Nữ Họa Sư Bước Ra Từ Tranh Mỗi Đêm
Chương 7: Bà Ta Chọn Lửa
Ba ngày sau, con bé nghe được kế của người đàn bà đó. Từ chính miệng thằng bé tám tuổi.
Trưa hôm đó Vệ Tòng lại lẻn sang, lần này không mang dế, không mang gì. Nó ngồi xổm ở bậc cửa, mặt buồn thiu.
“Tỷ tỷ, đêm rằm tỷ đi đâu à?”
Con bé đang ngồi bên án, ngẩng lên. “Tỷ không đi đâu. Ai bảo con thế?”
“Nương bảo. Nương dặn ma ma Lưu, đêm rằm mà tỷ đi vắng khỏi phòng thì tốt. Nương còn bảo cái đèn dầu trong phòng tỷ hay đổ, phải để ý.” Thằng bé bứt một cọng cỏ ở kẽ gạch, xoắn xoắn trong tay. “Nương nói nhỏ với ma ma Lưu thôi, con đứng sau bình phong nghe được. Con tưởng tỷ sắp đi chơi mà không rủ con.”
Con bé ngồi im. Ta đứng trong tranh, ta cũng ngồi im, nếu hồn ma mà ngồi được.
“Con ngoan.” Con bé nói, giọng bình thường. “Tỷ không đi đâu hết. Đêm rằm con sang ngủ bên nhà bà vú ngoài dãy ngoài nhé. Tỷ mấy hôm nay bận chép sách, con ở đây tỷ không chơi với con được, con buồn.”
“Con ngủ bên đó được xem bà vú kể chuyện ma.” Thằng bé sáng mắt lên. “Được. Con sang.”
Nó chạy đi.
Con bé ngồi im rất lâu sau khi thằng bé chạy đi. Ta đứng trong tranh, nhìn nó qua lớp lụa.
“Nó không biết nó vừa nói gì.” Cuối cùng nó lên tiếng, không quay về phía tranh, chỉ nói khẽ cho ta nghe. “Nó tưởng em sắp đi chơi. Nó buồn vì em không rủ nó.”
“Đúng. Nó không biết.” Ta nói. “Ngươi cũng đừng cho nó biết. Thằng bé tám tuổi mà mang trong đầu chuyện mẹ nó định đốt chết chị nó thì nó gãy. Cứ để nó nghĩ ngươi bận chép sách.”
Đêm, ta bước ra. Con bé đã ghép xong trong đầu, nói ra từng khúc, giọng đều như đọc:
“Đêm rằm. Chu thị muốn em ra khỏi phòng, hoặc muốn không có ai để ý tới phòng em. Cái đèn dầu ‘hay đổ’. Bà ấy sẽ cho người vào phòng em ban đêm, đổ dầu đèn, châm lửa. Cháy phòng. Cháy luôn bức tranh Quan Âm. Sáng ra người ta nói tiểu thư bất cẩn để đèn đổ, may mà không chết. Hoặc” con bé ngừng nửa nhịp “hoặc em chết trong đám cháy luôn. Một mồi lửa, xong cả hai chuyện. Bức tranh ‘vật linh’ mất, mà cái ngáng đường cũng mất.”
“Ngươi tính đúng.” Ta nói. “Bà ta chọn lửa vì lửa xoá dấu. Cháy rồi thì không ai khám ra trong tro có lệ sinh thảo. Không ai đào bức tranh lên hỏi. Lửa là thứ sạch nhất để giết người, nếu dựng khéo.”
Con bé nhìn cây nến trầm đang cháy trên đĩa đồng trước bức tranh, cây nến nó vẫn đốt mỗi đêm cho ta hiện hình.
“Bà ấy sẽ dùng nến trầm để châm.” Nó nói khẽ. “Chắc chắn. Trong phòng em có sẵn nến trầm, em đốt mỗi đêm, ai cũng biết. Đèn đổ cạnh nến trầm đang cháy thì bén lửa là chuyện thường. Không ai nghi.”
Ta nhìn cây nến. Cùng một thứ nến ta nhờ nó đốt để ta bước ra rõ hơn, tỉnh hơn. Cùng một thứ nến người ta sắp dùng để đốt cái bức tranh giữ hồn ta. Ở đời có những chuyện trớ trêu tới mức không cười nổi.
“Tô tỷ.” Con bé hỏi khẽ. “Nếu đêm rằm không kịp, nếu bức tranh cháy mà quạt cũng hỏng, tỷ tan luôn hả?”
