Nữ Họa Sư Bước Ra Từ Tranh Mỗi Đêm
Chương 2: Xác Nhận, Nguyên Nhân, Cơ Chế
Ta cầm cổ tay con bé, xem mạch dưới ánh đèn dầu. Mạch trầm, tế, hoãn. Đúng như ta đoán.
Cổ tay nó nhỏ, xương ẩn dưới lớp da mỏng, lạnh hơn cổ tay người khoẻ. Ta ấn ba ngón lên chỗ mạch, giữ một lúc lâu. Mạch đi chậm, yếu, như sợi chỉ kéo qua nước.
“Ngồi im.” Ta nói. “Ta khám xong nói ngươi nghe.”
Con bé ngồi im. Nó quen ngồi im rồi, ta thấy vậy.
Ta lật bàn tay nó, xem lòng bàn tay, xem gốc móng. Vạch chì ở chân móng đã lên tới quá nửa. Ta banh nhẹ môi dưới của nó, nhìn lợi. Lợi rút khỏi chân răng một đường mảnh, màu nhạt hơn lợi người thường. Ta bảo nó há miệng, nhìn lưỡi. Rêu lưỡi trắng bệch, mỏng.
Ta buông tay nó ra. Ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Nói thành tiếng, chậm, từng chữ một, như đọc cho ai đó chép lại.
“Xác nhận. Ngươi trúng độc mạn tính. Không phải khí huyết hư bẩm sinh như đại phu nói. Người hư bẩm sinh thì yếu đều từ nhỏ, không phải đang khoẻ rồi kiệt dần trong nửa năm.”
“Nguyên nhân. Thang thuốc ngươi uống mỗi tối. Trong đó có lệ sinh thảo. Có thể còn đường khác, đồ ăn, nước uống, nhưng thang là chính, vì thang là thứ ngươi uống đều mỗi ngày một lượng bằng nhau.”
“Cơ chế. Lệ sinh thảo vào người thì đọng lại trong tạng, không theo mồ hôi nước tiểu ra ngoài. Mỗi chén một phần, phần này chồng lên phần kia. Người uống không thấy đau, chỉ thấy mệt, thấy chán ăn, thấy da xanh. Tới khi tạng chịu không nổi thì hỏng cả loạt. Lúc đó cứu không kịp nữa.”
“Thời gian. Nhìn móng tay ngươi lên chì tới đây, nhìn lợi ngươi rút chừng này, ta đoán ngươi uống được hai tháng, có lẽ hơn vài ngày. Nếu cứ uống tiếp, ba tháng nữa ngươi nằm liệt, bốn tháng nữa ngươi đi.”
Ta nói xong thì im.
Con bé ngồi nghe hết, không cắt lời ta câu nào. Nghe xong nó gật đầu một cái, như ta vừa xác nhận một chuyện nó tính sẵn trong bụng.
“Còn cứu được không?” Nó hỏi.
“Ngừng độc thì cứu được. Lệ sinh thảo đọng trong tạng thật, nhưng nếu ngươi thôi uống, người ngươi tự đẩy ra dần, chậm thôi, nửa năm một năm. Con bé mười sáu tuổi, tạng còn non, đẩy nhanh hơn người già.” Ta nhìn nó. “Cái khó không phải chữa. Cái khó là làm sao để ngươi thôi uống mà kẻ bỏ độc không biết ngươi đã thôi. Ngươi thôi uống công khai, bà ta đổi cách khác, cách sau có khi nhanh hơn cách này.”
“Vậy phải bắt được bà ấy.” Con bé nói. “Bắt tận tay, day tận mặt. Không thì em thoát chén này lại dính chén khác.”
“Ừ.” Ta nói. “Ngươi hiểu nhanh.”
“Nương nương ban ngày có ra được không?” Nó hỏi. “Ban ngày mẹ kế mới ra tay. Ban đêm bà ấy ngủ. Nếu ban ngày nương nương ra được, đứng cạnh em, thì em yên tâm hơn nhiều.”
Ta lắc đầu.
