Trọng Sinh Ta Là Cung Nữ Đưa Trà Cho Hoàng Hậu
Chương 2: Chén Thứ Hai Trà Thường
Chén trà trên tay ta. Ta chưa đưa lên miệng. Cả phòng Khôn Nguyên cung đứng im.
Hoàng hậu điện hạ vẫn ngồi thẳng bên án. Ngón tay bà đặt hờ lên mép ấm sứ. Không giục.
Ba nhịp thở.
Ta biết nếu ta ngập ngừng thêm một nhịp nữa, bà sẽ mất kiên nhẫn. Kiếp trước ta chưa từng thấy bà nhíu mày. Kiếp này ta cũng không muốn thấy lần đầu tiên trong đời mình gây ra.
Ta đưa chén lên môi. Ngậm một hớp trong miệng. Ba nhịp thở nữa để đầu lưỡi rà khắp vị.
Vị chát nhẹ. Hậu ngọt cam thảo. Có một dư vị hạnh nhân đắng ở tận cùng lưỡi. Nồng độ mỏng như sương buổi sớm. Nếu người không biết, người sẽ nghĩ đó là lá trà mùa xuân.
Ta biết. Đây không phải hạnh nhân.
Ta nuốt. Chén cạn một nửa. Ta đặt chén xuống khay, quỳ xuống lần nữa, hai đầu gối chạm nền gạch xanh. Nền gạch lạnh thấm qua lớp lụa mỏng.
“Bẩm Hoàng hậu điện hạ. Nô tì đã nếm. Chén trà điện hạ tự pha, không có gì lạ. Vị thanh, hậu ngọt.”
Bà gật một cái.
“Được. Bây giờ ngươi nếm chén ngươi bưng.”
Ta cầm chén thứ nhất. Chén sứ vàng nhạt, nắp bằng, trà an thần Thượng Trà cục. Chén này Lâm nhi pha. Chén này có Vạn Xuân Tán.
Ta mở nắp. Đưa lên môi.
Một hớp cực nhỏ. Không nuốt sâu. Ta để đầu lưỡi tiếp xúc thôi. Trâm bạc trong ngực áo đã báo có độc, ta chỉ cần chứng minh ta dám uống, không cần để nó ngấm.
Ta nuốt. Đầu lưỡi ta tê nhẹ trong một khoảnh khắc rồi ngừng lại.
Không lộ.
Ta đặt chén xuống. Vẫn quỳ.
Hoàng hậu nhìn ta lâu. Ngón tay bà rời khỏi mép ấm, chậm rãi vòng lại chuỗi hạt phật đặt bên án.
“Ngươi có gì lạ?”
“Bẩm điện hạ, không có. Chỉ là quy tắc Thượng Trà cục dạy. Nô tì mới thăng cung nữ đưa trà chính, xin phép làm thêm bước công khai cho điện hạ tin. Từ mai nô tì nếm bí mật trong Thượng Trà cục như cũ.”
Bà biết ta nói dối. Ta biết bà biết. Bà không truy vì bà đã thắng ván đầu, chưa cần biết cả ván.
Bà cầm chén ta bưng. Uống. Đặt xuống. Không nói gì thêm.
“Ngươi lui.”
Ta lạy. Bước lùi ba bước rồi mới quay lưng. Chân ta hơi khựng khi bước qua ngưỡng cửa. Tấm rèm gấm đỏ đập nhẹ vào má ta.
Ra khỏi Khôn Nguyên cung, gió sáng canh mão thổi qua hành lang. Một con chim khách kêu trên mái ngói. Ta không nghe rõ. Trong đầu ta chỉ có một tiếng đập nhỏ, đều, chậm dần.
Ta về Thượng Trà cục theo lối cũ. Không rẽ, không nhìn ai.
Vào bếp phía sau. Xuân Đào đang thổi lửa nồi nước sôi cho ca chiều. Nó ngước lên, cười: “Chu tỷ tỷ hôm nay về sớm?”
Ta gật. Không trả lời. Bước qua nó.
Kéo hũ gừng khô trên giá cao xuống. Bốc ba lát dày. Thả vào bát sứ. Đun nước sôi rót đầy. Đợi hai canh khắc. Uống một hơi.
Cay. Cay đến chảy nước mắt.
Ta uống liên tiếp ba chén. Chén cuối ta không đợi hơi tan. Ta ngồi bệt xuống nền bếp, dựa lưng vào cột gỗ. Đầu ta hơi choáng. Bụng ta co lại một cái. Ta chạy ra sau bếp, nôn ra nền cỏ.
