Nữ Họa Sư Bước Ra Từ Tranh Mỗi Đêm
Chương 5: Năm Trăm Năm Trước, Trong Phủ Lư
Đúng như ta lo. Ngày thứ mười sáu, người đàn bà đó nhận ra con bé không yếu đi theo lịch.
Ta biết vì ta đứng trong tranh, ta nghe hết.
Sáng đó Chu thị vào phòng con bé. Bà ta không mang chỉ thêu, không kéo dài giọng ở cuối câu như mọi lần. Bà ta chỉ đứng ở giữa phòng, nhìn con bé từ đầu tới chân, lâu.
“Cẩm Y, con hồng hào hơn.” Bà ta nói. “Nương mừng.”
Con bé cúi đầu: “Chắc nhờ thang thuốc của nương.”
“Ừ. Nhờ thang thuốc.” Chu thị đứng thêm một lúc. “Con còn yếu. Từ nay con cứ tĩnh dưỡng trong viện, đừng ra ngoài. Gió độc. Nha hoàn của con nương điều sang giúp việc bên chính viện ít hôm, thiếu người. Con cần gì thì gọi Ma ma Lưu, bà ấy ở gần.”
Bà ta đi ra. Cửa khép.
Con bé ngồi im. Ta không nói gì. Cả hai đứa đều hiểu vừa xảy ra chuyện gì.
Từ hôm đó, viện con bé có người canh. Một bà già ngồi ngoài hành lang khâu vá cả ngày, mắt lúc nào cũng liếc về phía cửa phòng. Con bé thử ra vườn hái hoa, bà già đứng dậy đi theo, cách ba bước, miệng nói “tiểu thư yếu, để lão hầu”. Con bé quay vào. Cửa ngách nhà bếp, con bé sai đứa nha hoàn nhỏ còn lại đi dò, về báo: đêm nay có hai người gác thêm ở đó, Chu thị nói dạo này ngoài phố có trộm.
Cơm bưng tận phòng, không xuống chính viện ăn chung nữa. Mọi món nấu riêng, qua tay Ma ma Lưu. Nước uống bưng lên, một bình một ngày, bình có nắp gỗ, Ma ma Lưu tự đậy.
Con bé bị nhốt trong chính viện của nó, mà không ai gọi đó là nhốt. Ai hỏi thì Chu thị nói con bé yếu, cần tĩnh dưỡng, kế mẫu lo cho con chồng chu đáo quá thể.
Đêm, ta bước ra. Con bé đưa ta xem: cháo sáng, canh trưa, nước cả ngày. Ta ngửi từng thứ.
Lệ sinh thảo. Trong cháo. Trong canh. Trong nước.
“Bà ta không tăng liều trong thang.” Ta nói. “Bà ta rải ra khắp bữa ăn. Ngươi đổ thang thì còn cháo, đổ cháo thì còn canh, đổ canh thì còn nước. Ngươi không nhịn ăn cả ngày được.”
Con bé ngồi xuống mép giường. Nó không hoảng. Nó chỉ hỏi, giọng đều:
“Vậy giờ tính sao. Em bị canh cả ngày. Đêm cửa ngách chắc cũng khó ra, tuần đêm giờ đi kỹ hơn, em nghe tiếng mõ dày hơn trước.”
Ta phải nói cho nó biết hết. Nửa vời thì hai đứa tính sai.
“Ngươi nghe cho kỹ, vì ta chỉ nói một lần.” Ta ngồi xuống chiếc ghế đối diện nó. “Ta là hồn trong bức tranh đó. Ta gắn với bức. Ta ra khỏi bức được từ canh ba tới canh tư, một canh giờ, không hơn. Ban đêm ta đi xa bức tối đa nửa dặm. Ban ngày ta không cầm được vật gì, kể cả một tờ giấy.”
“Cái đó em biết rồi.”
“Chỗ ngươi chưa biết là chỗ này. Bức tranh rách thì ta đau, như da ngươi bị rạch. Bức tranh mà cháy, hoặc mục nát, hoặc huỷ hẳn không còn mảnh nào, thì hồn ta tan. Không tan ngay. Tan dần trong ba ngày. Sau ba ngày thì hết, không còn ta nữa, đi cũng không đi được, chỉ là hết.”
Con bé ngẩng lên nhìn ta.
