Nữ Ngỗ Tác Đêm Khám Xác Thái Tử
Chương 7: Ba Tháng Sau
Ta bước ra khỏi Đại Yến điện cửa nam. Trời đầu tuần Cửu, gió lạnh cắt tai.
Sáng nay ta chưa ăn. Đêm qua dài chín canh giờ, sáng ra vào điện trình báo cáo, ba khắc quỳ, hai khắc đứng. Bụng ta trống mà không nhận ra. Nghề ba năm quen bỏ bữa canh tí.
Trong điện, phía sau ta.
Hoàng đế Đường Cao Tổ ngồi trên ngai vàng. Tóc bạc hơn ta tưởng. Áo bào đại triều đỏ thẫm, ngực có rồng năm móng. Tam công đứng dưới hai hàng, mắt cụp. Không ai dám ngước.
Ta quỳ giữa điện. Bàn tay đặt trên nền gạch xanh. Lạnh, mịn, có vết mài từ bao đôi giày đại thần. Trước ta bày năm thứ. Hai bản báo cáo pháp y (bản giả có chữ “trúng gió do lao thần”, bản thật có ba dấu chấm sau gáy). Trâm bạc hoa mai bọc giấy dâu, kim còn nguyên chưa cắm. Mảnh kim gãy mười năm đen thẫm, Thái tử vừa lấy từ hộp trang sức khảm trai của cựu hoàng hậu. Cuốn “Tẩy Oan Tập Lục” bản chú tay của cha ta, gói vải xanh.
Ta trình từng thứ. Giọng ép trầm nam. Không run.
Trước ta là ba mươi dặm gạch nền và ngai cao. Sau ta là hàng tam công. Bên phải ta cách hai trượng có một thái giám già bưng khay son đỏ để nhận báo cáo. Tay ông ta run. Không phải vì lạnh, vì lâu năm phục vụ điện lớn quen sợ. Ta không sợ, chỉ ép giọng trầm. Ba năm ép giọng, đêm qua ép, sáng nay ép nốt.
Thái tử đứng bên trái Hoàng đế. Không quỳ. Sắc mặt còn tái vì thuốc Giả Tử Đan, môi nhợt, nhưng đứng thẳng như cây thương. Chàng nói ngắn:
“Phụ hoàng. Con giả chết đêm qua để bắt mẹ kế. Bà đã hạ mẹ con mười năm trước, hạ con sáu tháng nay. Bằng chứng ba dấu chấm sau gáy con, kim mới trâm bạc bà mang định đâm dấu bốn, kim gãy mười năm trong hộp mẹ con giữ. Cùng thuốc Tế Tâm Thảo dòng Đường ngoại thích. Kỷ đại nhân đã ghi báo cáo.”
Hoàng đế cầm cuốn chú tay cha ta lên. Mở gói vải xanh. Lật đến trang có ghi Tế Tâm Thảo. Sắc mặt ông dừng ở dòng chữ đầu.
Ông nhận ra chữ. Ta biết.
Chữ Kỷ Trọng Nghiêm. Ông từng đọc bao báo cáo của cha ta thời còn trung niên. Mười năm chưa quên.
Ông đóng sách. Đặt xuống án. Ngước lên nhìn Hoàng hậu quỳ giữa điện.
“Đường Uyển. Ngươi nói.”
Hoàng hậu ngước lên. Áo tang trắng, tóc rối, mắt không còn đỏ. Nước mắt canh mão đã khô hết. Bà nhìn Hoàng đế lâu. Không sợ. Là tiếc. Cuối cùng bà nói một câu:
“Thần thiếp nhận. Mười năm trước Lý Thục Uyển. Mười năm nay Tiêu Chiêu Diễn. Không tiếc. Chỉ tiếc chưa xong.”
Trong điện có tiếng ai đó khe khẽ hắt hơi. Chắc thái giám đứng góc. Rồi im.
Hoàng đế phán.
Đường Uyển giáng phế Hoàng hậu, giam Trường Xuân cung suốt đời. Cấm đao kéo, cấm dây thắt. Nữ tì canh ngày đêm không cho tự tử.