Ra hết. Đầu lưỡi ta không còn tê.
Xong.
Ta ngồi lại dưới cột. Nhắm mắt. Trâm bạc trong ngực áo chạm da lạnh. Ta đưa tay vào áo, nắm chặt trâm ba nhịp thở.
Mẹ. Con còn sống.
…
Tuyết đầu mùa lại phủ mái Khôn Nguyên cung.
Một năm nữa trôi qua. Ta vẫn bưng trà. Không đổi.
Sáng canh mão nào ta cũng đứng cách bàn Hoàng hậu ba bước. Khay gấm vàng. Chén sứ vàng nhạt. Trà an thần Thượng Trà cục pha sẵn. Ta đặt khay. Ta lui. Hoàng hậu uống. Hoàng hậu đọc sách. Hoàng hậu ngước lên gật một cái. Ta lạy. Ra.
Không nếm công khai nữa. Làm một lần đủ để bà chú ý. Từ hôm ấy ta chỉ nếm bí mật trong Thượng Trà cục trước khi bưng ra, đúng quy trình. Mỗi lần nếm, đầu lưỡi ta biết vị. Trâm bạc trong ngực ta biết độc. Ta uống nước gừng nóng ngay sau khi giao trà xong. Nôn. Xong.
Ba trăm sáu mươi ngày như vậy.
Ta gầy đi ba cân. Da tay ta khô. Mắt ta thâm. Nha đầu Xuân Đào có lần hỏi ta có ốm không. Ta bảo “Ngủ ít, không sao.” Nó không hỏi thêm.
Xuân Đào mười sáu tuổi. Nha đầu Thượng Trà cục cùng ca ta, quê gốc ở ngoại thành Biện Kinh, mồ côi từ mười tuổi, vào cung năm mười ba. Nó nhỏ hơn ta hai tuổi. Nó không đẹp, cũng không xấu. Mặt tròn, mũi thấp, hai má luôn đỏ vì trực bếp. Nó không hỏi nhiều. Nó cũng không đi đêm. Ba trăm sáu mươi ngày qua ta không nói với nó chuyện gì lớn, chỉ nhờ nó rót nước, giữ lửa, lấy gừng. Mỗi lần nhờ nó cười. Mỗi lần cười răng nó khấp khểnh, cái răng khểnh bên phải làm nó trẻ hơn tuổi.
Đêm cuối mùa đông năm ấy, khi ta còn ngồi bên cột gỗ sau ca chiều, nó ngồi xuống bên ta, đưa cho ta một chén cháo hành nóng. Không hỏi gì. Chỉ đặt chén xuống rồi đi.
Ta cầm chén cháo, hơi bốc lên tay. Trong đầu ta lặng đi một khoảnh khắc.
Kiếp trước ta cũng có nó bên cạnh. Kiếp trước năm ta bị bắt tra hỏi, nó là người duy nhất mang cơm cho ta ba ngày đầu, đến khi thái giám cấm mới thôi. Nó không có tội gì. Nó chỉ là nha đầu bưng cháo. Nhưng kiếp trước ta không nhớ tên nó khi ta chết.
Kiếp này ta nhớ. Xuân Đào.
Ta ăn hết chén cháo. Trả chén rửa sạch, úp lên giá. Đêm hôm ấy ta ngủ được ba canh giờ. Ba canh giờ dài nhất từ sáng đầu tiên ta bưng chén vào Khôn Nguyên cung.
Trong ba trăm sáu mươi ngày ấy, ta ba lần thoáng thấy Lâm nhi bên bàn pha. Y luôn cười, luôn ngọt: “Chu tỷ tỷ, hôm nay điện hạ khỏe không?” Ta luôn đáp: “Điện hạ khỏe.” Y luôn gật. Y luôn quay đi.
Bàn tay y khi cân lá trà không run một nhịp nào.
Ta biết y không phải người thường. Người thường cân độc năm này qua tháng khác không thể tay không run. Y đã cân đủ lâu để tay quen. Người của Điền quý phi cấy vào Thượng Trà cục ba năm trước. Kiếp trước ta không biết. Kiếp này ta biết.
Nhưng ta chưa động y. Chưa đến lúc.
Cây kim trong bọc lâu ngày cũng lòi. Ta chỉ cần đợi kim tự lòi ra, không cần ta rút.
…
Sáng đầu xuân năm thứ hai.
Ta dậy canh dần. Trời còn tối. Sương đọng trên ngói. Trong bếp Thượng Trà cục, Lâm nhi trực ca sáng, đã pha xong trà an thần bốn chén cho bốn phi tần cấp cao. Chén Hoàng hậu để riêng, chờ ta bưng.
