Nữ Ngỗ Tác Đêm Khám Xác Thái Tử
Chương 1: Triệu Đêm
Đại lý tự triệu ta lúc canh tí.
Đèn dầu trong phòng khám xác vặn đến mức thấp nhất, quầng vàng chỉ đủ soi tới bờ vai xác cửu lưu ta đang khám. Nạn nhân là một gã bán rượu phường Nam Trường An, chết trong ngõ hẹp lúc chập tối, dao đâm dưới bả vai trái. Ta vừa cầm bút mực đỏ ghi xong dòng độ sâu vết dao, chưa kịp rửa tay.
Cửa gỗ bị đẩy mở. Không gõ.
Một cận vệ áo tía cung đình bước vào, đứng cách án khám ba bước. Đai da bó lưng, kiếm ngắn giắt hông. Người này không phải người Đại lý tự.
“Kỷ Nguyên đại nhân. Có chỉ dụ.”
Ta đặt dao mổ xuống khay đồng. Kéo tay áo bào lam xuống che cổ tay. Ba năm làm nghề này, ta biết khi cận vệ áo tía nửa đêm gõ cửa phòng ngỗ tác, câu tiếp theo hắn nói sẽ đổi một đời người.
“Thái tử điện hạ đột tử giờ tuất. Cung ra chỉ Đại lý tự cử một ngỗ tác lên Đông cung khám ngay đêm nay. Sáng canh thìn trình báo cáo Hoàng thượng. Đại nhân được chọn.”
Ta không đáp ngay. Ngón cái ta chà một vệt máu khô ở khớp ngón trỏ. Vệt máu ấy của xác cửu lưu, không liên quan gì đến Thái tử, nhưng ta cần một khắc để bàn tay không run.
Thái tử Tiêu Chiêu Diễn. Hai mươi sáu tuổi. Con trai cựu hoàng hậu Lý Thục Uyển. Người đàn ông cả Trường An chưa từng thấy ta khám qua.
“Vì sao chọn hạ quan?”
“Bậc ba. Hồ sơ ba năm không sai một vụ. Không phe phái.” Cận vệ đáp gọn. “Kiệu đợi ngoài. Đại nhân theo.”
Không phe phái. Câu ấy trong hồ sơ, ta viết ba năm trước khi cậu ta vừa mất và ta phải nộp giấy khai nhậm chức thay tên cậu. Đêm nay hoá ra là câu định mệnh.
Ta rửa tay bằng nước giếng lạnh trong chậu đồng. Cởi áo tạp trắng đã lấm máu. Khoác lại áo bào lam Đại lý tự, thắt đai da, chỉnh mũ ô sa quan lên vành. Ta không cao lớn, ba năm nay ta quen với việc bước dài hơn nữ giới thông thường và ép giọng trầm xuống nửa cung, nhưng đêm nay bước chân ta có phần chậm hơn.
Trong bao vải đựng dụng cụ khám, ta xếp đủ: bút mực đỏ, thước dài, dao mổ nhỏ ba loại, gương đồng nhỏ, khay giấy dâu. Ở đáy bao, dưới lớp vải xám, có một cuốn sách bìa cứng bọc da nâu đã sờn.
Tẩy Oan Tập Lục. Bản chú tay của cha.
Ta đặt tay lên bìa sách một khắc. Không mở. Không cần mở, ta thuộc lòng từng nét bút của ông.
Ra khỏi Đại lý tự. Kiệu nhỏ bốn người khiêng. Trong kiệu tối, ta ngồi thẳng lưng, hai tay đặt trên bao vải. Bên ngoài, tiếng vó ngựa đi trước dọn đường lóc cóc trên gạch xanh phố Chu Tước. Trường An đêm cuối thu, sương xuống lành lạnh, ngọn đèn treo hai bên phố lay theo gió, không tắt.
Ta nhắm mắt. Không phải để nghỉ. Để nhớ.
Mười năm trước. Đêm cha ta chết.
Ông vẫn cười với ta buổi sáng, dặn ta học thuộc chương “Huyệt vị hình đồ” trong sách, chiều về sẽ hỏi. Chiều hôm ấy ông đi thăm quan, không về ăn cơm tối. Đêm ông về, ta đã ngủ. Sáng ta dậy pha trà đưa lên phòng, đẩy cửa, thấy ông nằm nghiêng trên giường, một tay còn đặt trên trang sách “Tẩy Oan Tập Lục” mở dở. Da mặt ông tái, môi hơi hé. Trên án còn nửa chén trà bát bảo nguội ngắt, ván trầm hương đã tắt từ khi nào.