“Có cách nào giữ không?”
“Có một cách. Trước khi bức tranh gốc mất, phải có một vật khác thay thế, đã được điểm nhãn bằng máu. Không phải máu ai cũng được. Phải là máu người đã cộng hưởng với ta, tức là ngươi, người đã điểm máu ngón út vào bức tranh này. Ngươi vẽ một hình thần Phật lên vật đó, rồi điểm máu ngón út vào mắt tượng. Khi bức gốc cháy, hồn ta chuyển sang vật mới.”
Con bé im một lúc lâu.
“Vậy bức tranh là mạng của nương nương.” Nó nói. “Mà em thì đang treo cái mạng đó trong đúng cái phòng người ta muốn dọn sạch.”
“Ừ.”
Ngoài cửa sổ, gió lùa qua chấn song, một tiếng dài. Cây nến trầm trên đĩa đồng nổ một tiếng lép, tàn nến rơi xuống.
Con bé kéo ghế lại gần ta hơn.
“Nương nương kể em nghe đi. Nương nương chết thế nào. Em cần biết, để em hiểu em đang đối đầu với cái gì.”
Ta nhìn giọt máu ở đầu ngón út mình. Nó vẫn đọng ở đó, như thể nó biết sắp phải kể lại chuyện của nó.
“Năm đó ta hai mươi tư tuổi. Ta là hoạ sư. Nữ mà làm hoạ sư thì hiếm, nhưng ta vẽ tượng thần Phật cho các chùa quanh kinh, người ta gọi ta là ‘cô hoạ tăng’, không ai bắt bẻ.”
“Một quan viên coi kho muối thuê ta. Trong lời ta hay gọi lão là Lư đại nhân. Lão thuê ta tới phủ vẽ một bộ ba bức Quan Âm cho gia miếu nhà lão. Trả hậu. Ta tới, ở lại phủ lão, dựng giá vẽ trong một gian nhà phụ cạnh thư phòng lão.”
“Vẽ được nửa tháng, một hôm ta vào thư phòng lão mượn nghiên mực lớn. Lão đi vắng. Trên án lão có hai cuốn sổ để cạnh nhau. Ta liếc qua. Một cuốn ghi số muối nhập xuất kho, một cuốn cũng ghi số muối nhập xuất kho, nhưng số khác. Cùng một tháng, hai cuốn, hai con số. Ta là hoạ sư, ta không rành chuyện kho tàng, nhưng ta biết đọc số. Hai cuốn sổ nghĩa là một cuốn để trình lên trên, một cuốn là số thật. Phần chênh lệch, lão bỏ túi.”
“Ta còn thấy, ở góc sân sau phủ lão, có một cửa hầm. Ban đêm có người khiêng bao tải xuống đó. Muối lậu, ta đoán vậy.”
Ta ngừng một nhịp.
“Ta không tố. Ta nghĩ: ta là hoạ sư, ta tới đây vẽ tranh, chuyện kho muối không phải việc của ta. Ta cứ vẽ cho xong bộ tranh rồi lấy tiền công về, quên chuyện đã thấy. Ta nghĩ y như vậy.”
Con bé không nói gì. Nó chờ ta kể tiếp.
“Nhưng lão Lư biết ta đã vào thư phòng. Gia nhân của lão thấy ta ra khỏi đó, báo lão. Lão không tra hỏi ta câu nào. Lão vẫn tử tế, vẫn khen tranh ta đẹp, còn mời ta ở lại thêm để vẽ kỹ hơn, trả thêm tiền. Mỗi tối, lão sai một bà vú bưng lên cho ta một chén trà, bảo là trà bổ, hoạ sư thức khuya hại mắt nên uống cho khoẻ. Bà vú đứng nhìn ta uống hết mới cầm chén đi.”
“Bà vú đó, ta còn nhớ một chi tiết. Cổ tay bà ta có một nốt ruồi to bằng hạt đỗ. Bà ta lúc nào cũng cúi đầu, không nhìn thẳng ta bao giờ. Ta nghĩ bà ta hiền lành, nhút nhát. Về sau ta hiểu: bà ta không dám nhìn thẳng người mình đang bưng độc tới cho.”
