Nữ Họa Sư Bước Ra Từ Tranh Mỗi Đêm
Chương 6: Vẽ Quan Âm Lên Quạt
Canh ba. Ta ra khỏi tranh. Đêm nay hai việc, ít thời gian.
Con bé đã chờ sẵn, áo tối, tóc giấu trong khăn. Nó không mang quạt, để trên án. Trong ống tay áo nó có gói bột bổ khí và một cái ống tre rỗng.
“Ma ma Lưu ngủ chưa?” Ta hỏi.
“Ngủ rồi. Bà ấy uống rượu thuốc mỗi tối, ngủ sớm, ngủ say. Phòng bà ấy sát dược phòng, chung một vách.” Con bé nói. “Bà già canh hành lang thì tối nào cũng về dãy ngoài ngủ, để lại cửa viện khép hờ. Em ra được.”
Hai đứa luồn theo hành lang tối, men tường, tránh chỗ đèn. Dược phòng nằm sau chính viện, một gian nhỏ, cửa gỗ, khoá bằng then luồn từ trong. Ta luồn tay qua khe cửa, gạt then. Then nhẹ, một cái là ra. Cửa hé. Bên trong tối, mùi thuốc bắc quen thuộc.
Con bé che một cây nến hạt gạo. Ta đi dọc kệ.
Trên kệ có mấy chục lọ sành, dán nhãn giấy. Đương quy, hoàng kỳ, phục thần, toan táo nhân. Cuối kệ, tách riêng ra một góc, có một lọ sành nhỏ hơn, nhãn viết ba chữ ta không cần đọc cũng biết. Ta mở nắp, ghé mũi.
Lệ sinh thảo, đã tán mịn, trộn sẵn với ít bột thuốc bắc cho dễ lẫn vào thang. Đây là mẻ Ma ma Lưu bốc dùng mỗi ngày.
Bên kia vách, có tiếng giường cọt kẹt. Ma ma Lưu trở mình. Con bé tắt phụt cây nến, hai đứa đứng im trong bóng tối, sát tường. Ta nghe tiếng thở của bà ta bên kia, nặng, đứt quãng, rồi đều lại. Rượu thuốc kéo bà ta xuống. Một lúc lâu, con bé mới dám châm nến lại, che tay kín hơn trước.
Ta nghiêng lọ, đổ phần lớn ra cái ống tre con bé đưa. Đổ chậm, để bột không bay lên thành khói. Không đổ hết. Ta chừa lại dưới đáy lọ một lớp mỏng, đủ để nếu Ma ma Lưu nhìn vào thì thấy lọ vẫn còn thuốc, không thấy trống trơn.
Phần đổ ra ống tre, ta nút lại bằng nút gỗ, đưa con bé.
“Cái này giữ cho kỹ. Đây là lệ sinh thảo thật, lấy từ lọ trong nhà ngươi. Sau này cần chứng minh trong dược phòng nhà ngươi có độc, nó là bằng chứng. Chôn nó ở chỗ nào ngoài viện, chỗ Chu thị không mò tới.”
Con bé gật, nhét ống tre vào lần áo trong.
Ta lấy gói bột bổ khí, đổ vào lọ sành cho đầy lại tới mức cũ. Màu vàng nâu, hạt thô, lẫn với lớp lệ sinh thảo còn sót dưới đáy thì gần như một. Ta lắc nhẹ lọ cho trộn đều. Đậy nắp. Đặt lọ về đúng chỗ, xoay nhãn ra đúng chiều nó vốn quay ra. Ta còn để ý cả lớp bụi mỏng trên nắp lọ, lấy ngón tay quệt lại cho giống vệt cũ.
Trước khi ra, ta đi một vòng cái dược phòng. Trên bàn pha có một ấm nước, mấy cái chén, một hũ đường phèn, một rổ táo tàu. Ta ngửi qua. Nước sạch. Đường phèn sạch. Táo tàu thì có mùi lệ sinh thảo, nhẹ. Ma ma Lưu ngâm táo tàu trong nước thuốc rồi hong khô, để bỏ vào cháo canh cho con bé, người ngoài nhìn tưởng táo bổ. Ta nhặt hết chỗ táo đó, gói lại, đưa con bé mang ra ngoài đổ.
