội muội!” Nghê thấy muội, nhả bánh, chạy tới. “Muội hôm nay đẹp hoá thần rồi, nhị ca đi khoe cha!”

Đại ca gõ nhẹ đầu Nghê:

“Cha đi triều rồi. Khoe với ai.”

“Vậy tối cha về, huynh khoe cha luôn.” Nghê nhất định không chịu thua. “Cha chưa thấy muội mặc áo hoè bao giờ.”

Muội cười, chân bé lon ton chạy tới, giơ hai tay lên, nhị ca hiểu ý, cúi xuống bế muội đặt lên chiếc ghế cao có kê thêm gối. Bát cháo bạch quả trước mặt, thìa sứ trắng vẽ hoa mai. Muội cầm thìa, tay còn run, một giọt cháo rơi xuống mép áo. Nghê “ối” một tiếng, đại ca đã tiện tay đưa khăn lau. Ta trong lòng thở nhẹ. Ở nhà này, chưa kịp làm sai điều gì đã có người đỡ giúp, cưng chiều đến độ ta thấy có lỗi.

Ăn xong, Bích Đào đưa muội qua hành lang gỗ dài, đi ngang qua hoa viên. Cây lê bốn mươi năm tuổi hôm nay chưa đến mùa nở, chỉ có lá non xanh ngăn ngắt và mấy con chim sẻ nhảy lóc cóc trên cành. Ánh nắng rơi qua kẽ lá, đổ xuống nền gạch những vệt vàng lung linh như cá vàng bơi. Muội đi chậm, thân xác sáu tuổi bước ngắn, phải đi ba bước Bích Đào mới đi một, mà không hiểu sao ta chẳng thấy sốt ruột. Kiếp trước ta luôn chạy, giờ ta được đi chậm, được nhìn kỹ từng viên đá lát đường.

Thư phòng bên đông là chỗ mẹ. Cửa khép hờ, đã có mùi giấy tuyên thành và mùi mực Huy Châu thoảng ra, thơm thanh và hơi tanh như nước mưa đầu mùa. Bích Đào đẩy cửa, cúi mình:

“Bẩm phu nhân, tiểu thư đến.”

Mẹ ngồi ở án thư dài, mặc áo lụa xám tro thêu cành tùng bạc, tóc búi cao cài trâm ngọc. Tống thị đích thị là danh môn văn phái ra, tay bà mảnh mà thẳng, ngón dài, đang cầm một cây bút lông thỏ lông trắng như tuyết. Nghe tiếng, mẹ ngẩng lên, mắt sáng dịu, một nụ cười rất nhẹ nở ra khoé miệng.

“Đường Đường sang rồi. Vào đây với mẹ.”

Ta bỗng thấy hơi thở nghẹn ở cổ. Kiếp trước ta chưa bao giờ được ai gọi bằng cái tên có hai âm ngọt như thế. Kiếp trước, mẹ ta gọi ta là “con”, giọng lúc nào cũng gấp, cũng cứng, cũng bận. Bây giờ tiếng “Đường Đường” bay tới mũi ta như hơi nồi cháo đường phèn ba đêm còn nóng.

Muội chạy đến, ôm chân mẹ, mặt ngước lên:

“Mẹ ơi, muội đến rồi.”

Mẹ cúi xuống bế muội đặt lên chiếc ghế nhỏ mà mẹ đã cho người khiêng ra từ hôm qua, kê thêm hai chồng sách bên dưới cho vừa tầm án thư. Bàn mẹ trải một tờ giấy tuyên trắng ngà, nghiên mực đã mài sẵn, đen bóng, thoang thoảng mùi trầm.

“Con biết mẹ hôm nay dạy con gì không?”

“Dạ, mẹ dạy con viết chữ.” Muội đáp, tay bé đưa lên nghịch mép áo mẹ. “Đại ca nói học chữ khó lắm.”

“Không khó đâu con.” Mẹ vuốt tóc muội, giọng nhẹ như đang ru. “Mẹ dạy chậm. Con cầm bút cho đúng trước.”