“Ta chỉ ra khỏi bức tranh được từ canh ba đến canh tư. Một canh giờ. Quá canh tư mà ta chưa vào, hồn ta tổn, mờ đi, quên mất từng mảng. Ban ngày ta ở trong tranh. Ta nghe được, thấy được lờ mờ những gì ở trước mặt bức tranh, ta nói được, tiếng ta vọng ra như từ sau một bức tường. Nhưng ban ngày ta không cầm được vật gì. Một tờ giấy ta cũng không nhấc nổi.”
“Vậy ban đêm nương nương cầm được không?”
“Ban đêm ta cầm được vật nhẹ. Bút, giấy, một cái lọ con, một cái then cửa. Vật nặng thì không. Ta cũng không đánh nhau được, không dập được lửa lớn. Ta là hồn trong tranh, không phải thần tướng trong miếu.”
Con bé cúi đầu nghĩ một lúc. Ngón tay nó gõ nhẹ lên mặt án, ba nhịp, rồi dừng.
“Vậy ban ngày em làm, nương nương chỉ em qua tiếng vọng. Ban đêm nương nương làm, em đi cùng.” Nó ngẩng lên. “Chia vậy được không?”
Ta nhìn nó.
Năm trăm năm ta đứng trong tranh nhìn người ta xoay xở với đời của họ. Chưa đứa nào mười sáu tuổi vừa nghe mình sắp chết đã lập tức chia việc ra như chia phần cơm.
“Nương nương là ai?” Nó hỏi thêm. “Nương nương nói là hoạ sư. Hoạ sư sao lại ở trong bức tranh này năm trăm năm?”
“Ta vẽ bức tranh này.” Ta nói. “Ta vẽ chưa xong thì ta chết. Lúc hấp hối, ta làm một việc theo tục cổ, để gửi hồn đi cầu siêu. Tục đó lẽ ra chỉ là nghi thức. Với ta thì nó thành cái nhà giam.” Ta ngừng. “Chuyện ta chết thế nào, để hôm khác. Đêm nay ngắn. Kể ta nghe nhà ngươi trước.”
Con bé không hỏi nữa. Nó biết khi nào nên dừng, cái đó ta ưng.
“Kể hết.” Ta nói. “Ta cần biết ai được lợi khi ngươi chết.”
Con bé kể.
Mẹ ruột nó, Lâm thị, mất năm nó mười một tuổi. Cũng bệnh hao mòn. Lúc đó không ai nghi gì, chỉ nói phu nhân vốn yếu. Lâm thị để lại di chúc, chia cho con gái một khoản điền sản riêng: mấy mẫu ruộng tốt ở ngoại thành và một tiệm vải trong phố. Theo di chúc, khoản đó Cẩm Y toàn quyền khi tới tuổi trưởng thành, hoặc mang theo làm của hồi môn khi xuất giá. Không thuộc quyền quản của người kế mẫu.
Cha nó, Vệ Trọng Khiêm, làm một chức viên ngoại lang nhỏ, chính là buôn vải. Hay đi xa. Ba năm trước tục huyền với Chu thị. Chu thị vào cửa, sinh thêm một đứa con trai, Vệ Tòng, năm nay tám tuổi.
Ta ngồi ghép lại trong đầu.
“Vệ gia không giàu. Khoản điền sản mẹ ngươi để lại là của cải lớn nhất nhà. Ngươi trưởng thành hoặc xuất giá thì khoản đó rời khỏi nhà, con trai Chu thị coi như trắng tay.” Ta nhìn nó. “Nhưng nếu ngươi chết bệnh trước tuổi trưởng thành, theo lệ, điền sản đó nhập lại vào tông sản Vệ gia. Về tay em trai cùng cha khác mẹ của ngươi. Về tay Chu thị quản. Đó là lý do.”
Con bé gật.
“Em nghĩ đúng như vậy suốt hai tháng nay. Nhưng nghĩ trong đầu thì được gì. Em không biết là độc gì, không biết mua ở đâu, không có gì cầm trong tay để nói với cha, với quan.” Nó ngừng. “Giờ em biết là lệ sinh thảo. Nhờ nương nương.”
“Biết tên độc chưa đủ.” Ta nói. “Ta dặn ngươi mấy việc, làm cho đúng.”
“Nương nương nói.”
“Một. Từ mai, thang an thần bưng tới, ngươi đổ đi hai phần ba. Đổ vào một cái ống tre, giấu trong tay áo, lúc ra vườn thì đổ xuống gốc cây. Phần còn lại ngươi uống thật, ít độc thì người ngươi chịu được. Không được đổ hết sạch. Ngươi mà khoẻ hẳn lên trong mười ngày, Chu thị biết ngay có chuyện.”