“Từ mai bà ta ngâm mẻ táo mới, mẻ mới lấy từ cái lọ ngươi vừa tráo.” Ta nói. “Nghĩa là mẻ mới cũng chỉ còn thuốc bổ. Ngươi ăn được hết.”
“Xong việc một.” Ta nói. “Từ mai, Ma ma Lưu bốc từ lọ này pha cho ngươi, bà ta tưởng cho ngươi uống độc, thật ra cho ngươi uống thuốc bổ. Ngươi cứ ăn hết, uống hết, không cần giấu nữa. Nhưng vẫn đóng vai người ốm. Yếu từ từ khoẻ lại, đừng khoẻ nhanh quá.”
Ra khỏi dược phòng, gạt then về đúng vị trí. Hai đứa men tường về phòng con bé. Còn nửa canh giờ.
“Việc hai.” Ta nói. “Xoè quạt ra.”
Con bé cầm cây quạt lụa trên án, xoè hết cỡ. Khung trúc già, chuốt nhẵn, mười mấy nan mỏng đều tăm tắp. Hai mặt bồi lụa, mặt lụa mịn màu ngà, sờ vào mát tay. Một mặt để trắng trơn, mặt kia có mấy nét mực loang mờ đã cũ, chắc mẹ con bé lúc sinh thời từng vẽ dở rồi bỏ.
Quạt thêu 2 mặt bọc lụa · phong cách cổ trang Trung Hoa
91.800đ
Xem chi tiết →“Quạt này mẹ em đặt thợ làm riêng, hồi mẹ còn con gái.” Con bé nói, tay vuốt phẳng mặt lụa. “Khung trúc là trúc Tương Phi, lụa là lụa Hàng Châu. Bảy năm em cầm, chưa rách nan nào.”
“Lụa tốt thì ăn mực. Vẽ lên được.” Ta nói. “Mài mực đi.”
Nó mài ở cái nghiên nhỏ trên án, nghiên của nó, mực nó vẫn dùng tập viết. Mực xuống đặc, đen, có ánh. Ta nhúng bút. Ngọn bút lông chấm vào mực, ta thấy cái cảm giác đó chạy dọc từ đầu ngón tay lên tới vai, cái cảm giác năm trăm năm ta không có. Tay ta cầm bút được, nhưng chỉ chắc được một lúc. Ta biết mình không kịp vẽ xong cả hình trước khi cổ tay bắt đầu run.
“Ngươi cầm bút. Ta cầm tay ngươi.” Ta nói.
Con bé cầm bút. Ta đặt tay mình lên tay nó. Tay ta không có sức nặng, nó chỉ như một luồng khí lạnh phủ trên mu bàn tay con bé. Nhưng cái luồng khí đó biết đường đi. Năm trăm năm ta không cầm bút, mà nét vẽ nằm trong ta chưa mất, nó nằm ở cổ tay, ở khuỷu, ở vai.
Ta đưa tay con bé đi. Nét thứ nhất: vòng cung của vầng hào quang. Nét thứ hai, thứ ba: tà áo trắng buông xuống. Rồi tay tượng bắt ấn. Rồi khuôn mặt, vẽ theo lối truyền thần triều Đường, mặt tròn đầy, mày dài, mắt cụp nhìn xuống.
Con bé vẽ theo tay ta, im lặng, thở nhẹ, không hỏi câu nào. Nét ra trên lụa là nét của ta, mực là mực của nó, tay là tay nó. Có chỗ nét hơi rung, chỗ tay ta run mà tay nó chưa kịp gồng. Nhưng cái hồn của hình thì đúng. Ta vẽ tượng Quan Âm mấy trăm bức lúc còn sống, ta thuộc từng đường như thuộc mặt mình.
Nửa canh giờ trôi. Cây nến trầm trước bức tranh gốc cháy được một đoạn. Ngoài cửa sổ, sương xuống, chấn song ướt.
Một hình Quan Âm nhỏ bằng bàn tay hiện lên trên khoảng lụa trắng của cây quạt. Áo trắng buông, tay bắt ấn, đầu hơi cúi, mặt tròn hiền. Chỉ còn thiếu một thứ: hai con mắt tượng còn để trắng, chưa có con ngươi.
“Đẹp.” Con bé nói khẽ, ngắm cây quạt trong tay. “Nét này không phải nét của em. Em vẽ không được thế này.”
