Nữ Họa Sư Bước Ra Từ Tranh Mỗi Đêm

Chương 3: Một Giọt Máu Ngón Út

Ban ngày ta ở trong tranh. Ta thấy con bé qua một lớp sương. Ta nghe nó qua một bức tường.

Bức tranh treo trên vách, đối diện cửa phòng, chếch về phía án. Đứng trong tranh nhìn ra, ta thấy được cái án, một khúc giường, cái cửa. Chỗ nào ra khỏi khung nhìn đó thì ta không thấy. Người đi qua trước tranh thì rõ hơn, người đứng ở góc khuất thì chỉ còn cái bóng.

Sáng ngày thứ năm, ta đứng trong tranh nhìn con bé sống một ngày của nó.

Ma ma Lưu bưng thang tới lúc giờ Dậu. Người đàn bà chừng bốn mươi lăm, lưng thẳng, tay chân gọn. Bà ta đặt khay xuống án, tự tay nhấc chén, đưa cho con bé. Đứng đó. Nhìn con bé uống. Con bé uống từng ngụm nhỏ, mặt nhăn lại vì đắng, uống hết, đặt chén xuống. Ma ma Lưu cầm chén, xoay xoay trong tay xem còn cặn nhiều không, rồi mới bỏ lên khay, đi ra.

Con bé uống thật một phần. Phần kia, lúc Ma ma Lưu vừa quay lưng, nó đã kịp nghiêng chén đổ vào cái ống tre nó kẹp sẵn trong ống tay áo. Nhanh, gọn. Nó tập động tác đó mấy hôm nay, ta thấy nó tập.

Ta nói vọng ra, tiếng ta như gió lùa qua khe cửa:

“Để ý ai pha. Pha ở đâu. Có ai đứng canh lúc pha không.”

Con bé không quay về phía tranh. Nó ngồi yên chỗ án, cầm quyển vở tập lên, giả vờ đọc. Môi nó mấp máy rất khẽ, chỉ ta nghe:

“Ma ma Lưu pha. Ở dược phòng nhỏ cạnh chính viện. Cửa dược phòng khoá then trong. Nha hoàn của em không được bước vào. Nhà bếp có mấy đứa, em hỏi khéo, đứa nào cũng nói ma ma Lưu tự lo hết chuyện thuốc thang của tiểu thư, không mượn tay ai.”

“Một mình một cửa.” Ta nói. “Chỗ đó là chỗ ta phải vào.”

Gần trưa, cửa phòng mở. Chu thị vào.

Ta thấy bà ta lần này rõ hơn lần trước, vì bà ta đi thẳng tới trước án, tức là đi ngang qua trước mặt bức tranh. Áo lụa màu tía nhạt, tóc vấn gọn, cài một cây trâm ngọc. Tay bà ta cầm một cuốn chỉ thêu, ngón tay lúc nào cũng có việc.

“Cẩm Y, con dậy được à.” Giọng bà ta mềm, kéo dài ở cuối câu. “Sao không nằm thêm. Người con yếu, gió máng đầu xuân độc lắm.”

“Con ngồi một lát thôi, nương.” Con bé đáp. Giọng nó nhỏ đi, hơi hụt, đúng giọng người ốm. Nó đóng vai giỏi.

“Thang tối nay ma ma Lưu sắc đậm hơn một chút, đại phu dặn thế. Con chịu khó uống.” Chu thị bước lại gần, đưa tay vén một sợi tóc loà xoà bên má con bé, nhét ra sau tai nó. Động tác dịu dàng như mẹ vén tóc cho con. “Con mà khoẻ lại, mùa thu này nương lo chuyện chung thân cho con. Con gái lớn rồi.”

Con bé cúi đầu: “Con đội ơn nương.”

Chu thị vỗ vai nó hai cái, rồi đi ra. Ở cửa, bà ta dừng lại, đưa mắt nhìn quanh phòng một lượt. Mắt bà ta lướt qua bức tranh, dừng nửa nhịp, rồi đi tiếp. Bà ta ra.

Ta đứng trong tranh, nghe rõ tiếng tim mình nếu ta còn tim.

