Nữ Họa Sư Bước Ra Từ Tranh Mỗi Đêm

Chương 1: Canh Ba

Trong phòng tối, một cánh tay trắng vươn ra khỏi bức tranh, kéo theo cả người ta.

Ta đặt chân xuống sàn gỗ. Sàn lạnh. Năm trăm năm rồi ta vẫn chưa quen cái lạnh của sàn gỗ lúc canh ba, dù đêm nào ta cũng đặt chân lên nó.

Bức Quan Âm treo trên vách sau lưng ta. Ta bước ra từ khoảng lụa vẽ dở, chỗ tà áo tượng ta chưa kịp tô xong. Viền người ta còn mờ, như nét bút chưa khô, như mực loang chưa ăn hết vào giấy. Phải một lúc nữa ta mới rõ hình. Đầu canh ba lúc nào cũng vậy. Ta ra khỏi bức như người lội qua một lớp nước đục, mất một lúc mới thấy rõ bàn tay mình.

Trước mặt ta, một tiểu thư ngồi bên án.

Chừng mười sáu tuổi. Một tay đặt trên cây quạt lụa gấp. Một ngọn đèn dầu vặn thấp, quầng vàng chỉ đủ soi tới mép án và nửa khuôn mặt nó.

Con bé nhìn ta.

Nó không hét. Không lùi ghế. Không chắp tay niệm chú đuổi tà, không với lấy cái gì để ném. Ta đứng ngoài bức tranh, viền người còn nhoè, và con bé nhìn thẳng vào ta như nhìn một người khách tới trễ giờ hẹn.

“Nương nương giúp em.” Nó nói. “Mẹ kế đang giết em từng ngày.”

Ta không đáp ngay.

Năm trăm năm ta bước ra khỏi bức này. Người thấy ta thì ngất, thì bỏ chạy, thì về nhà sốt mê man mấy hôm rồi đem tranh đi bán tống bán tháo. Có một lão hoà thượng từng quỳ trước tranh gõ mõ suốt đêm, tưởng ta là điềm dữ báo trước tai ương. Có một bà goá mua bức về treo, đêm thứ ba dọn ra khỏi nhà, để lại tranh cho chủ nợ. Chưa ai nhìn thẳng vào ta rồi mở miệng nhờ ta một việc.

Con bé này gọi ta là nương nương, và nhờ ta cứu mạng nó.

Ta đảo mắt qua căn phòng một lượt, theo thói quen cũ. Phòng ngủ tiểu thư, kê ở góc đông một phủ đệ, xa chính viện. Giường có màn the, gấp gọn. Một cái rương gỗ khảm đồng ở chân giường, khoá. Trên giá sách có mấy quyển vở tập, gáy mòn. Không có tranh nào khác ngoài bức của ta mới treo. Cửa sổ hướng bắc, chấn song dày. Một căn phòng của người quen ngồi im, quen tự lo, quen không có ai vào.

Cây đèn dầu vặn thấp gần cạn. Con bé thức chờ ta từ đầu hôm, ta đoán vậy. Nó biết ta ra lúc canh ba. Nó đã chờ mấy đêm rồi.

Ta bước lại gần án. Bước chân ta không có tiếng. Ta nhìn con bé, nhìn như nhìn một bức chân dung cần vẽ truyền thần, nhìn để nhớ chứ không phải để thương.

Da mặt xanh xám. Không phải xanh vì sợ ma. Là cái xanh của người thiếu máu đã lâu, xanh ngả sang màu tro nguội. Môi nó không có màu, khô, có một vết nứt nhỏ ở khoé. Mí mắt trên sưng mọng, ấn vào chắc lõm xuống rồi mới đầy lại. Hai bàn tay gầy, gân xanh nổi rõ dưới lớp da mỏng.

Ta cúi xuống nhìn kỹ mấy đầu ngón tay nó.

Móng tay ngả màu chì. Ở chân móng có một đường ngang sẫm hơn phần còn lại, như ai lấy đầu bút than kẻ ngang một vạch mảnh.

