Nữ Họa Sư Bước Ra Từ Tranh Mỗi Đêm

Chương 4: Sổ Của Tế Sinh Đường

Canh ba. Ta bước ra. Con bé đã mặc áo tối, đứng chờ sẵn bên cửa sổ.

Áo vải màu chàm, không viền, tóc bới gọn giấu trong khăn. Nó thắt lưng bằng một dải vải, giắt vào đó cây quạt lụa gấp. Ta nhìn cây quạt.

“Bỏ quạt lại.”

“Em cầm quen tay.” Nó nói. “Mẹ em để lại. Không có nó em thấy trống.”

“Đi ăn trộm mà cầm theo đồ dễ nhận. Bỏ lại.”

Con bé rút cây quạt ra, đặt lên án. Nó nhìn cây quạt một cái, rồi quay đi, mở cửa sổ.

Hai đứa trèo ra. Con bé đi trước. Nó thuộc phủ, nó biết chỗ nào có chó, chỗ nào đèn hành lang soi tới. Ta theo sau, cách nó ba bước. Sợi dây giữa ta với nó căng vừa đủ, không đứt.

Tới cửa ngách sau nhà bếp. Con bé nép vào bóng tường, chờ. Một lát, có tiếng chân tuần đêm đi qua bên kia bức tường, tiếng mõ gõ chậm, xa dần. Con bé đếm nhẩm trong miệng. Đếm tới ba mươi, nó ra hiệu.

Cửa ngách khoá bằng then gỗ luồn qua hai khoen sắt. Ta đưa tay rút then. Then nặng hơn ta tưởng, ta phải dồn sức, hồn ta rút được vật nhẹ, cái then này ở mức nặng nhất ta làm nổi. Rút xong tay ta run, viền người ta nhoè đi một chút. Con bé đỡ lấy cánh cửa, mở hé, vừa đủ hai đứa lách ra.

Ra ngoài phủ. Đường phố khuya vắng. Sương xuống, mặt đá lát đường ướt, phản ánh trăng thành từng vệt bạc. Nhà hai bên đóng cửa im, thi thoảng một khe cửa còn hắt ra ánh đèn, chắc nhà có người ốm hoặc người thức làm.

Đi bộ tới phố Nam. Nửa dặm. Con bé đi nhanh, thở gấp, nhưng không dừng. Nó đi được một quãng thì phải đứng lại vịn tường một nhịp, rồi đi tiếp. Ta không giục. Người trúng độc hai tháng đi được nửa dặm trong đêm đã là gắng lắm.

Ta đi bên cạnh nó. Càng xa phủ, viền người ta càng mỏng. Qua ngã tư giữa phố, ta thấy bàn tay mình bắt đầu nhìn thấu qua được, thấy được mặt đá lát bên dưới. Tới cuối phố Nam thì ta gần như trong suốt, chỉ còn con bé nhìn ra ta. Một người quét rác dậy sớm đi ngang, chổi tre kéo lệt xệt trên đá. Lão nhìn về phía hai đứa, khựng lại nửa nhịp, rồi rảo bước đi nhanh, miệng lẩm bẩm. Lão thấy một con bé mặc áo chàm đi cạnh một vệt sương mờ hình người. Lão không muốn thấy thêm.

“Kệ lão.” Ta nói khẽ. “Lão sẽ tự nhủ là hoa mắt.”

Tế Sinh Đường nằm giữa phố, mặt tiền ba gian, biển sơn son đã bạc. Cửa trước đóng, hai cánh gỗ dày, khoá đồng to bằng nắm tay. Cửa đó ta không mở nổi.

“Vòng ra sau.” Ta nói.

Ngõ sau hiệu thuốc hẹp, mùi thuốc bắc và mùi cống rãnh trộn vào nhau. Có một cửa nhỏ cho người làm ra vào, chốt bằng một thanh gỗ gạt ngang bên trong. Ta luồn tay qua khe cửa, gạt thanh gỗ. Nhẹ. Cửa hé.

Bên trong tối đen. Mùi thuốc nồng lên, hàng trăm vị chồng lên nhau, đắng có, hắc có, tanh có. Ta đứng yên một lúc cho quen bóng tối.

Gian trong cùng, sau một tấm bình phong, có tiếng ngáy. Đều, khò khè. Con bé cứng người. Ta ghé sát tai nó.

