Nữ Họa Sư Bước Ra Từ Tranh Mỗi Đêm
Chương 8: Hồn Vào Quạt
Lửa leo lên khung tranh. Ta đứng giữa phòng cháy, còn nửa canh giờ trước canh tư, và bức tranh giữ hồn ta đang cháy sau lưng.
Ta đẩy con bé về phía cửa. Cửa đã bén lửa ở mép, nhưng chốt còn mở được. Con bé kéo cửa, khói ùa ngược vào, nó ho sặc, một tay bưng miệng, một tay ôm chặt cây quạt vào ngực.
Hai đứa lách ra hành lang. Sàn gỗ chỗ đổ dầu đang cháy dữ, ta kéo con bé men theo mép tường bên kia, chỗ lửa chưa tới.
Con bé chạy được mấy bước thì khựng lại.
Đầu hành lang, chỗ rẽ ra sân, có một bóng nhỏ đứng đó. Vệ Tòng. Thằng bé mặc áo ngủ, chân đất, tay ôm cái gối. Nó không sang bà vú. Nó lẻn về, chắc để xem chị có ngủ chưa, chắc để đòi túi kẹo thứ hai. Giờ nó đứng đó, khói vây quanh, mặt méo đi, khóc không thành tiếng.
“Vệ Tòng!” Con bé gọi, giọng vỡ ra vì khói.
Thằng bé không nhúc nhích. Nó sợ cứng người.
Ta buông con bé ra. Ta chạy tới chỗ thằng bé. Ban đêm ta cầm được vật nhẹ, ta dắt được một đứa trẻ. Ta nắm cổ tay nó. Tay ta lạnh, thằng bé rùng mình, ngước lên, mắt nó nhìn xuyên qua ta, nó không thấy ta, nó chỉ thấy một luồng khí lạnh kéo tay nó đi. Nó để yên cho kéo.
Ta lôi thằng bé tới chỗ con bé. Con bé chộp lấy tay em, một tay vẫn ôm quạt. Ba đứa, một hồn hai người, lao qua khúc hành lang cuối, ra tới sân.
Không khí ngoài sân lạnh, sạch. Con bé quỳ thụp xuống, ôm thằng bé, cả hai ho ra khói.
“Ở đây. Không được vào lại.” Ta nói với con bé. “Ta đi gọi người.”
Ta chạy dọc các dãy viện. Ta đập tay lên cửa từng phòng. Tay ta không nặng, tiếng đập không lớn, nhưng đủ. Ta hà hơi vào khe cửa, hơi ta là gió lạnh, người trong phòng nghe tiếng gõ với tiếng gió rít nửa đêm thì giật mình dậy. Ta đi qua phòng nào, phòng đó có người choàng tỉnh, ngửi thấy mùi khét, hô lên.
“Cháy! Cháy viện đông!”
Cả phủ bừng dậy. Đèn đuốc châm loạn. Gia nhân xách thùng, chuyền nước từ bể, từ giếng. Có người la, có người khóc, có tiếng chân chạy rầm rập trên sân gạch. Chu thị cũng ra, tóc xoã, khoác áo choàng, đứng giữa sân chỉ huy gia nhân chữa cháy, miệng gọi tên con bé thất thanh, “Cẩm Y đâu, ai thấy tiểu thư không”. Ta ở trong quạt, nghe giọng bà ta, không phân biệt được đâu là lo thật đâu là diễn. Có lẽ bà ta cũng không phân biệt được.
Trong lúc loạn đó, ở góc sân sau nhà bếp, hai gia đinh tóm được một người đàn ông đang trèo tường ra. Trên tay áo hắn còn nồng mùi dầu lạc, ống tay áo cháy sém một mảng. Hắn giãy, đạp, bị đè xuống, trói gô lại. Giữa một đám cháy, kẻ chạy ra là kẻ đáng ngờ nhất. Chu thị dặn hắn đổ dầu châm lửa xong thì trèo tường đi, bà ta quên dặn hắn phải đi trước khi cả phủ thức dậy.
Ta quay vào viện con bé.
Ta biết quay vào là dại. Ban đêm ta ra được, nhưng ta không dập nổi một đám cháy bằng bàn tay không nhấc nổi cái thùng nước. Vào đó, ta chỉ đứng nhìn cái bức tranh giữ hồn ta cháy, và cháy theo nó.
Nhưng năm trăm năm ta đứng ngoài mọi chuyện. Đêm nay ta không muốn đứng ngoài cái chết của chính mình. Nếu bức tranh cháy hết mà ta không kịp sang quạt, ta muốn nhìn thấy nó cháy, không muốn tan dần trong ba ngày ở một góc nào đó mà không biết chuyện gì đã xảy ra.