Bàn tay vừa vén tóc cho con bé là bàn tay mỗi tối sai người rót độc vào chén nó. Miệng vừa nói chuyện chung thân mùa thu là miệng tính rằng con bé không sống tới mùa thu. Ta vẽ tranh nhiều năm, ta chưa vẽ nổi một khuôn mặt vừa hiền vừa sát như mặt bà ta lúc đứng ở cửa. Không phải bà ta diễn. Là bà ta tin cả hai mặt đó đều là bà ta, và bà ta không thấy có gì lệch.

Trưa, con bé xuống chính viện ăn cơm chung. Ta không thấy. Ta chỉ nghe được tiếng chân nó đi qua cửa, tiếng cửa khép. Một canh giờ sau nó về, mặt tái hơn lúc đi. Cơm ở chính viện, ta không biết trong đó có gì. Ta chỉ dặn được nó: món nào Chu thị gắp riêng cho thì đừng ăn nhiều, món nào cả nhà cùng ăn chung một đĩa thì cứ ăn.

“Hôm nay bà ấy gắp cho em một đũa chả cá.” Con bé nói khi về tới phòng. “Em ăn nửa, giấu nửa trong khăn. Chả cá chính viện làm riêng cho em, mấy người kia không ăn.”

“Từ mai, món nào gắp riêng, ngậm rồi nhả vào khăn.” Ta nói. “Đừng nuốt.”

Chiều, có tiếng chân nhỏ chạy lộp cộp ngoài hành lang. Cửa phòng con bé bị đẩy hé.

Một thằng bé thò đầu vào. Tám tuổi, mặt tròn, tóc buộc hai chỏm. Nó cầm trong tay một cái lồng tre bé xíu, trong lồng có con dế.

“Tỷ tỷ.” Nó gọi. “Tỷ xem con dế của đệ. Đệ bắt ở gốc hoè. Nó gáy to lắm, tối nay đệ để đầu giường cho nó gáy.”

Con bé đang ngồi bên án. Nó ngẩng lên nhìn thằng bé. Ta thấy vai nó chùng xuống một chút, rồi cứng lại.

“Vệ Tòng, về phòng đi. Tỷ mệt, không chơi được.”

“Đệ không chơi. Đệ cho tỷ xem thôi.”

“Tỷ xem rồi. Dế đẹp. Về đi, kẻo nương con tìm.”

Thằng bé xịu mặt, ôm lồng dế, đi ra. Ra tới cửa nó còn ngoái lại: “Mai tỷ đỡ mệt thì đệ mang qua nữa.”

Cửa khép.

Con bé ngồi im một lúc. Ta biết nó không ghét thằng bé. Nó chỉ không dám để thằng bé quấn nó, vì thằng bé mà quấn thì Chu thị để ý, Chu thị để ý thì phiền.

Ta đứng trong tranh nhìn theo cái bóng nhỏ chạy khuất ở hành lang.

Con của người đàn bà đó. Nhưng mắt nó chưa biết gì. Mắt trẻ con nào cũng vậy, chưa học được cách giấu. Ta vẽ chân dung nhiều năm, ta biết một khuôn mặt thật thì lệch. Má bên này đầy hơn má bên kia một chút, khoé mắt bên này xếch hơn bên kia một chút. Mặt thằng bé lệch, mặt con bé lệch.

Mặt Chu thị thì cân đối. Cân đối quá. Cân đối như tranh vẽ theo phách, người thợ đo bằng thước rồi tô, không có nét thật. Ta nhìn mặt bà ta chừng mười nhịp thở. Đủ để biết bà ta là loại người tô mặt mình mỗi sáng như tô một bức tranh, tô đến khi không còn ai nhìn ra bên dưới có gì. Tẩm ngẩm tầm ngầm mà đấm chết voi, các cụ nói không sai.

Đêm. Canh ba. Ta bước ra.

Con bé chờ sẵn. Nó đã hỏi dò được: Ma ma Lưu cứ mười lăm ngày lại ra phố Nam một buổi, sáng đi trưa về, không ai theo. Lần tới là ba hôm nữa.

