Trọng Sinh Ta Là Cung Nữ Đưa Trà Cho Hoàng Hậu
Chương 1: Chén Thứ Nhất
Ta bưng chén trà đầu tiên vào Khôn Nguyên cung.
Canh mão. Trời còn xám ngoài rèm. Sáu ngọn nến bên án đã cháy hơn nửa, sáp trắng chảy thành giọt dài lơ lửng chưa rơi. Khay gấm vàng trên tay ta hơi run một nhịp. Chỉ một nhịp. Ta bấm ngón cái vào mép gỗ, ép lại.
Trong khay, chén sứ vàng nhạt. Nắp bằng. Bên trong là trà an thần Thượng Trà cục vừa pha xong nửa canh giờ trước.
Bên án, Hoàng hậu Chiêu Trân Vệ thị ngồi đọc sách. Áo hoàng bào tím thẫm. Tóc buộc kín, đội mũ ngọc phượng. Bà không ngước lên. Cung nữ trực bên rèm cúi đầu giới thiệu ta bằng giọng nhỏ, tròn: “Bẩm điện hạ, cung nữ đưa trà mới, Chu Nhược Vi, mười tám tuổi, Thượng Trà cục ba năm.”
Hoàng hậu gật một cái. Rất nhẹ. Bằng cằm, không bằng đầu.
Bình thường. Cung nữ đưa trà thay ca hằng năm. Không có gì đặc biệt cần bà nhìn.
Ta bước tới bàn. Đặt khay xuống. Tay ta chạm nắp chén.
Ngừng.
Chén này. Kiếp trước ta bưng chén tương tự năm năm. Không phải chén này. Nhưng cùng công thức. Cùng vị. Cùng mùi hạnh nhân đắng cực nhẹ cuối lưỡi mà ba năm đầu ta cứ tưởng là do Thượng Trà cục thêm cam thảo mới.
Năm năm sau, bà chết. Ta chết. Bà ngoại bảy mươi tuổi ta ở ngoại thành chết. Cả nhà ba đời chết.
Vì một chén trà ta không hề pha.
Trong ngực áo ta, có một vật nhỏ chạm nhẹ vào da. Trâm bạc hoa mai. Ba tấc. Đầu bạc chạm hình hoa mai năm cánh, cánh giữa hơi mòn vì mẹ ta thời trước dùng thử độc nước giếng làng. Mẹ ta chết vì đói khi ta mười hai tuổi. Trâm này là vật duy nhất ta còn. Ta buộc dây tơ đen, đeo trong áo, sáu năm không rời.
Trâm cài tóc bạc phối tua rua · phụ kiện cô dâu áo dài
110.000đ
Xem chi tiết →Nếu ta đưa chén này bình thường, năm năm sau ta chết. Nếu ta không đưa, hôm nay ta chết.
Chỉ một cách.
Ta xoay lưng nửa vòng, khuất cột chạm gỗ, đưa tay vào cổ áo. Rút trâm ra. Nhỏ gọn trong lòng bàn tay. Ánh nến chớp một cái, đầu bạc lóe.
Ta mở nắp chén. Chấm đầu trâm vào giữa lòng chén, ngâm ba nhịp thở. Đếm. Một. Hai. Ba. Rút ra.
Đầu trâm bạc ngả xám. Không xám đen. Xám mỏng như hơi khói phủ. Người không biết nhìn thoáng qua sẽ tưởng là bóng nến.
Ta biết. Vạn Xuân Tán. Cực nhỏ. Chậm. Năm năm mới đủ.
Ta đóng nắp chén lại. Xoay khay ngay ngắn. Đặt lên án bên tay Hoàng hậu, đúng vị trí cung nữ trước đây vẫn đặt, cách khuỷu tay bà đúng một bàn tay.
Rồi ta quỳ xuống.
Không phải quỳ ba lạy. Chỉ hai đầu gối chạm đất, trán không cúi. Kiểu quỳ cung nữ hạ đẳng khi có việc bẩm.
“Bẩm Hoàng hậu điện hạ. Chén trà này… nô tì xin nếm trước.”
Cả phòng im.
Cung nữ trực bên rèm khựng một nhịp, hai vai cứng lại. Ta thấy khoé mắt cô ta liếc về phía thái giám già đứng ngoài cửa. Nếm là quyền cung nữ đưa trà. Nhưng nếm trong Thượng Trà cục trước khi bưng ra, không phải trước mặt Hoàng hậu. Nếm công khai giữa Khôn Nguyên cung nghĩa là có nghi. Nghi nghĩa là bẩm ngầm. Bẩm ngầm giữa canh mão trước khi bà uống hớp trà đầu ngày…
Là chuyện chưa từng.