Phòng ngủ đã sập một góc mái. Ngói rơi lộp bộp, tàn lửa bắn lên trời đêm. Bức tranh Quan Âm trên vách cháy quá nửa. Khung gỗ đen, cong, một góc rụng xuống. Mặt lụa quăn lại từ mép, cháy vào giữa, hình tượng Quan Âm co rúm, méo đi, rồi từng mảng lụa hoá tro bay lên, xám, nhẹ, như bướm đêm.
Ta thấy mình mờ đi.
Không phải mờ như đầu canh ba, cái mờ đó rồi rõ lại. Lần này mờ từng mảng, và không rõ lại. Bàn tay ta loang ra như mực nhỏ vào chậu nước. Ta thấy chân mình tan trước. Rồi tới đầu gối.
Ngoài sân, con bé để Vệ Tòng cho một bà già ôm, rồi nó lao ngược lại phía cửa viện, bất chấp gia nhân giữ nó lại.
Nó đứng ở ngưỡng cửa, chỗ khói mỏng hơn, xoè cây quạt lụa ra hết cỡ. Nó giơ mặt quạt có hình Quan Âm điểm nhãn đỏ về phía ta, phía chỗ ta đang tan.
“Nương nương!” Nó hét, giọng khản đặc. “Vào đây! Vào quạt!”
Quạt thêu 2 mặt bọc lụa · phong cách cổ trang Trung Hoa
91.800đ
Xem chi tiết →Trong ánh lửa, cây quạt xoè hết, hình Quan Âm nhỏ trên nan lụa hiện rõ, hai con mắt tượng có hai chấm mực sẫm hơn phần còn lại, chỗ con bé điểm máu. Ánh lửa hắt lên mặt lụa, làm hình Quan Âm như hơi động, như tà áo trắng hơi lay.
Sau lưng ta, bức tranh gốc cháy tới sợi lụa cuối cùng. Ta nghe một tiếng rất khẽ, như tiếng thở dài của người đặt xuống một gánh nặng. Cái nhà giam năm trăm năm của ta thành một nắm tàn đen trên nền gạch.
Đúng khoảnh khắc đó, ta thấy mình bị hút.
Không bị hút về phía nắm tro. Ta bị hút về phía trước, về phía cây quạt trong tay con bé, về phía hai chấm máu ngón út của nó trên mắt tượng.
Ta nhắm mắt, buông người theo lực hút đó.
Có một khoảnh khắc ta ở giữa hai chỗ. Sau lưng là nắm tro đang nguội, cái nhà năm trăm năm. Trước mặt là hai chấm máu ngón út của con bé trên mặt lụa. Ta thấy mình mỏng như một tờ giấy dó, gió thổi qua cũng rách. Nếu con bé điểm nhãn sai, nếu quạt điểm nhãn sớm hơn một đêm, thì khoảnh khắc này ta bị xé làm hai, mỗi nửa tan một hướng.
Nhưng con bé làm đúng. Điểm nhãn tối rằm, không sớm hơn. Cửa quạt mở đúng lúc cửa tranh đóng.
Một nhịp lặng.
Rồi ta thấy mình ở trong một chỗ chật, nhỏ, ấm. Chật hơn bức tranh nhiều, ta phải thu người lại, như tự vẽ mình thu nhỏ. Nhưng chỗ này rung nhè nhẹ theo nhịp tay người cầm, và qua lớp lụa mỏng ta nghe rõ tiếng tim con bé đập, gần, ngay bên kia mặt quạt. Trong bức tranh cũ, ta nghe đời qua một bức tường. Trong cây quạt này, ta nghe qua một lớp giấy.
Con bé gấp cây quạt lại, ôm vào ngực, ngồi thụp xuống thềm đá. Nó ho một tràng dài, ho tới chảy nước mắt. Gia nhân xúm lại đỡ nó, có người tưởng nó khóc vì tiếc của, vì sợ.
Trong đầu con bé, ta nói, giọng ta lúc này nghe như vọng ra từ sau một bức tường mỏng hơn bức tường cũ nhiều:
“Ta còn đây.”
Con bé không nói gì. Nó không dám nói, quanh nó đầy người. Nó chỉ siết cây quạt chặt hơn, ép sống quạt vào ngực, và ta thấy vai nó run một cái, rồi thôi. Nước mắt nó lúc này là nước mắt thật, nhưng không phải khóc vì mất bức tranh. Ta ở trong quạt, ta biết.
Rạng sáng.
Đám cháy được dập trước canh năm. Viện đông hỏng một nửa, mái sập, vách đổ. Kho vải gần đó kịp cứu. Không ai chết. Con bé bị sặc khói, nằm nghỉ hai ngày thì dậy được. Vệ Tòng không việc gì, chỉ mấy hôm đầu đêm nào cũng khóc, đòi ngủ cạnh chị.