“Phố Nam có hiệu thuốc nào lớn?” Ta hỏi.

“Tế Sinh Đường. To nhất phố. Nhà em mua thuốc bổ ở đó từ đời ông nội em.” Con bé nói. “Nếu Ma ma Lưu mua lệ sinh thảo, chắc mua ở đó. Lệ sinh thảo là thuốc độc, hiệu nhỏ không dám trữ.”

“Vậy đêm mai ta với ngươi tới đó. Trước khi Ma ma Lưu ra phố, ta phải vào hiệu thuốc xem sổ. Sổ ghi trước, người mua tới sau, ta ghép lại thì ra.”

“Ra khỏi phủ thế nào?” Con bé hỏi. “Cổng chính có người gác cả đêm.”

“Ngươi biết lối nào không?”

Con bé nghĩ một lúc. “Cửa ngách sau nhà bếp. Ban ngày gánh nước gánh củi qua đó. Ban đêm khoá, nhưng khoá cũ, then gỗ. Tuần đêm đi một vòng phủ hết chừng nửa canh giờ, giữa hai vòng có một khoảng trống.” Nó ngước lên. “Em từng tính trốn đi, hồi mới nghi. Em bỏ ý đó, vì trốn đi rồi em cũng không biết đi đâu, mà bỏ nhà thì bỏ luôn điền sản của mẹ. Nhưng em có nhắm sẵn đường.”

“Tốt.” Ta nói. “Ngươi tính xa hơn ta tưởng.”

Con bé cau mày. “Nương nương ra khỏi phủ được không? Nương nương nói nương nương không đi xa bức tranh được.”

Đây là chỗ khó. Ta nói thật.

“Ban đêm ta đi xa bức tranh tối đa chừng nửa dặm. Xa hơn nửa dặm, viền người ta nhoè dần, ta lạc, ta không tìm được đường về, tới canh tư ta chưa vào thì hồn ta tổn. Từ đây ra phố Nam vừa đúng nửa dặm, ta đi được, nhưng sát mức. Mà người ngoài nhìn ta chỉ thấy một vệt bóng, một luồng gió lạnh. Ta cần ngươi đi cùng, ngươi làm mỏ neo cho ta, ta bám vào ngươi mà giữ hình. Nhưng ngươi với ta chưa đủ ăn ý. Nãy giờ ngươi đứng cách ta ba bước, ta thấy ngươi rõ. Ngươi lùi thêm hai bước nữa thử xem.”

Con bé lùi hai bước. Nó nhíu mắt.

“Nương nương mờ đi. Như nhìn qua khói.”

“Đó. Ra ngoài đường tối, ngươi đi trước dẫn đường, ta theo sau, cách nhau mấy bước là ta mất ngươi. Ta chưa nghĩ ra cách.”

Con bé đứng nhìn ta một lúc. Rồi nó làm một việc ta không kịp cản.

Nó đưa đầu ngón út tay trái lên miệng, cắn. Cắn mạnh. Máu ứa ra. Nó bước tới trước bức tranh, ấn đầu ngón út đang chảy máu vào góc dưới bên phải của bức, chỗ lụa còn để trắng, chỗ ta chưa vẽ tới.

Một giọt máu đỏ thấm vào lụa. Loang ra một vòng nhỏ bằng hạt đậu.

“Ai bảo ngươi làm thế?” Ta nghe giọng mình gắt lên. Năm trăm năm ta không gắt với ai.

“Không ai bảo.” Con bé mút đầu ngón cho cầm máu, nói qua kẽ tay. “Em thấy nên làm vậy. Tranh là của nương nương. Chắc tranh cần chút gì của em thì nương nương với em mới nối được. Nương nương điểm máu vào tranh mới bị giữ lại, thì máu chắc là thứ tranh nhận.”

Ta đứng im.

Con bé nói đúng cái lẽ mà nó không thể nào biết. Nó chỉ mười sáu tuổi, nó chưa từng nghe ai giảng về tục điểm nhãn, về chuyện máu người nối với vật. Nó nhìn, nó đoán, nó làm. Giống ta hồi trẻ, nhìn một bức tường loang nước mưa là thấy ra hình núi.