Mẹ đặt cây bút lông thỏ nhỏ vào tay muội. Bút chỉ dài bằng một gang tay ta của kiếp trước, mà đối với thân xác sáu tuổi này, nó nặng như một khúc gỗ. Muội cầm, ngón tay bé xíu run run. Mẹ dùng tay mình bao lấy tay muội, ngón tay bà mát và mảnh, dạy cách kẹp bút giữa ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa.

“Đầu bút chấm mực. Nhẹ thôi. Nhấc lên cho ngấm.”

Ta nhớ mình từng viết văn mười lăm năm bằng bàn phím, viết bằng bút bi, viết bằng phấn trên bảng đen của một lớp học đêm ta dạy thêm. Tay ta đã cầm biết bao nhiêu thứ để viết, nhưng chưa bao giờ cầm một cây bút lông có ngòi mềm và ẩm nước như thế này. Nét mực đầu tiên ta chấm xuống giấy tuyên, loang ra hình một cánh sao. Ta hoảng, lại giật tay lên. Mẹ cười khe khẽ.

“Không sao. Cánh sao đầu tiên của Đường Đường. Mẹ giữ.”

Bà lấy tờ giấy dây mực đó, gấp làm tư, để riêng sang một bên. Ta nhìn theo, trong bụng bỗng cồn cào. Đấy chỉ là một vệt mực loang, mà mẹ giữ như thể ta vừa vẽ ra hoa mẫu đơn.

“Mẹ dạy con chữ đầu tiên nhé. Chữ ‘nhân’.”

Mẹ viết một chữ “nhân” mẫu lên trên tờ giấy khác, chậm rãi: một phẩy trái, một phẩy phải, hai nét như hai chân người đứng vững trên đất. “Nhân là người, Đường Đường. Đứng cho vững thì mới thành người.”

Muội “dạ”. Nội tâm ta nhớ đến sách Tam Tự Kinh mà thầy dạy Hán Nôm ở đại học từng đọc, tự dưng thấy nao nao. Muội cầm bút, hít một hơi rất khẽ. Ta nhắc mình: sáu tuổi. Đứa trẻ sáu tuổi thì phẩy trái sẽ đi quá đà, phẩy phải sẽ chệch, nét sẽ đứt quãng. Ta phải viết cho đúng cái vụng của một đứa trẻ.

Nét phẩy trái muội đưa hơi run, dài quá một chút. Nét phẩy phải đi tới giữa thì hết mực, muội đành nhấc bút chấm lại, viết tiếp. Kết quả chữ “nhân” trên giấy có vẻ ngã nghiêng như người say. Muội ngoảnh nhìn mẹ, hơi tiu nghỉu, giọng mềm ra:

“Mẹ ơi… muội viết xấu.”

Mẹ cầm tờ giấy lên, ngắm nghía, rồi cúi xuống hôn nhẹ lên trán muội:

“Không xấu đâu. Chữ ‘nhân’ của con có hồn. Nét phẩy trái con đi dài, nghĩa là con thương người. Nét phẩy phải con đi ngắn, nghĩa là con còn khiêm nhường. Con biết vì sao mẹ nhìn ra không? Vì mẹ là mẹ.”

Ta muốn khóc. Kiếp trước lúc điểm ta thi được chín phẩy tám, mẹ ta chỉ hỏi “sao không tròn mười”. Kiếp này muội viết một chữ méo xẹo, mẹ nhìn ra thương người và khiêm nhường. Cùng là “mẹ”, mà khác nhau như trời với đất.

Ta cầm bút chấm mực, viết thêm chữ “nhân” thứ hai. Lần này thẳng hơn. Rồi lần thứ ba. Thứ tư. Mẹ ngồi kế bên, thỉnh thoảng đặt tay lên tay muội chỉnh lại thế cầm. Không giục. Không so. Không nhắc con nhà khác. Chỉ nhìn muội viết như đang xem một cánh hoa lê nở ra chầm chậm.