Cháy nhà một viên ngoại lang là việc quan phủ phải vào. Người đàn ông trèo tường bị bắt trong sân đêm đó, tra ra là một tay chạy việc vặt Chu thị thuê ngoài phố. Hắn khai: Ma ma Lưu thuê hắn, trả nửa tiền trước, dặn đổ dầu châm lửa phòng tiểu thư đêm rằm, xong thì trèo tường ra, nửa tiền còn lại lấy sau.
Ma ma Lưu bị gọi lên. Lúc đầu chối. Tới khi quan cho đối chất với tay kia, rồi lục dược phòng, tìm ra cái lọ sành nhỏ ở góc kệ, thì bà ta đổi giọng. Bà ta khai ra Chu thị, khai hết, khai cả chuyện mua lệ sinh thảo ở Tế Sinh Đường mỗi nửa tháng, để mong quan xét bà ta chỉ là kẻ làm thuê.
Cái lọ sành đó, quan mở ra ngửi, sai người nếm thử trên chó, con chó không sao. Trong lọ chỉ còn bột bổ khí. Nhưng dưới đáy lọ, quan cạo ra được một lớp mỏng thứ bột khác. Đưa cho thầy thuốc của phủ, thầy thuốc nói: lệ sinh thảo.
Rồi con bé cho người ra trang trại, chị Đông đem về cái ống tre bọc vải, bên trong là lệ sinh thảo thật lấy từ lọ đó, với tờ giấy con bé chép trang sổ Tế Sinh Đường: ngày nào, Lưu thị mua bao nhiêu, ghi là “trừ chuột kho”.
Quan cho đòi sổ gốc của Tế Sinh Đường. Lão chưởng quầy run rẩy mang tới. Trang đó, dòng đó, còn nguyên, khớp từng chữ với tờ chép tay của con bé.
Ngày quan tới phủ lấy khẩu cung, con bé không nằm trong phòng gọi bệnh nữa. Nó mặc áo tề chỉnh, búi tóc gọn, ra chính đường, quỳ trước quan, cây quạt cầm trong tay.
Nó trình bày từng khoản một, giọng đều, không run, không khóc: nó bắt đầu mệt từ đầu xuân, nó nghi từ giỗ đầu mẹ, nó ghi chép ngày tháng, nó đổ bớt thuốc, nó tìm ra là lệ sinh thảo, nó lần ra Tế Sinh Đường, nó giữ mẫu độc, nó gửi chứng cứ ra trang trại phòng khi có biến. Nó không nói tới ta. Nó nói “con tự tìm hiểu”. Ta ở trong quạt, ta để nó nói vậy. Một con bé mười sáu tuổi tự cứu mình thì người ta tin. Một con bé được ma trong tranh chỉ đường thì người ta đưa nó lên chùa.
Quan hỏi: một tiểu thư khuê các, sao biết những chuyện này.
Con bé đáp: “Vì không biết thì con chết. Người ta dồn con vào chỗ phải biết.”
Vệ Trọng Khiêm đứng bên, nghe con gái mình khai, mặt xám lại từng khúc. Ông không ngắt lời một câu nào.
Cây kim trong bọc, giấu kỹ tới đâu, lâu ngày cũng lòi ra.
Vệ Trọng Khiêm về tới nhà thì án đã gần xong. Ông đọc hết hồ sơ, ngồi trong thư phòng một ngày một đêm không ra. Ông cho gọi con bé vào. Ta ở trong quạt, con bé mang quạt bên người, ta nghe hết.
Ông hỏi con bé nhiều chuyện. Rồi ông hỏi một câu, giọng khàn:
“Mẹ con năm xưa. Cũng bệnh hao mòn. Móng tay mẹ con lúc gần mất, cha có nhớ, cũng ngả màu chì.”
Con bé không đáp. Ông cũng không hỏi tiếp. Có những chuyện, hỏi ra rồi thì phải làm gì đó, mà ông thì không đủ sức làm. Chu thị chỉ nhận tội hại con bé. Chuyện Lâm thị, bà ta không nhận, quan cũng không có chứng. Nó nằm lại đó, một câu hỏi không ai trả lời, như cái giếng sau phủ Lư năm trăm năm trước.
Chu thị bị giải quan. Xử theo luật hạ độc người thân trong nhà, cộng thêm tội phóng hoả. Án xử vào tiết sương giáng. Ta không ra pháp trường. Con bé cũng không. Nó ở nhà, ngồi bên án chép kinh, cây quạt dựng cạnh nghiên mực. Ma ma Lưu đi đày ba nghìn dặm. Lão chưởng quầy Tế Sinh Đường bị phạt nặng, đóng cửa hiệu nửa năm.