“Ừ.”
“Vậy mình đừng liều. Mình báo quan trước đi. Em mang chứng cứ ra, em tố Chu thị mua độc.”
“Chứng cứ ngươi có là một ống tre bột thuốc với một tờ giấy chép tay.” Ta nói. “Quan cầm lên, hỏi: bột này ở đâu ra, ai làm chứng nó lấy từ dược phòng nhà ngươi. Tờ giấy này ai chép, sao không phải sổ gốc. Ngươi là con gái mười sáu tuổi tố kế mẫu, cha ngươi đi vắng, trong nhà ai cũng khen Chu thị hiền. Quan sẽ khuyên ngươi về, đừng nghĩ quẩn. Rồi Chu thị biết ngươi đã tố, đêm đó ngươi chết thật, chết kiểu khác.”
“Phải để bà ấy tự châm lửa.” Con bé nói chậm. “Lửa bà ấy châm mới là thứ quan phải điều tra. Người bà ấy thuê mới là người khai ra bà ấy.”
“Ừ. Gieo gió thì gặt bão. Phải để bà ta gieo xong cơn gió đó, ngay trước mặt cả phủ.” Ta nói. “Việc của mình là đừng để cơn bão đó cuốn theo ngươi với thằng bé. Và đừng để nó cuốn theo ta, nếu còn kịp.”
“Còn năm ngày tới rằm.” Ta nói. “Năm ngày, làm bốn việc.”
“Nương nương nói.”
“Việc một. Điểm nhãn cây quạt. Ngay bây giờ.”
Con bé lấy cây quạt trong hộp gỗ ra, xoè. Hình Quan Âm nhỏ trên nan lụa, áo trắng, tay bắt ấn, hai mắt còn để trắng.
“Điểm vào giữa chỗ trắng, một chấm bằng hạt tấm thôi.” Ta nói. “Điểm đều hai mắt. Đừng run tay.”
Nó cắn đầu ngón út tay trái, chỗ cũ, chỗ đã cắn hai lần trước, giờ thành một vết chai nhỏ. Máu ứa. Nó đưa ngón tay lại gần mặt lụa, hít một hơi, rồi chấm một chấm nhỏ vào chỗ mắt tượng bên phải, rút ra, chấm tiếp con mắt bên trái. Hai chấm đỏ sẫm nằm đúng chỗ con ngươi. Máu thấm vào lụa, loang ra một vòng bằng hạt kê rồi dừng.
Ta thấy có cái gì đổi trong cây quạt. Không nhìn thấy được. Ta cảm được, như người đứng gần một cái chuông vừa gõ, chuông đã im mà không khí quanh nó còn rung. Một hơi thở rất nhẹ chạy dọc mấy nan trúc, từ chuôi lên tới mép quạt.
Con bé cũng thấy. Nó nhìn cây quạt, rồi nhìn ta.
“Nó ấm lên.” Nó nói. “Lúc nãy lụa mát tay, giờ ấm.”
“Xong.” Ta nói. “Từ giờ cây quạt này là chỗ ta chuyển hồn tới, nếu bức tranh gốc mất. Đêm rằm ngươi phải giữ nó bên người. Không được rời tay. Nó cháy hoặc mất thì ta hết đường.”
“Máu ngón út.” Con bé nhìn ngón tay mình đang rịn máu, rồi nhìn ngón út tay phải của ta, chỗ giọt máu năm trăm năm không khô. “Giống tỷ.”
“Giống.” Ta nói. “Việc hai.”
“Việc hai. Đưa chứng cứ ra khỏi viện. Ống tre đựng lệ sinh thảo thật lấy từ dược phòng, với tờ giấy ngươi chép trang sổ Tế Sinh Đường. Hai thứ đó ở trong phòng ngươi đêm rằm là cháy thành tro. Phải gửi ra ngoài.”
“Gửi cho ai?”
“Ngươi có ai ngoài phủ tin được không? Người của mẹ ngươi.”
Con bé nghĩ. “Có. Chị Đông, nha hoàn hầu mẹ em hồi xưa. Mẹ mất rồi, Chu thị đuổi chị ấy ra, giờ chị ấy trông cái trang trại ruộng của mẹ em ngoài ngoại thành, cách đây mười dặm. Chu thị không với tới đó. Chị Đông thương em.”