“Nét của ta. Tay của ngươi.” Ta nói. “Sau này ai hỏi ngươi vẽ ở đâu ra, ngươi nói mẹ ngươi dạy. Không ai bắt bẻ được người con gái vẽ giống mẹ.”
“Chưa điểm nhãn.” Ta nói. “Nghe cho kỹ. Điểm nhãn là chốt cửa. Chừng nào ta còn ở trong bức tranh gốc, ngươi mà điểm máu vào mắt tượng trên quạt bây giờ, hồn ta bị kéo về hai phía, lửng lơ giữa hai chỗ, hỏng cả hai. Chỉ khi bức tranh gốc thật sự sắp mất, ngươi mới cắn ngón út, điểm máu vào mắt tượng trên quạt này. Điểm đúng lúc thì ta chuyển được. Điểm sai lúc thì ta tan.”
Con bé gấp quạt lại, cầm trong tay, gật.
“Em nhớ. Đúng lúc bức tranh sắp mất. Không sớm hơn.” Nó ngừng. “Nhưng Tô tỷ, nếu lúc đó em không có mặt ở đây thì sao. Nếu Chu thị chọn cái đêm em bị gọi sang chính viện.”
“Thì ngươi mang cây quạt theo người, luôn luôn. Đêm ngủ để dưới gối, ngày giắt thắt lưng. Cây quạt ở đâu, đường sống của ta ở đó.” Ta nói. “Ngươi vốn cầm quạt quen tay rồi. Từ nay cầm cho chặt hơn.”
Nó cất cây quạt vào một cái hộp gỗ dài, lót vải, đặt hộp dưới gối. Nó đặt tay lên nắp hộp một lúc, như người mẹ vỗ về đứa con trước khi tắt đèn.
Ba hôm sau, ta bước ra, thấy con bé khác hẳn.
Ta khám lại như đêm đầu. Cầm cổ tay, xem mạch. Mạch đã có lực hơn, đi đều hơn, không còn cái yếu như sợi chỉ kéo qua nước. Banh môi xem lợi, lợi bắt đầu bám lại vào chân răng. Móng tay nó, cái vạch chì ở chân móng đã mờ đi một khúc, phần móng mới mọc ra trong hồng, không còn màu chì.
“Xác nhận: độc đang lui.” Ta nói. “Cơ chế: ngươi thôi nạp thêm, tạng ngươi đẩy phần cũ ra dần. Ngươi trẻ nên đẩy nhanh. Cứ đà này, hai tháng nữa người ngươi sạch.”
Quầng mắt nhạt gần hết. Môi có màu. Nó ăn hết bát cơm tối, kể ta nghe bằng giọng đã có hơi.
“Em ăn được thật rồi, Tô tỷ. Không phải cố ăn nữa.” Nó nói. “Em vẫn giả đi phải vịn tường trước mặt bà già canh viện. Nhưng trong phòng thì em đi lại được cả buổi không mệt.”
“Người ngươi đang tự đẩy độc ra. Nhanh hơn ta tưởng. Ngươi trẻ.” Ta nhìn nó. “Nhưng ngươi khoẻ lên thì Chu thị thấy. Cẩn thận từ đây trở đi.”
“Hôm qua Vệ Tòng lại lẻn sang.” Con bé nói. “Nó nhìn em một lúc rồi bảo, tỷ hết xanh rồi, tỷ hồng như hồi trước. Nó mừng ra mặt. Em phải dặn nó đừng nói với ai, nói là chị đỡ rồi, để chị nghỉ thêm. Nó hứa. Trẻ con hứa thì được mấy hôm.”
“Thằng bé đó không hại ngươi.” Ta nói. “Nhưng miệng nó có thể hại ngươi mà nó không biết. Giữ khoảng cách với nó thêm ít lâu.”
Ta nói câu đó không thừa.
Hôm sau, ban ngày, ta đứng trong tranh, nghe tiếng người lạ trong phòng con bé.
Chu thị dẫn vào một bà đồng. Bà này chừng năm mươi, khăn vấn đầu, tay cầm một chùm nhạc đồng nhỏ. Không phải pháp sư thật, chỉ là bà đồng người ta hay mời tới phủ xem vía, cúng giải hạn, loại xem tay lấy tiền.
Bà đồng đi quanh phòng, lắc chùm nhạc, miệng lẩm bẩm. Rồi bà ta dừng lại, quay sang Chu thị.