Đến chữ thứ mười, tay muội mỏi. Muội bỏ bút. Mẹ ngoảnh gọi Bích Đào bưng một chén nhỏ, bên trong là một cục đường phèn to bằng đầu ngón cái, thả trong nước hoa nhài ấm. Muội bưng chén, hai tay còn vụng, hít mùi hoa nhài thấy hơi ấm chảy từ mũi xuống bụng. Đường phèn ngậm trong miệng, ngọt dịu, có mùi cỏ mật. Ta nghĩ, nếu ai hỏi “tuổi thơ vị gì”, ta sẽ nói vị đường phèn ngâm hoa nhài trong buổi học chữ đầu tiên.

Uống hết, muội đưa chén cho Bích Đào. Mẹ đưa lại bút, cười:

“Con viết một chữ nữa cho mẹ nhé. Chữ nào cũng được. Miễn là con muốn.”

Ta khựng lại nửa giây. Mẹ đang thử. Không phải thử theo kiểu chấm bài. Chỉ là mẹ muốn biết trong đầu đứa con gái sáu tuổi vừa xuất hiện một tia sáng lạ có gì. Ta có thể vẽ nguệch ngoạc một hình tròn, đóng vai “trẻ con chưa biết chữ”, mẹ sẽ cười, chấm dứt buổi học, mọi thứ trôi qua.

Nhưng tay muội đã đặt lên bút, và ta thấy có một cái gì trong lồng ngực muội đẩy lên. Không hiểu vì sao, muội chấm mực, viết chữ “gia” trước, rồi bên cạnh viết chữ “ái”.

Hai chữ này không có trong bài Mẹ dạy hôm nay. Không có trong sổ tập của một đứa trẻ sáu tuổi. Chữ “gia” (家) có bộ miên trên đầu, dưới là con lợn, cấu trúc mười nét, không phải đơn giản. Chữ “ái” (愛) càng phức tạp: đầu là bộ hoặc, giữa là “tâm”, dưới là “phe phẩy” đi xuống, tổng cộng mười ba nét. Đứa trẻ sáu tuổi chưa từng học chữ đâu ra viết được hai chữ ấy.

Muội đặt bút xuống. Nét chưa đẹp, còn xiêu vẹo, nhưng đủ nhận ra. Mẹ nhìn tờ giấy, tay cầm chén trà đang nâng lên nửa chừng đứng khựng lại trong không khí.

“Đường Đường.”

Giọng mẹ vẫn dịu, nhưng đã có một sợi tơ giăng ngang trong đó. Ta biết. Ta biết ngay. Ta trong lồng ngực muội đập thình thịch.

“Con biết chữ này rồi?”

Muội ngước lên, mắt tròn ra hết cỡ, ta cố ép trong đầu là “sáu tuổi, sáu tuổi, sáu tuổi”, nhìn mẹ với sự bối rối của một đứa bé bị bắt quả tang lấy trộm bánh:

“Muội… muội nhìn đại ca viết.”

Mẹ đặt chén trà xuống án, không phát ra tiếng, mà ta vẫn nghe rõ như tiếng gõ trong ngực mình. Bà cúi xuống ngang tầm mắt muội, tay đưa lên vuốt tóc muội một cách rất chậm.

“Đại ca viết bao giờ?”

“Muội… muội hôm qua đứng ngoài thư phòng đại ca. Đại ca viết trên giấy đỏ để dán cửa. Muội thấy chữ đẹp, muội học.”

Chỉ có “gia” và “ái” là hai chữ đầu tiên ta bật ra khỏi tay bút vì trong lòng ta đang có hai chữ ấy thật. Nhưng cái cớ ta nghĩ ra không phải hoàn toàn dối. Đại ca hôm kia có ngồi ở thư phòng viết mấy câu đối luyện chữ để chuẩn bị tiết thu, muội có đi qua thật. Ta ghép hai sự thật thành một câu nói, nghe trong tai chính mình cũng thấy trơn tru.