Hoàng hậu vẫn không ngước. Ngón tay bà giở qua một trang sách. Giấy sột nhẹ.
Ta đếm nhịp thở. Bốn nhịp. Năm nhịp.
Đến nhịp thứ sáu, bà đặt sách xuống.
Ngước lên.
Lần đầu tiên ta thấy mắt bà từ khoảng cách gần. Mắt hạnh dài, mí đôi, đen sâu. Không lạnh. Không nóng. Chỉ là bình tĩnh của người đã ngồi bên án hai mươi hai năm nhìn vô số cung nữ vào rồi ra.
“Ngươi tên gì?”
“Chu Nhược Vi, điện hạ.”
“Ngươi biết nếm công khai là bất thường không?”
“Nô tì biết.”
“Ngươi biết mà vẫn xin?”
“Nô tì biết mà vẫn xin.”
Ba câu. Ba nhịp. Không dài hơn. Ta không thêm chữ nào. Ta không giải thích. Giải thích một chữ là lộ. Lộ là chết.
Bà nhìn ta.
Ngón tay bà mảnh, dài, không đeo nhẫn. Đúng như ta nhớ. Kiếp trước bà chỉ đeo nhẫn ngọc bích khi có lễ chính triều. Ngày thường bà cất trong hộp đàn bên án, chỉ vì mẹ bà dặn “gia truyền, không đeo phàm”. Bà không biết ngọc ấy đổi màu khi chạm thuốc dòng Điền. Bà cũng chưa biết bà cần biết.
Chưa. Không phải hôm nay.
Bà nghiêng đầu về phía cung nữ trực bên rèm. Không nói. Chỉ một cái nghiêng.
Cung nữ trực lùi ra ngoài rèm, kéo rèm che. Thái giám già ngoài cửa cũng khép cửa lại. Trong phòng chỉ còn ta quỳ, bà ngồi, sáu ngọn nến sắp cháy hết, và hai chén trà một chưa uống trên án.
Không. Một chén.
Bà đưa tay ra sau án. Kéo một cái ấm sứ nhỏ ta chưa từng thấy, chưa từng ai trong Thượng Trà cục nhắc đến. Ấm trắng ngà, quai tre, có vết cháy nhẹ dưới đáy. Ấm bà tự giữ trong phòng riêng, không phải ấm quy trình cung.
Bà rót.
Nước trong ấm đổ ra một chén sứ trắng bên án, chén ta không thấy lúc đầu vì khuất sau chồng sách. Trà vàng nhạt. Trong. Có một hơi thơm nhẹ như nhài, nhưng không phải nhài.
Bà đẩy chén trắng về phía ta.
“Ngươi nếm chén ta pha trước.”
Ba chữ.
“Nếu ngươi không sao, ta uống chén ngươi bưng.”
Ta ngước lên. Cổ ta cứng một khoảnh. Trong ngực áo, đầu trâm bạc vẫn còn hơi xám. Ta chưa thử chén bà pha. Ta không có cách thử. Ta chỉ có một trâm.
Bà biết.
Ba chữ đó lạnh xuống sống lưng ta như một giọt sáp nến rơi trúng gáy.
Bà biết ta đến bàn có trâm thử. Bà biết ta đã thử chén Thượng Trà cục. Bà biết ta biết trong đó có gì. Bà đáp lại bằng chén bà pha, chén trâm ta chưa chạm.
Kiếp trước ta không nhìn thấy chuyện này. Kiếp trước ta bưng chén, đặt xuống, lui ra. Bà uống. Không nói một chữ. Năm năm không hỏi ta bao giờ. Ta cứ tưởng bà không để ý ai bưng trà cho bà mỗi sáng. Ta cứ tưởng bà là người ngồi trong hoàng bào tím thẫm hai mươi hai năm nhìn qua đầu cung nữ hạ đẳng như nhìn qua bóng cột chạm.
Ta tưởng sai.
Bà là người sống trong hậu cung Đại Tống hai mươi hai năm. Kẻ nào ba tháng đầu chưa học được cách thử người bằng chính thứ mình nghi, kẻ ấy chết trong năm thứ nhất. Bà sống được hai mươi hai năm. Bà đã thử ta ngay khi ta quỳ.
Bà biết trò chơi trước ta.
Trong ngực ta có gì đó rất nóng, rất ngắn, tắt ngay.