“Ngày mai ngươi tìm cách nhắn ra cho chị ấy. Gói ống tre với tờ giấy lại, nhờ người đưa hàng vải của nhà đem ra trang trại, giấu trong kiện vải. Dặn chị Đông cất kỹ, chừng nào ngươi cho người tới lấy hoặc chừng nào quan hỏi thì đưa.”
“Được. Xe vải ra trang trại ba ngày một chuyến. Mai có chuyến.”
“Việc ba. Vệ Tòng. Ngươi đã dặn nó sang dãy ngoài ngủ đêm rằm. Nhắc lại cho chắc, ngày rằm nhắc nữa. Thằng bé mà đêm đó còn trong khu này, ta không lo nổi cho cả hai đứa.”
Con bé gật.
“Việc bốn, khó nhất. Đêm rằm, ngươi không trốn khỏi phủ.”
Con bé ngẩng lên nhìn ta.
“Ngươi trốn thì Chu thị biết ngươi đã biết kế. Bà ta hoãn, đổi cách, lần sau ta không đoán được nữa.” Ta nói. “Ngươi ở lại phòng, để bà ta tin kế đang chạy. Nhưng ngươi thức. Mặc sẵn áo. Giày để cạnh giường. Cây quạt ôm trong tay. Ngươi để lửa bén, để có khói, đủ để sáng ra ai cũng thấy đây là hoả hoạn thật. Rồi ngươi ra, ngươi hô cháy. Cả phủ dậy chữa cháy. Người của Chu thị châm lửa xong phải chạy, chạy trong lúc cả phủ nháo nhào thì dễ bị bắt lại. Người đó bị bắt, người đó khai.”
“Nương nương thì sao?” Con bé hỏi. “Lửa bén tranh trước khi em ra khỏi phòng thì sao?”
Đây là chỗ ta lo nhất. Ta nói thật.
“Ta ra khỏi tranh được, ban đêm. Nhưng ta không dập được lửa lớn. Ta chỉ mong lửa bén từ chân vách lên, cháy từ dưới, cho ta một khoảng để đưa ngươi ra trước. Bức tranh treo cao, nó cháy sau cùng. Khi nó bắt lửa, ngươi phải điểm nhãn đã xong, quạt phải trong tay ngươi, ngươi phải ở ngoài sân. Ta ở lại lo phần ta.”
Con bé không hỏi thêm. Nó biết “lo phần ta” nghĩa là gì.
“Nương nương.” Nó nói sau một lúc. “Em nghĩ ra rồi. Đêm rằm em không ngồi trong phòng chờ lửa. Em nằm trên giường, giả ngủ. Chăn đắp tới cằm. Người của Chu thị nhìn vào khe cửa thấy có người nằm là yên tâm châm lửa. Lửa vừa bén, em tung chăn dậy, đã mặc sẵn áo bên trong, chạy ra. Như vậy bà ấy tin em còn trong phòng, người châm lửa không vội, không chạy sớm.”
Ta nghĩ về cách đó. Liều, nhưng khớp.
“Được. Nhưng nằm sát mép giường phía cửa sổ, đừng nằm giữa. Lửa vào từ cửa chính, tiểu Y thoát đằng cửa sổ nếu cửa chính kẹt.” Ta nói. “Và không được ngủ thật. Một khắc lơ mơ là cháy tới nơi.”
“Em không ngủ được đâu.” Con bé nói. “Cái đêm người ta định đốt mình, ai ngủ được.”
Năm ngày trôi.
Ngày thứ nhất, con bé gói ống tre với tờ giấy chép tay vào một khúc vải vụn, nhét sâu trong một kiện lụa xanh sắp chở ra trang trại. Nó tự xuống kho vải phụ giúp buộc kiện, lấy cớ “tĩnh dưỡng mãi cuồng chân”. Bà già canh viện đi theo tới cửa kho, đứng ngoài. Con bé buộc kiện trong đó, tay không run. Chiều xe đi. Hai hôm sau, người đánh xe về, ghé cửa sau đưa con bé một mẩu giấy: chị Đông viết bốn chữ, “Chị giữ. Em liệu.”
Ngày thứ ba, Vệ Tòng sang, con bé cho nó một túi kẹo mạch nha, dặn: đêm rằm xách gối sang bà vú, ngủ luôn ở đó, sáng mới về, chị thưởng thêm túi nữa. Thằng bé gật lia lịa. Nó chỉ nhớ kẹo, không nhớ vì sao.