Ta bước vào bếp. Lâm nhi ngước, cười: “Chu tỷ tỷ, chén hôm nay pha vị đậm hơn. Đợt lá xuân mới về, cần thêm cam thảo.”
Ta gật.
Ta cầm chén Hoàng hậu. Bước ra sau bếp, chỗ Xuân Đào đang thổi lửa.
Xuân Đào ngước.
Ta ra hiệu. Chỉ một cái nghiêng đầu về phía tay áo ta. Nó hiểu ngay, không hỏi.
Ta đã dặn nó ba đêm trước, chỉ một câu ngắn khi hai đứa cùng phơi khăn sau bếp: “Sáng đầu xuân ngày nào tuyết tan hết, muội đưa gói giấy vàng ta để trên xà thứ tư kho phụ, không hỏi.” Nó gật. Không hỏi ta để gì trong đó, không hỏi ta dùng làm gì. Nó chỉ gật.
Sáng nay tuyết tan hết. Nó lấy gói.
Nó lấy trong tay áo ra một gói giấy nhỏ, đưa cho ta. Trong gói là lá trà thường ta đã lén chọn từ kho phụ hai đêm trước. Lá trà mùa xuân đợt đầu, không phải công thức Hoàng hậu.
Ta đổ chén Lâm nhi pha vào nồi nước rửa. Nồi nước rửa đục, không ai nhìn ra. Ta pha lại chén mới bằng lá gói của ta, đúng nhiệt độ, đúng lượng nước, đúng cách đậy nắp Hoàng hậu quen. Ba khắc.
Vị nước ra xanh nhạt. Không hạnh nhân đắng.
Ta bưng chén vào Khôn Nguyên cung như hai trăm sáu mươi ngày qua. Đặt khay. Lui.
Hoàng hậu uống. Đọc sách. Không nói gì.
Ta lạy. Ra.
Không có gì khác thường trong ba khắc đầu.
Ta về Thượng Trà cục. Uống ba chén nước gừng theo thói quen. Không nôn được, chén hôm nay không có độc. Ta ngồi trong bếp, tay còn hơi run.
Bà uống chén đó chưa đầy ba khắc trước. Nếu bà chú ý, bà sẽ chú ý trong một canh giờ.
Nửa canh giờ sau, một cung nữ trực Khôn Nguyên cung chạy sang Thượng Trà cục. Nó tìm cung nữ đưa trà chính, đứng thở ở cửa: “Chu tỷ tỷ. Điện hạ hôm nay tinh thần khá lắm. Bà bảo dâng ba tập sách ‘Trầm Hương Ký’ để đọc. Chúng ta chưa từng thấy bà đọc ba tập một sáng.”
Ta gật. “Điện hạ khỏe là phúc cho cung.”
Cung nữ kia đi. Ta ngồi bên cột gỗ. Nắm trâm bạc trong ngực.
Bà đã tỉnh táo. Bà sẽ chú ý. Bà sẽ nhớ vị chén sáng nay khác. Bà là kẻ hai mươi hai năm ngồi hậu cung. Bà không quên vị trà.
Chiều ấy, sau bữa cơm chay của điện hạ, một tiểu thái giám mang lệnh đến Thượng Trà cục. Điện hạ triệu cung nữ đưa trà Chu Nhược Vi vào phòng nhỏ bên hông Khôn Nguyên cung. Riêng.
Xuân Đào tái mặt khi nghe. Nó nhìn ta. Ta chỉ gật.
Đến lúc rồi.
…
Phòng nhỏ bên hông Khôn Nguyên cung. Không có cung nữ khác. Rèm gấm nâu buông kín. Trên án nhỏ có một lư trầm đang cháy nhẹ. Mùi trầm bay lên chậm, không nồng.
Hoàng hậu ngồi bên án, tay cầm cuốn sách “Trầm Hương Ký” tập ba. Ngón tay bà không run.
Ta quỳ.
Bà không ngước. Bà chỉ hỏi một câu.
“Chu Nhược Vi. Sáng nay chén trà khác không?”
Ta cúi đầu. Ba nhịp thở trong lòng để chọn từ.
Nếu ta nói khác, bà sẽ hỏi ai đổi. Ta chưa thể chỉ Lâm nhi. Chưa có vật chứng, chỉ y suông thì bà nghi ta vu. Nếu ta nói không, bà mất kiên nhẫn, đổi cung nữ khác. Ta mất vị trí, mất năm sau. Phải nói khéo, không thừa, không phủ.