Mẹ nhìn muội. Rất lâu. Trong ánh mắt bà không có nghi ngờ theo kiểu nghiêm khắc, chỉ có một cái gì đó dịu, ấm, hơi lấp lánh, giống người vừa nhặt được viên đá đẹp bên đường mà chưa biết đó là ngọc hay là thuỷ tinh.

Cuối cùng mẹ mỉm cười:

“Ừ. Con giỏi. Đại ca thương con thế nào mà con nhìn một lần là nhớ.”

Ta thở ra một hơi rất khẽ. Ta biết mẹ chưa hoàn toàn tin. Ta biết mẹ đã cất chuyện này vào một ngăn nào đó trong đầu bà, sẽ đem ra hỏi lại một lúc khác. Nhưng lúc này bà chọn tin.

Bà kéo muội vào lòng, hôn lên tóc muội một cái, giọng thấp xuống:

“Đường Đường của mẹ thông minh. Nhưng nhớ nhé, con còn nhỏ. Việc học từ từ. Chữ ‘gia’ con viết đẹp lắm, nhưng nhà mình rộng, mẹ có cả đời để dạy con. Không cần vội.”

“Dạ.” Muội nép vào áo mẹ, mùi hương lan pha trầm nhẹ trên vạt áo bà làm ta muốn nhắm mắt. “Muội không vội.”

Ta trong đầu vừa cắn răng vừa cười khan: kiếp trước ta viết luận án tiến sĩ vẫn không được mẹ ôm như thế này. Đúng là gieo gió gặt bão, muội gieo hai chữ vụng nhất kiếp cũ, gặt lại một cái ôm ấm nhất kiếp mới.

Buổi học kết thúc lúc gần trưa. Mẹ gấp mấy tờ giấy có chữ muội viết, xếp lại thành một tập nhỏ, buộc dây gấm đỏ, để lên án thư của bà. “Của Đường Đường ngày đầu học chữ, mẹ giữ.” Ta nghe câu này, mắt cay như có ai vắt chanh vào.

Ăn cơm trưa cả nhà đông đủ. Cha về sớm hơn thường lệ, vẫn còn khoác áo triều màu đỏ tía, tay cầm cái quạt gấp ngà. Vừa vào tới sảnh, cha đã oang oang:

“Đường Đường đâu rồi? Nghe nói sáng nay học chữ với mẹ, chữ đầu tiên có đẹp không?”

Nhị ca nhanh mồm: “Muội viết chữ ‘gia’ đẹp lắm cha. Mẹ cất vào tập.”

Cha ngạc nhiên: “Chữ ‘gia’? Đường Đường mới học ngày đầu mà đã ‘gia’ rồi à?”

Ta thấy tim mình lại nhảy một cái. Mẹ ngồi bên, không đáp thay muội, mà chỉ liếc muội một cái rất nhẹ, ý là “con tự trả lời cha nhé”. Muội đứng dậy trên ghế đệm, hai tay chắp lại như trẻ con học đóng lễ, mắt to nhìn cha:

“Cha ơi, muội nhìn đại ca viết ạ.”

Cha “ha ha” một tràng, tay đập nhẹ vào đùi:

“Trẻ con nhà ta bắt chước mà cũng bắt chước ra chữ. Cha nói đúng không phu nhân, con gái út của chúng ta trứng khôn hơn vịt!”

Cả nhà cùng cười. Đại ca đỏ mặt cãi: “Cha, muội học chữ, chứ có phải trứng và vịt gì đâu.” Nhị ca vỗ tay: “Trứng khôn hơn vịt! Trứng khôn hơn vịt!” Nhị ca vừa xướng vừa múa cái đũa, mẹ phải lườm cho một cái mới thôi.

Ta trong lòng cười theo, lòng ấm mà cũng hơi thấp thỏm. Mẹ ngồi cuối bàn, đưa mắt qua chỗ muội một lần nữa. Ánh mắt vẫn dịu, nhưng ta biết, trong ngăn đầu mẹ vừa có thêm một hạt cát mới, chưa lắng.