“Lão chưởng quầy ngủ ở đó. Người già ngủ mê, nhưng dễ giật mình vì tiếng lạ. Ngươi đi nhẹ, thở nhẹ. Ta không có tiếng chân, ta lo phần trong. Ngươi đứng ngoài quầy canh cái bình phong. Lão trở mình thì ngươi gõ nhẹ lên mặt quầy một cái.”

Con bé gật. Nó cởi giày, cầm tay, đi chân trần trên nền gạch. Ta đi dọc dãy hộc thuốc.

Hồi còn sống, ta phân biệt được ba mươi sắc xanh chỉ bằng mắt. Cái nghề đó dạy ta chia nhỏ mọi thứ ra, xanh này khác xanh kia ở chỗ nào, mùi này khác mùi kia ở chỗ nào. Ta đi chậm, ghé mũi vào từng hộc. Đương quy. Xuyên khung. Bạch chỉ. Hoàng liên. Mỗi hộc một mùi, ta lướt qua.

Tới cuối dãy, sau quầy tính tiền, có một cái tủ nhỏ riêng, khoá móc. Trên tủ dán một mảnh giấy đỏ đã ngả nâu, chữ “độc” viết to.

Ta ghé mũi vào khe tủ.

Ngai ngái. Tanh kim khí. Ngọt gắt ở cuống mũi.

Cùng một mùi với chén thuốc trong phòng con bé. Cùng một mùi với chén trà trong phủ Lư đại nhân năm trăm năm trước.

“Ở đây.” Ta nói. “Giờ tìm sổ.”

Theo lệ, hiệu thuốc bán thuốc độc phải ghi sổ: ai mua, mua gì, bao nhiêu, ngày nào. Bán mà không ghi, quan bắt được thì đóng cửa hiệu. Lão chưởng quầy Tế Sinh Đường tham thì tham, nhưng lão không dại bỏ cái hiệu ông cha để lại, nên lão ghi.

Sổ để trong ngăn kéo dưới quầy, không khoá. Một cuốn dày, bìa vải, mép giấy ố vàng. Ta lật.

Trí nhớ họa sư của ta không đọc từng chữ. Nó chụp cả trang. Ta lật nhanh, mỗi trang dừng một nhịp thở, mắt quét từ trên xuống. Con bé đứng cạnh, tay che một cây nến nhỏ nó mang theo, ngọn lửa bằng hạt gạo, đủ soi mặt giấy.

Bên trong bình phong, tiếng ngáy khựng lại. Một tiếng “khục”, tiếng chép miệng, tiếng chăn sột soạt. Con bé gõ một cái rất khẽ lên mặt quầy. Ta dừng tay, đứng im. Cây nến hạt gạo trong tay con bé, nó úp lòng bàn tay che kín, chỉ còn ánh đỏ mờ qua kẽ ngón.

Một lúc lâu. Tiếng ngáy trở lại, đều như cũ.

Con bé thở ra. Ta lật tiếp.

Trang gần cuối. Ta dừng.

Một dòng, mực đen, nét chưởng quầy: “Lệ sinh thảo, nhất lượng. Người mua: Lưu thị, nhũ mẫu phủ Vệ viên ngoại lang. Dùng trừ chuột kho.”

Bên dưới, cách mười mấy dòng, một dòng nữa, cùng nét, cùng nội dung, đề ngày sau đó nửa tháng. Rồi một dòng nữa. Ba lần. Đều đặn nửa tháng một lần, kéo dài hai tháng nay. Lần gần nhất cách đây bốn ngày.

“Bốn ngày trước bà ta vừa mua thêm một lượng.” Ta nói. “Trong dược phòng nhà ngươi bây giờ có một mẻ mới, đậm hơn mẻ trước. Đó là lý do Chu thị hôm qua dặn ngươi thang tối nay sắc đậm hơn.”

“Trừ chuột kho.” Con bé đọc theo, giọng nó thấp xuống. “Nhà em không có kho nào có chuột. Kho vải phải khô, chuột vào là hỏng hàng, ma ma Lưu quản kho vải hai mươi năm, bà ấy biết rõ.”

“Lão chưởng quầy ghi vậy để tự chạy tội.” Ta nói. “Người mua khai trừ chuột, lão ghi trừ chuột, sau này quan hỏi thì lão bảo lão bán đúng lệ, có ghi sổ, có lý do. Lão bán độc mà không hỏi kỹ, vì hỏi kỹ thì mất mối.”