“Bẩm điện hạ. Nô tì pha đúng công thức Thượng Trà cục. Có thể lá trà mùa xuân đợt mới hái tươi hơn, sinh khí lá còn nguyên, vì thế vị hôm nay khác chút.”
Bà ngước lên. Nhìn ta.
Ba nhịp thở im. Lư trầm bên án cháy một tiếng lép nhỏ. Một giọt sáp cháy rơi từ mép lư xuống mặt án gỗ đàn. Chỉ một giọt.
Ta không dám ngước lên chạm mắt bà. Ta nhìn giọt sáp ấy.
“Ngươi biết vị hôm nay khác.”
Bà không hỏi. Bà khẳng định.
Ta cúi thấp hơn. “Nô tì biết.”
“Ngươi thấy khác chỗ nào.”
Lưng ta lạnh một nhịp. Bà thử ta lần thứ hai. Không phải thử ta có trung với bà không. Bà thử ta có tinh giác pha trà không, hay chỉ là cung nữ tay chân sai đâu đánh đó.
Ta hít một hơi. “Bẩm điện hạ. Chén sáng nay hậu ngọt hơn, không có dư vị đắng cuối lưỡi mà chén hai năm nay có.”
Bà im.
Mười nhịp thở.
Rồi bà đóng cuốn sách trong tay, đặt xuống án. Ngón tay bà rà nhẹ trên bìa sách. Cuốn “Trầm Hương Ký” bìa gấm nâu, bốn góc dát chỉ vàng. Ngón út bà không đeo nhẫn. Kiếp trước ta không biết bà có nhẫn ngọc bích. Kiếp này ta biết. Nhẫn nằm trong hộp gỗ bên án, cách chỗ ta quỳ nửa bước.
Bà không lấy nhẫn. Chưa lấy.
“Ngươi ra. Sáng mai bưng trà như hai năm qua. Không đổi lá nữa.”
Ta cúi đầu. “Vâng, điện hạ.”
Ta bước lùi. Đến rèm gấm nâu ta khựng nửa nhịp, bà gọi lại.
“Chu Nhược Vi.”
Ta dừng.
“Ngươi tinh giác. Cẩn thận.”
Chỉ một câu.
Ta lạy. Ra.
Ngoài rèm, hành lang Khôn Nguyên cung có nắng chiều xiên qua khung cửa. Ta bước qua vệt nắng. Bóng ta trên nền gạch xanh dài, gầy, hơi run ở vai.
Bà đã bắt đầu nghi. Không nghi ta. Nghi trà. Tốt. Một năm nữa ta cần bà tự phát hiện, không phải ta chỉ ra. Ta chỉ ra thì ta chết. Bà tự phát hiện thì kẻ pha chết.
Ba năm nữa, ta cần bà đủ nghi để đeo nhẫn ngọc thử.
…
Trở về Thượng Trà cục. Trời đã tối một nửa. Trong bếp, đèn dầu treo trên xà ngang cháy đều. Ta bước vào theo cửa hông.
Lâm nhi đứng bên bàn pha. Y đang cân lá trà cho ca chiều. Cán cân đồng đen của y bằng phẳng như mặt nước ao đông. Tay y không run.
Y ngước lên, cười: “Chu tỷ tỷ, sáng nay Hoàng hậu điện hạ khỏe không? Ta nghe nói bà đọc ba tập ‘Trầm Hương Ký’ liền một sáng.”
Ta đứng cách y ba bước. Đủ gần để nghe rõ. Đủ xa để y không chạm được.
Ta đáp, giọng đều: “Điện hạ khỏe. Muội có công thức trà chuẩn, không thay đổi.”
Nét cười của y khựng một khoảnh khắc. Chỉ một khoảnh, ngắn hơn thời gian một giọt sáp nến rơi. Sau đó cười lại như thường.
“Chu tỷ tỷ pha trà giỏi. Muội học được nhiều.”
Ta gật. Bước qua y, ra sau bếp.
Sau bếp, ta ngồi xuống cột gỗ chỗ ta hay ngồi. Xuân Đào đưa cho ta một chén nước gừng nóng. Ta cầm, không uống ngay.
Ta biết y biết.
Y biết ta biết y biết.
Từ đêm nay đến ba năm nữa, một trong hai người chúng ta sẽ chết. Không có cách khác. Cung này không đủ chỗ cho hai người cùng biết một chuyện lớn.
Ta cúi xuống chén gừng trong tay. Hơi bốc lên mặt ta. Mắt ta cay.
Không phải vì gừng.