Cơm trưa xong, cha bế muội về phòng ngủ trưa, mẹ đi theo tận cửa mới quay lại. Muội nằm xuống chăn bông, cha ngồi cạnh phe phẩy quạt cho tới khi muội nhắm mắt giả vờ ngủ, cha mới rón rén đi ra. Ta mở mắt, nhìn trần lụa vàng, thở dài.

Ta phải cẩn thận hơn. Đứa trẻ sáu tuổi có thể bắt chước hai chữ, nhưng nếu tuần sau muội bắt chước ra thêm mười chữ, mẹ sẽ không tin nữa. Ta không thể để mẹ nghi. Ít nhất chưa. Còn tận mười hai năm nữa mới đến lúc mọi thứ ngã ngũ, ta phải tồn tại được đến ngày đó.

Chiều muội ra vườn chơi. Nghê rủ đá cầu, muội chỉ chơi được ba lần đã ngã. Đại ca đọc sách dưới gốc lê, thấy vậy chạy ra ôm muội dậy, xoa đầu gối. Bích Đào chạy lại thổi phù phù cho đỡ đau. Tất cả xúm quanh muội như xúm quanh một cái chén sứ mỏng, ai cũng sợ vỡ.

“Nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa.” Ta trong bụng nhớ câu thành ngữ mẹ ta kiếp trước hay đọc, cười khe khẽ. Kiếp này có người nâng muội thật, đúng như trứng, đúng như hoa. Muội phải giữ, phải cẩn thận, để trứng đừng nứt, để hoa đừng héo.

Buổi tối, đèn dầu trong phòng đã thắp. Ánh đèn vàng rung khe khẽ trên bức tường lụa, hắt bóng muội thành một khối tròn nhỏ ngồi bó gối trên giường. Bích Đào đã lui ra, cửa khép kín. Ngoài cửa sổ, gió đêm thổi cành lê rung nhè nhẹ, có tiếng cạch cạch của lá đập vào chấn song gỗ.

Muội mở tay ra, mảnh ngọc bội nằm trong lòng bàn tay bé xíu. Ba nét chấm mực bên trong vẫn còn. Ta nhìn nó rất lâu.

Ta lẩm bẩm với chính mình bằng giọng người lớn kiếp cũ, khe khẽ, chỉ mình ta nghe:

“Cẩn thận, ngươi ơi. Đừng viết chữ nữa. Đừng nói câu nào không hợp tuổi. Đừng để mẹ nhìn ra. Ngươi sống được đến ngày ấy, phải nhờ đóng vai.”

Rồi ta cắn môi. Ta biết ta vừa nói dối chính ta. Ta không phải chỉ đóng vai. Ta thật sự thấy mình muốn được là “Đường Đường”, muốn được mẹ ôm, muốn được cha bế, muốn được đại ca gõ đầu, muốn được nhị ca giành cầu. Càng muốn thật, ta càng dễ lỡ tay. Ta đã lỡ tay hôm nay bằng hai chữ “gia” và “ái”.

Bên ngoài cửa, có tiếng bước chân rất nhẹ. Không phải Bích Đào, Bích Đào bước có tiếng dép mềm. Đây là tiếng giày lụa của một người lớn, đi kiểu người quen giấu bước. Ta trong lồng ngực muội cứng lại nửa giây, rồi ta lặng lẽ đút mảnh ngọc bội vào trong áo, nằm xuống chăn bông, nhắm mắt, thở đều.

Tiếng bước dừng ngay ngoài cửa. Không gõ. Không đẩy cửa. Đứng đó.

Rồi ta nghe rất rõ giọng mẹ, thấp, gọi Bích Đào. Bích Đào đang trực ở gian ngoài, “dạ” một tiếng, chạy tới. Cửa gian ngoài mở ra khép lại, cách phòng muội một lớp bình phong gấm.