“Hai. Mỗi tối, trước khi đổ, ngươi chừa lại một chút cặn trong chén, để riêng cho ta. Ta ngửi. Ta cần biết họ có đổi độc, đổi liều hay không. Cây kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, nhưng ta muốn thấy nó lòi ra trước khi nó đâm ngươi.”
“Ba. Trước mặt Chu thị, Ma ma Lưu, người hầu, ngươi cứ mệt như cũ. Đứng dậy thì vịn tường. Ăn thì bỏ dở. Ngươi đã đóng vai người ốm hai tháng, đóng thêm ít lâu nữa.”
Con bé nghe, gật từng việc một. Ta thấy nó nhẩm lại trong miệng, môi mấp máy không thành tiếng, như học trò học thuộc bài.
“Còn một việc.” Nó nói. “Nương nương xem giúp em cái này.”
Nó lấy trong ngăn án ra một mảnh giấy gấp tư. Mở ra. Trên giấy là mấy dòng chữ nó tự chép: ngày nào ăn được mấy bát, ngày nào đứng lên hoa mắt, ngày nào Ma ma Lưu ra ngoài, ngày nào trong nhà có mùi thuốc mới. Chép từ đầu xuân tới giờ. Nét chữ lúc đầu ngay ngắn, càng về sau càng run.
Ta cầm mảnh giấy lên. Đọc một lượt. Trí nhớ ta lướt qua các con số, xếp chúng lại theo hàng.
“Ma ma Lưu ra ngoài cứ mười lăm ngày một lần, không phải đầu tháng.” Ta nói. “Ngày bà ta ra ngoài, ba bốn hôm sau ngươi mệt hẳn lên một bậc. Bà ta ra ngoài lấy thuốc về, pha mẻ mới, mẻ mới đậm hơn mẻ cũ.” Ta đặt giấy xuống. “Ngươi ghi cái này từ đầu xuân. Ngươi nghi từ lâu hơn ngươi nói.”
“Em nghi từ hôm giỗ đầu mẹ em.” Con bé nói nhỏ. “Hôm đó em quỳ trước bài vị mẹ, Chu thị đứng sau lưng em, đặt tay lên vai em, nói với khách rằng từ nay bà coi em như con gái ruột. Tay bà ấy đặt trên vai em nhẹ lắm. Nhẹ mà em thấy lạnh sống lưng. Về phòng em bắt đầu ghi.”
Ta gấp mảnh giấy lại, đưa cho nó cất.
Người ta hay bảo trẻ con thì ngây thơ. Ta vẽ tranh nhiều năm, ta biết mắt trẻ con nhìn ra cái thật nhanh hơn mắt người lớn, chỉ là chúng chưa có chữ để gọi tên cái chúng thấy. Con bé này thấy cái lạnh trên vai nó từ một năm trước. Nó chỉ thiếu người nói cho nó biết cái lạnh đó tên là lệ sinh thảo.
Ba đêm sau, ta bước ra khỏi tranh. Con bé đã ngồi chờ sẵn bên án.
Sắc mặt nó đỡ hơn một chút. Chưa nhiều. Quầng mắt nhạt đi, môi bớt khô. Nó đưa ta xem cái ống tre giấu trong đáy rương, đã đầy hơn nửa thứ nước thuốc nâu đục.
Nó cũng chừa lại cho ta ba chỗ cặn, để trong ba cái chén nhỏ, đậy khăn. Ta ngửi lần lượt. Cặn tối thứ nhất, mùi lệ sinh thảo còn đó, không đậm hơn hôm ta ngửi lần đầu. Cặn tối thứ hai, thứ ba, vẫn vậy. Chưa đổi liều. Chưa đổi độc.
“Họ chưa nghi.” Ta nói. “Ngươi đóng vai người ốm tốt.”
“Em ốm thật mà.” Con bé đáp. Nó nói câu đó bình thản, không có ý than. “Đóng cái mình đang là thì dễ.”