Vệ Tòng, quan không hỏi tới. Nó tám tuổi, nó không biết gì. Con bé xin cha giữ thằng bé lại nuôi. Vệ Trọng Khiêm gật. Thằng bé chỉ hiểu lờ mờ rằng “nương đi xa, không về nữa”, nó khóc mấy đêm rồi thôi, rồi quấn chị hơn trước.
Vệ Trọng Khiêm giao quyền quản gia cho con bé. Cả tông sản Vệ gia, cả điền sản mẹ nó để lại, giờ một tay nó cầm, danh chính ngôn thuận. Rồi ông thu xếp một chuyến buôn xa, đi biền biệt. Ông không nói ra, nhưng ai cũng hiểu: ông không còn mặt mũi nào ngồi lại trong cái nhà mà vợ ông suýt đốt chết con gái ông, còn ông thì đi buôn ở tận đâu.
Con bé không giữ ông lại.
Viện đông sửa xong sau hai tháng. Chỗ bức tranh cũ, con bé treo một bức Quan Âm mới. Nó tự vẽ. Nét học theo ta, mấy đêm ta cầm tay nó tập. Vẽ chưa bằng ta, nhưng có hồn. Tượng Quan Âm mặt tròn, mắt cụp, tà áo buông. Nó điểm nhãn bức đó bằng mực thường, không bằng máu. Bức tranh chỉ là bức tranh. Ta không ở trong đó.
Ta ở trong cây quạt lụa nó luôn giắt bên thắt lưng.
Một đêm mùa đông, con bé đốt một cây nến trầm, đặt trên đĩa đồng. Nó dựng cây quạt trước ngọn nến, xoè ra. Khói trầm toả chậm, mùi gỗ ấm hơi ngọt.
Canh ba, ta bước ra từ cây quạt.
Viền người ta bây giờ nhỏ hơn hồi ở trong tranh, gọn hơn, như bức vẽ thu nhỏ lại. Nhưng vẫn là ta. Vẫn cái bào hoạ sư tay rộng, vẫn vệt mực đỏ ở khoé mắt trái, vẫn giọt máu ở đầu ngón út.
Cái đêm đầu ta gặp nó, mí mắt nó sưng mọng, môi nứt, móng tay chì. Bây giờ mặt nó đầy, môi có màu, móng tay hồng lại hết. Ta khám người sống cũng như khám người chết, ta đọc ra ngay: con bé này đã lành hẳn.
Con bé ngồi bên án, rót hai chén trà. Một chén đẩy về phía ta, dù ta không uống được. Nó vẫn rót.
“Tô tỷ.” Nó gọi. Không gọi nương nương nữa, đã lâu rồi. “Oán của tỷ giải rồi. Người giết tỷ, con cháu lão cũng tuyệt. Cái nhà này giờ sạch độc. Tỷ đi được rồi đấy. Sao tỷ không đi?”
Ta ngồi xuống chiếc ghế đối diện nó. Ngoài cửa sổ, tuyết rơi nhẹ, đọng trên chấn song.
“Năm trăm năm ta đứng trong tranh, nhìn hết đời chủ này tới đời chủ khác sống rồi chết. Ta chưa từng dây vào ai. Ta bảo mình: không phải việc của ta.” Ta nói. “Tiểu Y là người đầu tiên ta dây vào. Ta dây rồi, ta muốn xem cái đứa ta dây vào sống tiếp thế nào. Nó có quản nổi cái nhà không. Nó có bị đứa nào ăn hiếp không.”
Ta ngừng.
“Với lại, ta đi thì cũng phải đợi ngươi gả chồng đã. Ta phải xem thằng nào dám cưới đứa con gái cầm cây quạt có ma.”
Con bé bật cười. Cười thành tiếng, cười tới mức phải bưng miệng. Đây là lần đầu, tính từ cái đêm canh ba nó ngồi chờ ta bước ra khỏi tranh, ta thấy nó cười thành tiếng.
Con bé xoè cây quạt lụa ra, nhìn hình Quan Âm trên nan lụa, hai mắt tượng có hai chấm mực sẫm.
Hai chấm đó là máu ngón út của nó. Giọt máu ngón út của ta thì ở trên bức tranh đã thành tro, hai tháng trước người ta hót đổ ra gốc cây trong vườn.
Hai giọt máu ngón út. Hai người. Một cái nhà không còn độc.
Ta lùi vào quạt. Con bé gấp quạt lại, cài vào thắt lưng, đi ra sân xem người ta quét tuyết.
Máu ngón út không khô. Năm trăm năm rồi vẫn đọng một giọt. Giờ nó đọng trên một cây quạt, đi theo một người còn sống, ra sân, vào bếp, lên phố.
Ba năm sau con bé xuất giá.
Đó là chuyện của một bức tranh khác.
HẾT.