Giọng mẹ hạ xuống, nhưng đêm khuya, không gian yên tĩnh, ta vẫn nghe rõ từng chữ:

“Bích Đào, dạo này Đường Đường có gì lạ không?”

Bích Đào ngập ngừng: “Bẩm phu nhân… tiểu thư ngoan hơn. Ăn hết bát cháo, không nhè cơm nữa. Cũng ít khóc hơn. Sáng nay tiểu thư còn tự đi giày một chân… nhưng đi lộn bên.”

Có một khoảng im lặng dài. Ta gần như nghe thấy tiếng mẹ đang nghĩ.

“Còn gì nữa?”

“Bẩm… tiểu thư nhìn mọi người khác hơn.”

“Khác thế nào?”

Bích Đào có vẻ khó nói, ngập ngừng một hồi. “Bẩm… tiểu thư nhìn phu nhân, lão gia, các thiếu gia… như là… đã nhìn từ lâu lắm rồi. Không phải mắt trẻ con nhìn lần đầu ạ.”

Ta gần như nín thở. Bích Đào mới mười bốn tuổi, cái nhìn của nàng ta tinh không ngờ. Ta cứ nghĩ mình đã diễn kín, ai ngờ diễn với người lớn thì kín, với đứa nha hoàn quen ta từ nhỏ lại hở ra.

Mẹ không đáp. Rất lâu. Rồi ta nghe tiếng thở dài của mẹ, một tiếng thở rất nhẹ, vừa đủ vọng qua bình phong.

“Con giữ chuyện này trong lòng. Không nói với ai. Kể cả lão gia.”

“Dạ.”

“Tiểu thư ta là con của ta, sống chết trong tay ta. Nếu có chuyện gì lạ, ta phải là người đầu tiên biết. Nhưng ta cũng phải là người cuối cùng làm nó tổn thương. Con hiểu chưa?”

“Dạ, bẩm phu nhân.”

Ta nghe câu đó, nước mắt trong khoé mắt muội cứ thế trào ra, chảy xuống gối bông, thấm một vệt tròn nhỏ. Ta không dám lau. Ta sợ tay động, mẹ nghe. Ta nằm cứng, mắt nhắm, để nước mắt đi theo đường của nó xuống mép gối.

Bên ngoài, tiếng bước chân mẹ rời đi, chậm hơn lúc tới. Bích Đào đóng cửa gian ngoài rồi lui ra. Cả phòng lại chỉ còn tiếng đèn dầu tí tách, tiếng cành lê đập nhẹ vào song.

Ta nằm im rất lâu. Rồi ta khẽ đưa tay lên, chạm vào mảnh ngọc bội trong áo. Ba nét mực vẫn còn. Cửa ải với Lâm Tú Vân còn ở phía trước, ta còn kịp lo. Nhưng cửa ải với mẹ, ta đã lỡ mở he hé từ hôm nay, và mẹ đã nhìn vào rồi.

Ta thở ra một hơi run run. Mẹ đã hơi nghi. Không phải nghi ta là ai khác, mà nghi có một cái gì trong đầu con gái út của bà không giống mọi đứa trẻ sáu tuổi khác. Mẹ chưa hỏi. Mẹ đang đợi. Đợi ta tự lộ ra, hay đợi bà tự nhìn ra, ta không biết.

Ta biết một điều: từ ngày mai, mỗi câu ta nói, mỗi chữ ta viết, mỗi ánh mắt ta nhìn cha, mẹ, các huynh, đều sẽ có một đôi mắt dịu dàng mà tinh tường của mẹ đang theo. Ta không sợ đôi mắt ấy. Ta chỉ sợ, chưa đến lúc, mà mẹ đã nhìn thấu.

Đèn dầu ấm phập phồng một cái, hơi ngả về phía cửa, như có gió luồn qua khe. Ta khép mắt lại, tay ôm chặt mảnh ngọc bội trong áo. Ngoài kia, một cánh hoa lê non chưa nở rụng xuống ngưỡng cửa, không tiếng.