Ngày thứ tư, con bé tập. Ta bảo nó tập. Từ giường tới cửa mấy bước, cửa mở hướng nào, ra hành lang rẽ trái hay phải thì tới sân nhanh nhất. Nó đi tới đi lui trong phòng, nhắm mắt đi, tay ôm cây quạt, tập tới khi thuộc từng bước trong bóng tối.
Ngày thứ năm là rằm.
Trăng sáng, sân đổ bóng rõ.
Con bé đốt cây nến trầm trước bức tranh như mọi đêm. Sáp nâu, khói toả chậm, mùi gỗ ấm hơi ngọt. Ta bước ra trong làn khói đó, đứng chờ sẵn, viền người rõ nét.
Nến thơm 'Đen Trầm Tính' · Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm
179.000đ
Xem chi tiết →Cùng lúc này, ở đâu đó trong phủ, người của Chu thị cũng đang cầm một cây nến trầm y hệt, đứng chờ giờ. Cùng một thứ nến. Một cây để ta bước ra. Một cây để đốt ta.
Con bé mặc áo trong đầy đủ, cài khuy kín, khoác áo ngủ ra ngoài. Giày xỏ hờ, gót giẫm bẹp, để rút chân ra nhanh. Cây quạt lụa có hình Quan Âm điểm nhãn đỏ, nó cầm trong tay, không rời.
“Tô tỷ.” Con bé ngồi trên mép giường, nhìn bức tranh. “Nếu đêm nay tỷ chuyển sang quạt được, thì bức tranh gốc cháy đi, tỷ có tiếc không?”
Ta nhìn bức Quan Âm treo trên vách. Ta vẽ nó năm hai mươi tư tuổi. Ta chết dưới chân nó. Ta ở trong nó năm trăm năm, biết từng sợi lụa dệt lệch, từng chỗ màu ta pha chưa tới.
“Năm trăm năm ta muốn ra khỏi nó.” Ta nói. “Giờ nó sắp cháy, ta lại thấy trong bụng có cái gì đó nặng. Nhà giam ở lâu cũng thành nhà.”
“Quạt của em nhỏ hơn nhiều.” Con bé nói. “Nương nương ở trong đó chật lắm.”
“Chật thì chật. Nhưng quạt ngươi cầm trong tay, ngươi mang đi khắp nơi. Bức tranh thì treo một chỗ, treo trên vách nhà người ta, người ta muốn dọn thì dọn.” Ta nói. “Ta chọn cái đi được.”
Canh hai.
Cả phủ tắt đèn. Trăng rằm soi qua chấn song, kẻ những vạch sáng trên nền phòng. Con bé nằm nghiêng trên giường, sát mép phía cửa sổ, chăn kéo tới vai, cây quạt ôm trong lòng dưới lớp chăn. Nhìn từ khe cửa vào chỉ thấy một người nằm ngủ. Ta đứng cạnh cửa sổ, nghe.
Tiếng đầu tiên là tiếng con chó ở dãy ngoài sủa mấy tiếng rồi im, kiểu chó thấy người quen. Người của Chu thị, chó trong phủ không lạ.
Rồi tiếng chân ngoài hành lang. Nhẹ, cố nhẹ, nhưng sàn gỗ cũ thì kêu. Một người. Bước tới trước cửa phòng con bé thì dừng.
Một khoảng lặng. Ta hình dung người đó đang đặt xuống sàn một cái vò.
Rồi tiếng chất lỏng đổ, óc ách, loang ra trên ván sàn ngoài cửa, luồn cả vào khe cửa dưới. Mùi dầu lạc xộc lên, gắt, béo.
Con bé tung chăn, xoay người ngồi dậy, không một tiếng động. Nó tuột áo ngủ ra ngoài, giẫm chân vào giày, đứng lên bên mép giường phía cửa sổ.
Rồi một tiếng xèn xẹt, tiếng đá lửa đánh vào nhau. Một lần. Hai lần. Lần thứ ba bắt. Một quầng sáng cam bùng lên ở khe dưới cánh cửa, rồi liếm ngược lên theo mép cửa.
Con bé đứng đó, đã bỏ áo ngủ, tay cầm cây quạt lụa có hình Quan Âm.
Ta bước hẳn ra khỏi bức tranh. Sau lưng ta, lửa đã bén vào chân vách, đang liếm ngược lên phía khung tranh.
Ta nói với con bé, gọn:
“Ngươi ra trước. Ôm quạt. Đừng ngoái lại nhìn ta.”