Ta biết đường vạch đó. Ta từng thấy nó trên tay chính mình, năm trăm năm trước, khi ta còn soi tay mình dưới ánh đèn dầu trong phủ Lư đại nhân và tự bảo mình chỉ là vẽ nhiều quá nên gân tay mỏi.

“Ngươi mua bức tranh này ở đâu?” Ta hỏi.

“Tiệm đồ cổ phố Đông. Chủ tiệm nói bức này có ma, treo nhà nào nhà đó không yên. Bán rẻ, chỉ lấy tiền khung.” Con bé ngừng một nhịp. “Em đi tìm mua đồ trấn tà. Em nghe nói tượng Quan Âm cũ trấn được. Em không ngờ trong bức có nương nương thật.”

“Ta không phải thần Phật.” Ta nói. “Ta là hoạ sư. Chuyện đó để sau. Bây giờ ta hỏi, ngươi đáp.”

Con bé gật. Nó không hỏi vặn lại câu nào. Người bình thường thấy hồn ma bước ra từ tranh thì hỏi trăm câu, hỏi ngươi là ai, ngươi chết thế nào, ngươi có hại ta không. Con bé này hỏi đúng một câu ta vừa gạt đi, rồi thôi. Nó để dành sức. Ta hiểu kiểu người đó. Ta từng là kiểu người đó.

“Ngươi tên gì?”

“Vệ Cẩm Y.”

“Bao nhiêu tuổi?”

“Mười sáu. Qua rằm tháng bảy là mười bảy.”

Ta ghi vào trong đầu. Rồi hỏi tiếp.

“Ngươi mệt từ bao giờ?”

“Từ đầu xuân. Lúc đầu chỉ là ngủ dậy không lại sức. Rồi ăn không thấy ngon. Rồi đi vài bước phải ngồi. Ba tháng nay em gầy đi một vòng eo áo.” Nó nói gọn, không rề rà, như đọc lại một tờ ghi chép nó đã lập sẵn trong đầu. “Đại phu tới xem, bắt mạch, nói em thể chất bẩm sinh yếu, khí huyết lưỡng hư, dặn tĩnh dưỡng, uống thang bổ. Mẹ kế nói em khó ngủ, cho sắc thêm thang an thần mỗi tối. Uống thang an thần vào, sáng ra em càng mệt.”

“Ai bưng thang cho ngươi?”

“Ma ma Lưu. Nhũ mẫu của mẹ kế. Bà ấy tự tay pha ở dược phòng cạnh chính viện, tự tay bưng sang, đứng nhìn em uống hết rồi mới cầm chén đi. Không cho nha hoàn của em đụng vào.”

“Mẹ kế ngươi tên gì?”

“Chu thị. Cha em tục huyền ba năm trước. Bà ấy có một con trai riêng với cha em, Vệ Tòng, tám tuổi.” Con bé nói tới đây thì giọng chậm lại nửa nhịp. “Trước mặt người ngoài, bà ấy hiền với em lắm. Ai cũng khen cha em có phúc, lấy được người kế mẫu thương con chồng như con đẻ. Biết người biết mặt không biết lòng. Chỉ có em biết, chén thuốc bà ấy sai người bưng sang mỗi tối, uống vào là sáng hôm sau đứng lên phải vịn tường.”

Ta gật một cái. Ghi vào trong đầu. Ta không có giấy dâu, không có bút mực đỏ như hồi còn sống. Nhưng cái đầu này ta vẫn dùng được. Ta nhìn một lần là nhớ.

Ta cúi xuống án.

Trên án có một chén thuốc uống dở. Cặn đọng đáy chén, sền sệt, màu nâu đục. Bên cạnh là một cái khăn tay con bé vắt hờ, mép khăn có vết ố vàng, chắc lau miệng sau khi uống. Ta đưa mũi lại gần chén.

Hồi còn sống, ta pha màu vẽ. Màu đá nghiền, màu cây nấu, keo da trâu. Nghề pha màu dạy mũi ta nhạy hơn mũi người thường, nhạy tới mức ngửi ra một hũ chu sa bị trộn lẫn một phần bột chì. Cái mũi đó chết theo ta, nhưng nó không rời ta. Năm trăm năm nay, ta ngửi được mùi trước khi thấy được hình.