“Bẩm phu nhân. Tiểu thư trước yếu, nay khoẻ lên nhanh thế này, là có thần Phật hộ thể. Trong phòng này có vật linh. Vật linh che cho tiểu thư.”
“Vật linh.” Chu thị nhắc lại. Giọng bà ta bình thản. “Vật nào?”
Bà đồng đảo mắt quanh phòng. Ta thấy mắt bà ta lướt qua bức tranh, rồi lướt tiếp, rồi quay lại. Bà ta không chỉ thẳng, chỉ nói: “Vật có tuổi. Vật từng thờ cúng.”
“Vật linh này lành hay dữ?” Chu thị hỏi.
“Bẩm, vật thờ Phật thì lành với người nó che. Nhưng nó choán chỗ. Nhà có vật linh mạnh thì các vía khác trong nhà bị lấn.” Bà đồng lắc chùm nhạc. “Phu nhân muốn nhà êm thì nên thỉnh nó ra khỏi phòng, đưa lên chùa, cúng dường cho phải phép. Để trong phòng tiểu thư lâu, e sinh chuyện.”
Con bé ngồi trên giường, cúi đầu, không nói. Ta thấy tay nó nắm chặt vạt áo.
Chu thị đứng im một lúc. Rồi bà ta nhìn quanh phòng con bé, chậm, từng thứ một. Cái rương. Cái giá sách. Rồi tới bức tranh Quan Âm treo trên vách.
Mắt bà ta dừng ở đó.
Ta đứng trong tranh, cách mắt bà ta chừng một trượng, chỉ qua một lớp lụa.
Người đàn bà đó vừa nhìn thẳng vào chỗ ta đứng. Bà ta không thấy ta. Bà ta chỉ thấy một bức tranh cũ. Nhưng bà ta đã ghép xong trong đầu: con bé lẽ ra phải chết theo lịch, con bé không chết, trong phòng con bé có một bức tượng Phật cũ mua từ tiệm đồ cổ có tiếng là “có ma”.
Bà ta cho rằng bức tranh che cho con bé.
Bà ta đúng một nửa. Nhổ cỏ thì nhổ tận gốc, đó là cách người đàn bà này làm mọi việc. Ai chắn đường bà ta, là người hay là tranh, bà ta cũng gạt cho bằng sạch.
Nửa kia, ta chưa biết. Nửa kia là bà ta sẽ làm gì với cái bà ta vừa nghĩ ra.
Chu thị trả tiền bà đồng, tiễn ra. Trước khi ra khỏi phòng, bà ta dừng ở cửa, nói với Ma ma Lưu đứng bên. Giọng bà ta nhỏ, nhỏ tới mức con bé ngồi trong phòng chắc không nghe rõ. Nhưng ta đứng ngay sau lớp lụa, ta nghe từng chữ.
“Bức tranh này treo lệch. Bụi bám cả rồi.” Chu thị nói. “Hôm nào rảnh, cho người dọn cái phòng này một trận cho gọn. Cả tranh, cả rương, cả mấy thứ linh tinh con bé bày ra. Nhà cửa phải sạch sẽ thì người mới lành bệnh.”
Dọn.
Bà ta dùng chữ “dọn”. Không phải “bỏ”, không phải “đốt”. “Dọn”. Một chữ nghe sạch sẽ, hiền lành, chữ người ta dùng khi quét nhà đón Tết.
Đêm đó ta kể lại cho con bé từng chữ.
“Bà ta chưa nói đốt.” Con bé ngồi bên án, tay xoay cây quạt có hình Quan Âm chưa điểm nhãn. “Dọn phòng thì có thể là gỡ tranh đem cất, có thể là đem bỏ.”
“Người như Chu thị không tự tay đốt cái gì trong nhà mình. Nhưng bà ta sẽ tìm cách để bức tranh mất mà không ai truy được tới bà ta.” Ta nói. “Ngày nào ngươi thấy người lạ vào viện, thấy ai mang dầu đèn hay củi khô tới gần phòng ngươi, ngươi báo ta ngay đêm đó. Đừng đợi tới sáng.”
Con bé gật. Nó cất cây quạt vào hộp gỗ, đặt dưới gối.
Năm trăm năm ta nằm trong một bức tranh, chưa ai muốn giết một bức tranh. Đêm nay có người muốn. Và người đó vừa dùng chữ “dọn”, nhẹ như phủi bụi.
Ngón út ta đọng một giọt máu.