Ta gọi hai tiếng. Không đáp.
Cậu ta đến. Khám hai giờ. Kết luận: phong bế đường máu, trúng gió giữa đêm tự nhiên. Cha ta khỏe mạnh. Bốn mươi hai tuổi. Cựu Đại lý tự khanh trứ danh thời Cao Tổ. Chết trúng gió.
Ta mười hai tuổi khi ấy, đứng ở góc phòng nhìn cậu ta khép mắt cha, không hiểu. Cậu ta khóc. Ta không khóc. Ta chỉ ngồi xuống bên giường, tay đặt lên trang sách còn mở của ông, đọc dòng chữ ông viết dở nửa đêm: “Kim châm ngâm trong dầu thảo mộc, khoảng cách hai lần đâm ba mươi ngày, thấm qua da vào…” Câu ấy chưa xong. Ông chưa kịp viết xong.
Ba năm nay làm ngỗ tác, mỗi đêm trực ta đều mang theo bản chú tay của ông. Đọc lại. Đọc đến khi mực đen chuyển thành nâu trong đầu ta. Có một trang ông viết bằng bút nhỏ hơn, run hơn, đề cập một thứ gọi là kim châm chậm.
Dấu chấm sau gáy, huyệt Phong Trì. Đầu bút chì. Ba ngày phai. Dòng Đường ngoại thích.
Ta chưa từng gặp một xác nào có dấu ấy trong ba năm khám bốn mươi bảy vụ. Cha ta viết mà ta chưa từng thấy. Đêm nay, có lẽ đó vẫn chưa phải là điều ta sắp thấy. Có lẽ.
Kiệu bẻ trái, gạch xanh dưới chân đổi thành đá phiến. Vào khu cung. Vó ngựa dọn đường chậm lại.
Kiệu dừng.
Bước ra, ta ngước lên. Cửa Đông cung đèn treo hai hàng, đỏ thẫm. Không có nhạc tang, không có tiếng khóc thân quyến. Trong cung, cái chết Thái tử đêm nay vẫn chưa được công bố ra ngoài triều. Chưa ai ngoài Hoàng thượng, Hoàng hậu và một dúm cận thần biết.
Ba lượt cửa. Ở mỗi cửa, có nội thị khám tay ta, khám bao vải. Bao vải mở ra, cả cuốn Tẩy Oan Tập Lục bị lật hai ba trang, ta không nói. Nội thị đưa lại, ta nhận lại. Không lộ mặt. Ở cửa thứ hai, một nội thị đứng tuổi liếc ta lâu hơn cần thiết, mắt hắn dừng ở cổ ta. Ta có vải quấn ngực bó chặt bên trong áo bào lam, cổ áo cao che kín, không có gì hắn thấy được. Nhưng ta vẫn siết ngón tay quanh quai bao vải chặt thêm một chút.
Đến hành lang phòng nghỉ Thái tử tầng dưới, một cận vệ khác đứng gác. Người này cao lớn, bờ vai rộng, râu ngắn, tay đặt trên chuôi đao. Không phải kiểu đao trang trí cung đình. Đao trận, cán quấn dây bò dày.
Ta liếc một cái. Ba năm ta quen phân biệt cận vệ cung với binh lính trận. Người này ra biên cương ít nhất năm năm. Không phải cận vệ Thái tử thường.
“Lang Tứ, hộ vệ Đông cung. Đại nhân theo hạ quan.”
Giọng hắn khàn, hơi thấp. Hắn cúi đầu vừa đủ lễ, không thêm. Mắt hắn nhìn thẳng ta, giữ một khắc dài hơn cần thiết.
Ta hạ mí. “Phiền Lang hộ vệ.”
Vào phòng. Đèn dầu vàng thấp. Không có nến sáp trắng như phòng tang thường thấy, chỉ đèn dầu. Một lư đồng nhỏ ở góc phòng đốt trầm hương. Ta hít vào một hơi.
Mùi lạ.
Trầm hương nam ưu chất Trường An dùng trong cung có mùi trầm, khô, thoảng chút vị đất. Trầm này ngọt hơn. Có gì đó pha vào. Ta không gọi ngay được tên.
Ta ghi nhớ. Không nói.