Con bé rút trong áo ra một con dao nhỏ, định rạch trang sổ.

Ta giữ tay nó lại.

“Đừng xé. Xé thì sáng ra lão chưởng quầy biết có người vào, lão báo quan, quan xét, Chu thị nghe phong thanh thì đề phòng, đổi cách. Để nguyên.” Ta gõ nhẹ ngón tay lên trang giấy. “Ta nhớ hết rồi. Trang này là trang thứ bao nhiêu tính từ bìa, dòng nào, ngày nào, ta nhớ. Khi nào cần, ngươi chép lại theo lời ta đọc, chép ở nhà, an toàn. Cuốn sổ gốc cứ để đây, nó nằm im ở đây thì nó còn là bằng chứng. Nó rời khỏi đây thì nó thành tờ giấy ai viết cũng được.”

Con bé thu dao lại. Nó nhìn ta một cái, gật.

Ta đóng sổ, đặt lại đúng chỗ, đúng chiều.

Ta quay lại cái tủ có chữ “độc”. Khoá móc, ta mở được. Bên trong có mấy gói giấy dầu. Ta mở một gói, bên trong là thứ bột màu vàng nâu, hạt thô. Ta lấy một nhúm nhỏ bằng hạt ngô, gói vào một mảnh giấy, đưa con bé cất. Đủ để ta đối chiếu với chén thuốc trong phủ, đủ để ta biết cách nó pha, cách nó tan.

Rồi ta mở mấy hộc bên cạnh, ngửi từng hộc. Hộc thứ ba, ta dừng. Bên trong là bột bổ khí, thứ thuốc bổ thường, hiệu nào cũng có, dùng cho người mệt mỏi kém ăn. Màu vàng nâu, hạt thô. Ngửi thì hơi hắc.

Ta đổ một ít lệ sinh thảo ra lòng bàn tay, đổ một ít bột bổ khí ra bên cạnh, kề hai đống lại. Dưới ánh nến hạt gạo, hai thứ gần như một. Cùng sắc vàng nâu. Cùng cỡ hạt. Ngửi kỹ thì lệ sinh thảo có cái ngọt gắt ở hậu, bột bổ khí thì chỉ hắc. Nhưng người pha thuốc mỗi ngày, quen tay quen mắt, không quen ngửi kỹ, sẽ không nhận ra.

“Nương nương định làm gì với hai thứ này?” Con bé hỏi.

“Tráo.” Ta nói. “Lệ sinh thảo trong dược phòng nhà ngươi, ta đổ đi, thay bằng bột bổ khí. Ma ma Lưu vẫn bốc từ lọ đó pha cho ngươi mỗi ngày, vẫn tưởng đang cho ngươi uống độc. Thật ra ngươi uống thuốc bổ. Ngươi khoẻ lên, mà kẻ bỏ độc không biết vì sao.”

Con bé đứng im một nhịp, rồi khoé miệng nó hơi nhếch. Lần đầu ta thấy nó gần như cười.

“Gậy ông đập lưng ông.” Nó nói khẽ.

“Chưa vội mừng. Việc đó phải làm trong dược phòng, cửa khoá then trong, Ma ma Lưu ngủ phòng kế bên. Khó hơn vào đây nhiều.” Ta gói riêng một nhúm bột bổ khí, đưa nó. “Cất kỹ. Đừng để lẫn với gói lệ sinh thảo. Lẫn một cái là hỏng hết.”

Ngoài ngõ, một con chó sủa hai tiếng, rồi thôi. Con bé đứng sựng. Ta kéo tay nó, hai đứa nép vào sau kệ. Có tiếng chân đi ngang đầu ngõ, chậm, rồi xa. Tuần đêm phố Nam. Không dừng lại.

“Ra.” Ta nói.

Hai đứa lách qua cửa sau, gạt lại thanh chốt cho đúng vị trí cũ. Đi ngược đường về.

Gần tới phủ, trời đã ngả về cuối canh ba. Viền người ta bắt đầu nhoè từ ngoài vào, như tranh gặp nước. Ta thấy tay mình mờ trước, rồi tới cánh tay. Con bé quay lại, thấy vậy, nó nắm lấy cổ tay ta, kéo ta đi nhanh hơn.