“Ngươi có biết ngươi vừa làm gì không.” Ta nói. “Máu ngươi vào bức tranh này rồi. Bức tranh này giữ hồn ta. Ngươi buộc ngươi vào chỗ đó. Sau này ta có chuyện gì, ngươi cũng dính.”

“Em biết.” Con bé nói. “Em nghĩ kỹ trước khi cắn tay. Em không có mẹ, không có ai bênh, cha thì xa. Nương nương là người duy nhất trong cái nhà này chịu đứng về phía em. Buộc vào nhau thì em mới yên tâm.”

Ta không nói gì thêm. Đứa trẻ này chọn người để tin bằng cách cắn ngón tay mình. Không ai dạy nó cách khác, vì chưa ai đáng để nó tin đủ mà dạy.

Từ giọt máu đó, có cái gì đổi.

Ta thấy con bé rõ hơn. Không phải rõ hơn bằng mắt. Rõ hơn ở chỗ ta biết nó đang đứng đâu dù nó ở sau lưng ta, ta biết nó sắp bước về hướng nào. Con bé cũng vậy. Nó đưa tay ra, chạm vào cổ tay ta. Bàn tay nó ấm. Ta năm trăm năm không có ai chạm vào, ta suýt rụt tay.

“Em chạm được nương nương.” Nó nói. Mắt nó sáng lên một chút, lần đầu ta thấy nó có vẻ mừng. “Trước em đưa tay qua người nương nương như đưa qua khói.”

“Thử ra sân.” Ta nói.

Hai đứa ra sân. Con bé đi trước, ta theo sau, cách năm bước, rồi mười bước. Ta vẫn thấy nó. Nó đi vòng ra sau hòn non bộ, khuất hẳn. Ta vẫn biết nó ở đó. Sợi dây giữa ta với nó không đứt.

Nhưng đi được nửa vòng sân, con bé dừng lại, một tay vịn thành bể nước. Mặt nó trắng ra.

“Em hơi hoa mắt.” Nó nói.

Ta nhìn nó. Ta hiểu ngay.

“Ngươi vừa cho ta một giọt máu, giờ ta bám vào ngươi để giữ hình. Ta giữ hình lâu, ta rút sức ngươi.” Ta nói. “Cái này ta phải nói trước cho ngươi biết. Mỗi đêm ta hiện hình bên ngoài lâu, ngươi sẽ mệt thêm. Ngươi đang trúng độc, ngươi không có sức để chia.”

Con bé đứng thẳng lại. Nó lau mồ hôi trán bằng mu bàn tay.

“Em chia được.” Nó nói. “Chết vì độc thì em không cam. Mệt vì đi bắt kẻ bỏ độc thì em chịu được.”

“Đêm mai đừng uống thang.” Ta nói. “Đổ hết. Một đêm không uống, người ngươi không sao. Ta cần ngươi còn sức đi bộ tới phố Nam rồi về, nửa dặm mỗi lượt, đường tối, phải nhanh.”

“Em chuẩn bị áo tối rồi. Cất trong rương, dưới lớp chăn cũ.” Con bé nói. “Em cũng để sẵn một túi tiền vụn, phòng khi phải mua chuộc ai.”

“Không mua chuộc ai hết. Ta vào, ta xem, ta ra. Không để lại dấu. Người ta không biết có kẻ vào thì người ta không đề phòng.”

Ta nhìn con bé đứng đó, tay còn vịn thành bể, mặt trắng mà lưng thẳng.

Ngón út ta có một giọt máu. Năm trăm năm không khô. Ta điểm nó vào mắt tượng Quan Âm cái đêm ta hấp hối, để gửi hồn cầu siêu. Cầu siêu không thành. Thành cái nhà giam.

Giờ trên bức tranh đó có thêm một giọt máu ngón út nữa. Của con bé. Ấn vào chỗ lụa ta chưa vẽ tới.

Ta không biết hai giọt máu trên một tấm lụa thì dẫn tới đâu. Chưa từng có ai làm chuyện này trước ta để ta hỏi.

Nhưng đêm mai, ra hiệu thuốc trước đã.