Trên phản gỗ tử đàn kê giữa phòng, Thái tử Tiêu Chiêu Diễn nằm ngay ngắn. Áo bào trắng tang. Mắt nhắm. Tóc dài xoã ra hai bên đầu, chưa buộc. Sắc mặt hơi tái nhưng không xanh xám ngả sang xám tro như xác đã chết hai canh. Miệng khép lỏng, không nghiến, không há. Khoé môi có phần khẽ nhếch, như đang ngủ chứ không phải đang chết.
Ta biết ngay. Xác chết hai canh không có sắc này.
Lang Tứ đóng cửa. Đứng ở góc phòng gần cửa, tay chống chuôi đao. Không rời. Không thắp thêm đèn.
Ta đặt bao dụng cụ xuống án. Bàn tay vẫn lạnh. Kéo giấy dâu ra, đặt ngay ngắn. Mở nắp lọ mực đỏ. Cầm bút.
Bắt đầu quy trình chuẩn.
Cổ tay Thái tử. Ta chạm ngón trỏ vào mạch. Da lạnh. Không cứng. Nhiệt độ ước khoảng ba mươi tư độ. Xác chết hai canh nhiệt độ tứ chi phải xuống hai mươi lăm, hai mươi sáu. Cổ tay chàng cao quý, xương nhỏ ẩn dưới lớp da trắng, có một vết sẹo mờ mờ chạy ngang mu bàn tay. Sẹo cũ, ít nhất năm năm. Không phải sẹo cung cấm, sẹo lính trận.
Máu tụ dưới da lưng. Ta lật nhẹ cổ áo, nhìn phần vai. Chưa đủ đậm. Máu chưa lắng hết. Nếu chàng thực sự chết giờ tuất như chỉ dụ nói, phần lưng phải tím đen như mực đổ. Không có.
Cứng cơ hàm. Ta thử ngón cái, khớp hàm còn động được. Chưa cứng.
Sai. Rất sai.
Ta ghi vào giấy dâu, chữ đều: Nhiệt độ cổ tay ba mươi tư độ, ước tương đương xác chết dưới một canh giờ. Máu tụ dưới da chưa hoàn thiện. Cứng cơ hàm chưa hiện. Kết luận sơ bộ: xác chết chưa đến nửa canh.
Ta ngước lên Lang Tứ. Ép giọng trầm.
“Lang hộ vệ. Điện hạ đột tử giờ tuất theo chỉ dụ?”
“Đúng.”
“Vậy hạ quan có thắc mắc. Xác chưa đủ nửa canh chết. Giờ tuất đến canh tí, cách nhau ba canh giờ.”
Lang Tứ không đáp. Chỉ nhìn ta. Ánh mắt hắn không phải nghi kỵ đơn thuần. Có gì đó khác. Như đang đợi.
Đợi cái gì?
Ta không hỏi tiếp. Cúi xuống. Tiếp tục.
Đến lượt khám gáy.
Ta nghiêng đầu Thái tử sang trái, chầm chậm, một tay đỡ dưới hàm, một tay nâng chỗ chân tóc. Tóc chàng dày, đen tuyền, có mùi cỏ thơm nhẹ. Ta gạt lọn tóc phía sau lên. Đưa đèn dầu lại gần, giữ đèn nghiêng bốn mươi lăm độ để bóng nghiêng đổ vào phần da lộ ra sau gáy, chỗ huyệt Phong Trì.
Ngón trỏ ta dừng lại.
Dấu chấm.
Nhỏ như đầu bút chì. Đã phai một phần. Nếu không có ánh đèn nghiêng, người thường sẽ không thấy. Ta thấy.
Kim châm.
Ta đưa tay che miệng mình một khắc. Không phải sốc. Là phản xạ nghề, không được thốt ra tiếng khi đang khám cạnh cận vệ lạ. Ta hạ tay xuống. Ngón trỏ ta còn cách gáy chàng nửa tấc.
Ngoài cửa có tiếng dế kêu một tiếng, ngắn, rồi im.
Cổ tay ta bị nắm chặt.
Ngón tay chàng lạnh nhưng không cứng. Không phải tay xác.
Mắt chàng mở. Chỉ hai phần. Sát ta.
Giọng khàn, nhỏ, chỉ ta nghe:
“Đại nhân… im lặng. Nếu ai ngoài cửa hỏi, ta chết rồi.”