“Sắp tới rồi. Nương nương ráng.”

Bàn tay nó ấm, ta bám vào cái ấm đó mà giữ hình. Hai đứa chui qua cửa ngách, luồn về phòng, đúng lúc trống điểm canh tư vọng từ tháp canh. Ta lùi vào tranh, vừa kịp. Nếu chậm một khắc nữa, sáng ra ta sẽ quên mất một mảng đêm nay.

Trong tranh nhìn ra, ta thấy con bé ngồi thụp xuống bên án, thở dốc. Nó đi bộ một dặm trong đêm, người đang trúng độc, lại chia sức cho ta. Mặt nó trắng bệch, môi tím lại. Nó ngồi im một lúc lâu cho hơi thở đều lại.

Rồi nó với lấy cây quạt lụa trên án, cây quạt ta bắt nó bỏ lại lúc đi. Nó cầm quạt trong tay, không xoè ra, chỉ nắm. Ta thấy vai nó chùng xuống, bớt căng.

“Em cầm quạt vào thấy đỡ mệt hơn.” Nó nói, như thanh minh. “Mẹ em lúc còn sống, tối nào cũng cầm cây quạt này ngồi bên giường em, quạt cho em ngủ. Em giữ nó bảy năm nay.”

Nó ngồi thẳng lại, lấy giấy bút ra, chép theo lời ta đọc: trang thứ mấy, dòng thứ mấy, ngày nào, chữ gì. Chép xong nó gấp tờ giấy làm tư, nhét vào lần áo trong.

“Nương nương.” Con bé hỏi, tay còn cầm bút. “Người giết nương nương năm trăm năm trước, giờ ở đâu?”

“Chết lâu rồi.” Ta nói. “Lư đại nhân chết già, trước khi ta kịp thấy lão chết. Con cháu lão sau này lụn bại, tuyệt tự. Cái phủ đó giờ là bãi đất hoang, người ta đồn có ma nên không ai cất nhà.”

“Vậy nương nương không đòi được ai.”

“Không.” Ta nhìn đầu ngón út mình. Giọt máu vẫn đọng. “Ta không có ai để đòi.”

Ta ngừng một nhịp.

“Nên ta đòi giúp ngươi.”

Con bé đặt bút xuống. Nó nhìn ta qua khung tranh, một lúc lâu.

“Nương nương có giận không?” Nó hỏi. “Giận cái người bỏ độc chén trà của nương nương ấy. Năm trăm năm rồi.”

Ta nghĩ về câu hỏi đó. Trong tranh, ta có nhiều thời gian để nghĩ về mọi thứ, nghĩ đi nghĩ lại tới mòn.

“Lúc đầu thì giận. Giận tới mức cái giận đó giữ ta lại đây, không cho ta đi.” Ta nói. “Sau này thì giận nguội đi, như than vùi lâu ngày. Ta không còn nhớ rõ mặt mụ ta, mặt lão Lư, ta chỉ nhớ cái mùi. Giận một cái mùi thì giận thế nào. Ta chỉ còn muốn biết: cái thứ giết ta đó, cuối cùng nó tới từ đâu, ai làm ra nó, còn ai đang dùng nó.”

Ta nhìn con bé.

“Đêm nay ta biết rồi. Nó tới từ cái tủ có chữ đỏ ở Tế Sinh Đường. Còn một người đang dùng nó, ở ngay trong nhà ngươi.”

Con bé không nói gì. Nó cúi xuống, thổi tắt cây nến trầm trước tranh. Khói bay lên, tan.

Ta có tên người mua. Ta có tên thứ độc. Ta có nơi bán. Ta có cách pha giả để tráo.

Ta có đủ để cứu con bé.

Ta không có đủ để trả cho chính ta. Người bưng chén trà vào phòng ta năm trăm năm trước, đứng nhìn ta uống hết mỗi tối, ta còn không nhớ nổi mặt mụ ta. Chỉ nhớ tay mụ có một cái nốt ruồi ở cổ tay, và mụ luôn cúi đầu.

Sáng mai con bé sẽ hỏi ta câu nó hỏi tối qua: nếu mẹ kế biết em không yếu đi theo đúng lịch thì sao.

Ta chưa có câu trả lời tốt cho câu đó.