“Ta uống. Mười ngày đầu ta thấy mệt, nghĩ là vẽ nhiều. Rồi ta ăn không nổi, nhìn cơm là buồn nôn. Rồi ta đứng lên là hoa mắt, phải vịn giá vẽ. Rồi một đêm ta soi tay mình dưới đèn dầu, thấy móng tay có một vạch ngang màu chì. Ta lấy khăn chùi, tưởng là vết mực. Chùi không đi. Ta nghĩ chắc tại pha màu chì nhiều quá, ngấm vào tay. Ta là hoạ sư mà, tay ta lúc nào chả dính màu.”
Ta đưa bàn tay ra, xoè ngón cho con bé nhìn.
“Đúng cái vạch trên tay ngươi hôm ta gặp ngươi đêm đầu.”
Con bé nhìn tay ta. Móng tay ta bây giờ trong, không màu, như mọi thứ khác trên người hồn. Nhưng nó gật, như thể nó thấy được cái vạch đó.
“Nửa tháng thì ta nằm liệt. Ta biết ta sắp chết. Ta không biết vì sao, ta chỉ nghĩ mình yếu, mình lao lực. Đêm cuối, ta gượng dậy, lết tới giá vẽ. Bộ tranh Quan Âm ta vẽ gần xong, chỉ còn bức thứ ba chưa điểm nhãn, mắt tượng còn để trắng.”
“Người xưa có tục: hoạ sư vẽ tượng thần Phật, khi hấp hối mà chưa kịp làm việc lớn nào để tích đức, thì chích máu đầu ngón út điểm vào mắt bức tượng mình vẽ dở, gọi là gửi hồn vào bức để nhờ Phật dẫn đường cầu siêu. Chỉ là một nghi thức. Người ta làm cho yên lòng lúc chết, không ai nghĩ nó thật.”
“Ta làm. Tay ta lúc đó đã không còn sức cắn, ta phải lấy con dao gọt bút rạch một đường ở đầu ngón út. Máu ứa ra, chậm, vì người ta đã gần cạn máu. Ta chấm ngón vào chỗ mắt tượng để trắng, ấn xuống. Một giọt. Rồi ta gục xuống dưới chân giá vẽ.”
Ta nhìn con bé.
“Ta không cầu siêu được. Ta làm cái nghi thức đó lúc trong người đầy oán, mà bức tranh thì chưa điểm nhãn xong, nghĩa là cái cửa còn mở. Máu ta vào bức, hồn ta theo máu vào, cửa chưa đóng thì ta ra không được. Bức giữ ta lại.”
“Sáng ra bà vú lên, thấy ta nằm dưới giá vẽ, tắt thở. Lão Lư sai hai gia nhân bó ta vào chiếu, khiêng ra sau phủ, thả xuống cái giếng bỏ hoang ở góc vườn. Ta ở trong tranh, ta nhìn ra qua lớp lụa, ta thấy hết. Thấy chiếu cuốn. Thấy hai cái bóng khiêng đi. Nghe tiếng nước dưới giếng vọng lên một tiếng ‘ục’. Rồi thôi.”
“Lão phao tin ra ngoài: cô hoạ tăng vẽ xong bộ tranh, nhận tiền công, đã về quê. Ta không có quê để về. Ta mồ côi, lớn lên trong một ni viện, ra ngoài kiếm sống bằng nghề vẽ. Không ai đi tìm một người như ta. Không có ai để đi tìm.”
“Ba bức Quan Âm, lão đem cúng vào gia miếu như đã tính. Bức thứ ba, bức có máu ta, sau này con cháu lão lụn bại đem bán. Nó trôi từ tiệm đồ cổ này sang tiệm đồ cổ khác, năm trăm năm, tới tay ngươi.”
“Mấy chục năm đầu ta không hiểu vì sao ta chết. Ta cứ nghĩ ta lao lực thật. Phải rất lâu sau, một đời chủ tranh của ta là thầy lang, ông ta hay ngồi trước bức tranh đọc sách thuốc thành tiếng, ta nghe ké. Tới hôm ông ta đọc tới đoạn tả một thứ cỏ độc, uống lâu ngày móng tay hoá màu chì, lợi rút, người mòn mà chết, khám ngoài không thấy vết. Ta nghe xong, ta đứng trong tranh cả đêm không nhúc nhích. Lúc đó ta mới biết mình bị giết. Muộn mấy trăm năm.”
Ta ngừng.