Mùi thuốc bắc trước. Cam thảo, táo nhân sao, một ít phục thần. Thang an thần thường, nhà nào có tiểu thư khó ngủ cũng sắc loại này, không có gì lạ.

Dưới lớp mùi thuốc bắc, có một mùi khác.

Ngai ngái. Hơi tanh, cái tanh của kim khí bỏ quên ngoài sương một đêm. Và cuối cùng, đọng lại ở cuống mũi, một vị ngọt gắt. Ngọt kiểu cỏ non bị dập nát rồi đem phơi nắng gắt.

Ta đứng thẳng dậy.

Ta biết mùi này. Ta biết rất rõ mùi này. Rõ hơn ta muốn biết.

“Nương nương làm sao vậy?” Con bé hỏi. Giọng nó vẫn đều, nhưng bàn tay đặt trên quạt siết chặt hơn, đốt ngón trắng ra.

Ta nhìn chén thuốc. Rồi nhìn đầu ngón út tay phải của mình.

Ở đó có một giọt máu. Nó đọng ở đó suốt năm trăm năm, không khô, không rơi xuống. Đêm nay nó vẫn đọng, tròn và đỏ như vừa mới ứa ra.

“Chén thuốc này có độc.” Ta nói. “Không phải thang an thần đơn thuần. Trong thuốc bắc có trộn lệ sinh thảo.”

Con bé không hỏi lệ sinh thảo là cái gì. Nó chỉ ngồi im, hai mắt nhìn ta, chờ ta nói hết.

“Xác nhận: ngươi trúng độc mạn, không phải bệnh. Nguyên nhân: thứ ngươi uống mỗi tối. Cơ chế: lệ sinh thảo không giết ngay. Nó ngấm vào tạng, mỗi chén một phần, độc ngấm từng phần góp lại, không tự tan ra. Đủ độ thì tạng hỏng, người kiệt. Ngươi tắt như ngọn đèn cạn dầu, cạn từ từ, không ai nghe tiếng.”

Ta nhìn xuống móng tay nó lần nữa.

“Móng tay ngươi ngả chì tới nửa. Lợi ngươi rút, ta nhìn là biết. Ngươi uống thứ này chừng hai tháng. Cứ đà này, ba bốn tháng nữa ngươi chết. Chết trong giường, giữa ban ngày, có người hầu đứng bên. Không ai gọi đó là án mạng.”

Con bé đặt cây quạt xuống đùi. Nó không khóc. Nó thở ra một hơi dài, như vừa đặt xuống một gánh nặng nó vác trên vai từ lâu mà không nói với ai.

“Em nghi hai tháng nay.” Nó nói. “Em lén đổ bớt thuốc, nhưng không dám đổ hết, sợ khoẻ lên đột ngột bà ấy biết. Em không có bằng chứng. Em không biết là độc gì. Em không biết bà ấy lấy ở đâu. Em không kể với cha, cha đi buôn xa, mà cha ở nhà thì cũng nghe lời bà ấy.” Nó ngẩng lên nhìn ta. “Nương nương khám giỏi vậy.”

“Ta khám giỏi.” Ta nhìn chén thuốc trên án, cặn nâu đục dưới đáy. “Vì năm trăm năm trước, ta cũng chết vì đúng thứ này. Cùng một mùi. Cùng một cách. Có người mỗi tối bưng cho ta một chén trà, đứng nhìn ta uống hết, rồi cầm chén đi.”

Con bé ngồi im rất lâu. Ngọn đèn dầu trên án cháy hạ xuống một nấc, quầng sáng co lại.

“Nương nương chết rồi mà vẫn ngửi ra được.” Cuối cùng nó nói. “Vậy nương nương giúp em, em không chết.”

Ta không đáp câu đó. Ta chưa nhận lời. Ta chỉ nhìn cái vạch chì ở chân móng tay nó, cái vạch ta từng đếm trên tay mình từng ngày trong nửa tháng cuối đời.

Ngoài cửa sổ, một con chuột chạy trên xà nhà, kêu một tiếng nhỏ, rồi im.

Đầu ngón út ta lại đọng một giọt máu, như nó vẫn đọng suốt năm trăm năm nay.