“Em làm theo lời nương nương. Ba tối rồi.” Nó nói. Rồi cau mày. “Nhưng em lo. Nếu bà ấy thấy em không yếu đi theo đúng cái đà của hai tháng trước thì sao? Bà ấy tính ngày. Em biết bà ấy tính ngày, vì cứ đầu tháng Ma ma Lưu lại đi ra ngoài một buổi, về thì trong nhà có mùi thuốc mới.”
“Thì bà ta sẽ tăng liều. Hoặc đổi đường, bỏ vào cơm canh chứ không chỉ thang tối.” Ta nói. “Ta phải biết bà ta lấy lệ sinh thảo ở đâu, trước khi chuyện đó xảy ra. Có nguồn thì có sổ. Có sổ thì có tên người mua. Đó là thứ cầm được trong tay.”
“Nương nương.” Con bé hỏi khẽ. “Nếu bà ấy không lấy được điền sản của mẹ em, thật ra bà ấy cũng đâu đến nỗi. Cha em vẫn nuôi bà ấy, nuôi Vệ Tòng. Sao bà ấy phải giết em?”
“Vì nuôi thì khác với nắm trong tay.” Ta nói. “Chồng ngươi đi buôn xa quanh năm, nay còn mai mất trên đường. Chồng chết thì cái nhà này còn bao nhiêu, con trai ngươi được bao nhiêu. Người đàn bà đó tính xa. Nó không đợi tới lúc đói mới lo cái ăn. Nó lo từ bây giờ, lo bằng cách dọn sạch cái ngáng đường trước.” Ta nhìn con bé. “Ngươi là cái ngáng đường. Ngươi không làm gì sai, ngươi chỉ ở đúng chỗ mà mẹ ngươi để lại của cho ngươi.”
Con bé không nói gì. Nó hiểu rồi. Hiểu mà không thấy dễ chịu hơn, nhưng người như nó thà biết rõ còn hơn mù mờ.
Con bé đứng dậy, đi tới trước bức tranh. Nó lấy trong hộp ra một cây nến, sáp màu nâu trầm, thân nến có vân gỗ. Nó châm lửa, đặt nến vào một cái đĩa đồng, để trước bức tranh.
“Nương nương dặn hôm trước, đốt cái này thì nương nương bước ra rõ hơn, tỉnh hơn. Em ra tiệm hương phố Nam mua. Chủ tiệm nói là nến trầm hương, gỗ trầm già đốt lên khói toả chậm, người xưa hay đốt lúc ngồi thiền cho định thần.”
Nến thơm 'Đen Trầm Tính' · Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm
179.000đ
Xem chi tiết →Khói trầm dâng lên, chậm, có mùi gỗ ấm hơi ngọt. Trong làn khói đó, viền người ta rõ nét hơn. Cái mông lung của người ở trong tranh cả ngày, cái cảm giác nhìn gì cũng như nhìn qua nước đục, lắng bớt đi. Ta đứng trong mùi trầm, thấy mình gần giống một người hơn.
Ta không nói cho con bé biết ở trong tranh khó chịu thế nào. Không phải đau. Là chật. Là cả ngày bị ép sát vào một mặt lụa phẳng, nghe tiếng đời bên ngoài mà không với tới được, như người nằm dưới mặt băng nhìn lên. Nến trầm không phá được cái băng đó. Nó chỉ khoét cho ta một lỗ thở, mỗi đêm một canh giờ.
“Đêm nào em cũng đốt cho nương nương.” Con bé nói. “Em mua cả bó rồi.”
“Đừng đốt phí. Chỉ đốt lúc canh ba.” Ta nói. “Thứ gì hiếm thì để dành cho lúc cần.”
Con bé ngồi xuống, cất cái ống tre đựng thuốc đổ đi vào đáy rương, khoá lại.
Năm trăm năm ta đứng trong tranh nhìn người ta chết. Ta chưa từng dây vào. “Không phải việc của ta”, đó là câu ta nói với chính mình cái đêm ta đứng trong thư phòng phủ Lư đại nhân, tay cầm bút vẽ, mắt nhìn thấy hai bộ sổ sách xếp cạnh nhau trên án. Ta quay đi. Ta bảo mình cứ vẽ cho xong bộ tranh rồi về.
Câu đó giết ta.
Con bé này thì ta dây vào.
Mai ta bảo nó dẫn ta ra hiệu thuốc.