“Ta chết vì ta thấy mà làm ngơ. ‘Không phải việc của ta.’ Ta nói câu đó, rồi ta uống trà mỗi tối, rồi ta chết.”
“Ngươi thì khác. Ngươi thấy mình bị hại, ngươi không ngồi im. Ngươi đi tìm, ngươi mua cả một bức tranh có ma về treo, ngươi nhờ ta. Ngươi làm đúng cái việc ta đã không làm.”
Con bé ngồi im rất lâu. Ngọn nến trầm cháy hết một đoạn, sáp chảy xuống đĩa đồng đông lại thành một vệt.
“Nương nương không có lỗi.” Cuối cùng nó nói. “Nương nương là hoạ sư, không phải quan. Thấy sổ sách gian mà đi tố, người ta cũng chưa chắc tin nương nương, mà lão Lư biết thì nương nương chết còn nhanh hơn.”
“Có thể.” Ta nói. “Nhưng ta không thử. Ta chọn im. Đến lúc thấy chén trà có mùi lạ thì đã một mất một còn, không quay lại được nữa. Ta có năm trăm năm để nghĩ về cái chọn đó, đêm nào cũng nghĩ. Nghĩ nhiều tới mức bây giờ ta không chắc mình nhớ đúng nữa, hay ta đã kể lại chuyện đó cho chính ta nhiều lần tới mức nó mòn đi.”
“Nương nương nhớ đúng.” Con bé nói. “Người ta kể chuyện mình đau nhiều lần thì chuyện mòn thật. Nhưng cái vạch chì trên móng tay thì không mòn. Nương nương thấy nó trên tay em, nương nương biết ngay. Cái đó thật.”
“Đừng gọi ta là nương nương nữa.” Ta nói. “Ta không phải thần Phật, ta nói với ngươi từ đêm đầu rồi. Ta là hoạ sư. Tên ta là Tô Họa Chi.”
Con bé ngồi im một lúc, như cất cái tên đó vào đâu đó cho chắc.
“Tô tỷ.” Nó nói. “Em gọi vậy được không.”
“Được.”
Ta đứng dậy.
“Thôi. Chuyện của ta kể tới đó là hết. Giờ tính chuyện của ngươi.”
“Bây giờ ngươi bị canh cả ngày, không đổ được đồ ăn, đó là chuyện xấu. Nhưng nó cũng nói cho ta biết một điều tốt: Chu thị vẫn nghĩ ngươi đang trúng độc, bà ta chỉ nghĩ độc ngấm chậm hơn bà ta muốn. Bà ta chưa nghi có người ngoài giúp ngươi. Chừng nào bà ta còn nghĩ vậy, ta còn đường.”
“Hai việc phải làm. Một, đêm mai ta vào dược phòng, đổ lệ sinh thảo trong lọ pha sẵn, thay bằng bột bổ khí ta lấy ở Tế Sinh Đường. Từ đó Ma ma Lưu vẫn bốc từ lọ đó, vẫn tưởng đang bỏ độc vào cháo canh nước của ngươi, thật ra là bỏ thuốc bổ. Ngươi khoẻ lên thật. Bà ta càng hoang mang.”
“Hai, làm sẵn vật chứa thay thế cho ta. Vì nếu Chu thị thấy ngươi khoẻ mà không hiểu vì sao, bà ta sẽ nghĩ tới chuyện thần Phật, tới bức tranh. Bà ta mà động tới bức tranh, ta phải có chỗ khác để chuyển hồn.”
Con bé đứng dậy theo. Nó bước tới án, cầm cây quạt lụa của nó lên, xoè ra hết cỡ. Mặt lụa trắng, mịn, còn mới.
“Vẽ được lên đây không, Tô tỷ?”
“Vẽ được.” Ta nói. “Nhưng ban đêm ta cầm bút không vững lâu. Tay ta chỉ chắc được một lúc rồi run. Ngươi vẽ. Ta cầm tay ngươi, đưa nét.”
Con bé gấp quạt lại, ôm vào ngực.
Năm trăm năm ta không cầm bút. Ngón út ta vẫn đọng một giọt máu, tròn, đỏ, như thể nó biết sắp tới lượt nó phải chảy lần nữa.
“Đêm mai.” Ta nói. “Tráo độc trước. Vẽ quạt sau.”