Ta cầm chén sứ trắng lên. Hai tay. Đưa lên miệng.
Bên ngoài rèm, có tiếng chân cung nữ trực nào đó bước qua hành lang, đi rất chậm, sau đó dừng lại. Một giọt sáp nến rơi khỏi cây nến giữa án, chạm mặt gỗ, kêu rất nhỏ. Ta không quay đầu. Ta không được quay đầu.
Ngậm một hớp trong khoang miệng. Đếm ba nhịp thở. Không nuốt vội.
Vị chát. Sau chát là ngọt hậu. Sau ngọt hậu, ở cuối lưỡi, có một vị nhẹ như hạnh nhân đắng.
Không phải nhài. Không phải trà thường.
Có gì đó bà thêm.
Không phải Vạn Xuân Tán. Vị khác. Nhẹ hơn Vạn Xuân Tán. Tan cũng nhanh hơn. Kiếp trước ta không biết chất này. Trong ba năm Thượng Trà cục, ta không được học công thức các loại thảo dược Vệ gia riêng.
Ta nuốt.
Đầu lưỡi ta còn tê một khoảng nhỏ bằng đầu ngón út. Không giết. Chỉ đủ để bà biết ta có nuốt thật hay không, qua phản ứng ta.
Bà không giết ta. Bà chỉ đánh dấu ta.
Ta đặt chén xuống. Ngước lên bà.
Bà nhìn ta ba giây.
Rồi bà cầm chén ta bưng, chén có Vạn Xuân Tán, chén trâm bạc ta đã thử. Bà mở nắp.
Đưa lên miệng.
Uống một hớp.
Chén ta bưng, bà uống. Đúng như bà nói.
Nhưng khi bà đặt chén xuống, ánh nến bên án chớp một cái, ta nhìn thấy trong đáy chén, dưới ánh vàng của trà an thần, có một cái gì đó lạ.
Một mảnh giấy dâu rất nhỏ. Gấp tư. Bằng đầu ngón út.
Bà đã bỏ vào đáy chén trước khi uống. Bằng tay nào ta không thấy. Ba giây bà đưa chén lên miệng, ba giây bà nuốt, ba giây bà đặt xuống, ta chỉ chớp mắt hai lần.
Bà đẩy chén về phía ta.
“Ngươi lui. Sáng mai bưng trà đúng giờ.”
Ta lạy. Đứng dậy. Cầm khay. Chén ta bưng, chén bà uống, bây giờ bà trả lại. Trong đáy chén, dưới lớp trà còn sót, mảnh giấy dâu nằm im.
Ta ra khỏi Khôn Nguyên cung.
Trời đã sáng ngoài rèm. Sương phủ mái ngói xanh. Tiếng mõ canh mão vừa dứt đâu đó xa. Ta cầm khay đi qua hành lang dài, qua ba lính canh cúi đầu, qua cửa sau vào Thượng Trà cục.
Vào bếp trong. Không có ai. Ca sáng Lâm nhi còn đang thay lá trà bên phòng ngoài.
Ta đặt khay xuống bàn đá. Đổ trà còn sót ra chậu.
Mảnh giấy dâu nằm dưới đáy chén, ướt trà vàng nhạt.
Ta cầm lên. Mở gấp.
Trên mảnh giấy, bằng chỉ vàng cực nhỏ thêu chứ không phải mực, có ba chữ. Nét thêu quen. Đường viền chỉ vàng bà thường thêu trên lai áo hoàng bào lễ chính. Bà thêu trước, gấp trước, giấu trong tay áo trước khi ta bước vào phòng. Trước khi bà biết ta là ai. Trước khi ta xin nếm.
Bà chuẩn bị mảnh giấy này cho cung nữ đưa trà mới. Bất kỳ cung nữ nào bước vào Khôn Nguyên cung sáng nay đều nhận được ba chữ đó.
Chỉ khác là ta biết nghi. Ta nhận sớm hơn một giây.
Ai sai ngươi.
Ba chữ. Không dấu hỏi. Không dấu chấm. Câu không có kết.
Ta cầm mảnh giấy dâu bằng hai ngón tay. Đứng giữa bếp Thượng Trà cục. Đầu lưỡi ta còn tê. Trong ngực áo, trâm bạc hoa mai vẫn ấm chỗ da.
Kiếp trước ta bưng chén trà năm năm, bà không hỏi ta một câu.
Kiếp này ta bưng chén trà một buổi, bà đã hỏi ta câu đầu.
Ta cứ tưởng năm năm nữa mới đến lượt ta trả lời.
Bà thắng ván đầu.