Đường thượng thư Binh bộ giáng thứ dân, tù ngục Đại lý tự hai mươi năm.
Nhị hoàng tử Tiêu Chiêu Kỳ vô tội. Giữ danh hoàng tử, không cho phụ chính. Nhị hoàng tử quỳ giữa điện lúc nghe án mẹ mình. Không khóc. Chỉ cúi đầu chạm gạch xanh, ba khắc không ngước. Ta thấy vai chàng run một cái, sau đó dừng. Nghề dạy ta biết đó là run của người vừa vỡ, chưa nhận ra vỡ.
Đường thượng thư quỳ cạnh em gái. Ông nhắm mắt. Không nói. Đêm qua ông đứng trong phòng nghỉ Đông cung làm chứng “thăm xác cháu”, sáng nay ông làm chứng ngược cho em ruột giết cháu. Nước cờ bà bày cho ông trở thành đao ông bị đâm.
Truy phong Kỷ Trọng Nghiêm hàm Đại lý tự thượng thư. Thờ trong miếu công thần. Con gái Kỷ Trọng Nghiêm được cha ta đặt tên Vãn Chi, hôm nay đã đến trình bằng chứng.
Câu cuối Hoàng đế nói khẽ hơn ba câu trước. Chỉ ta nghe. Tam công đứng dưới không nghe.
Ta cúi đầu. Không dám ngước. Sợ ngước lên sẽ có gì đó không ép được xuống.
Đến ta.
“Kỷ Nguyên. Đại lý tự bậc ba. Đêm qua công lớn. Trẫm phong ngươi Đại lý tự thừa. Ngũ phẩm. Đặc chuẩn phá lệ.”
Ta lạy. Miệng đáp “Thần lĩnh chỉ.” Trong lòng không dâng lên gì lớn. Có chăng chỉ một câu rất nhỏ, ta nói với ai không rõ:
“Cha. Ba năm ta chờ. Bây giờ ông có chỗ ngồi trong miếu.”
Nói với chính ta. Với ông. Với gạch xanh nền điện.
Ta ngước lên trời qua khe cửa cao trên ngai. Trên cao có một con quạ bay qua, kêu một tiếng, rồi im.
Ta ra khỏi điện. Cửa nam. Gió cắt tai như đã nói.
Cột đá gần cửa. Có người đứng chờ.
Thái tử. Áo bào tím, không có ai theo. Chàng chờ ta.
Ta bước tới. Dừng cách chàng ba bước. Cúi đầu:
“Điện hạ.”
Chàng lắc đầu. Bước lại gần một bước. Giọng thấp, chỉ ta nghe:
“Vãn Chi cô nương.”
Ta ngước lên. Đêm qua sương phủ Đông cung, sáng nay sương đã tan. Chàng đứng dưới nắng đầu ngày. Mắt sáng dù sắc mặt còn tái.
Ta không đáp ngay. Nhìn thẳng chàng. Ba năm ta chưa để ai gọi tên thật. Nghe hai chữ Vãn Chi từ miệng người khác, lạ. Lạ đến mức không sốc. Chỉ lạ.
“Điện hạ. Đại lý tự thừa. Sáng nay là danh chính thức. Vãn Chi chỉ điện hạ với phụ hoàng biết. Không ai khác.”
Chàng gật.
“Ta không nói với ai. Nhưng ta có một câu hỏi ba năm sau đêm qua. Nếu ba năm nữa cô còn muốn nghe, ta hỏi.”
Ta khẽ cười. Rất nhẹ. Nếu tính từ canh tí đến giờ, đây là lần đầu ta cười trong chín canh.
“Ba năm nữa hạ quan có thể còn giả nam. Điện hạ hỏi trước cứ hỏi.”
Chàng nhìn ta lâu. Không cười theo.
“Không. Ba năm.”
Ta gật.
Bước một bước đi. Chàng gọi lại. Nhỏ:
“Vãn Chi.”
Không kèm cô nương. Không kèm hai chữ nào. Chỉ tên.
Ta không quay. Đứng lại nửa nhịp. Rồi bước tiếp.
Đi ba bước ra khỏi cột đá, ta không quay lại. Sau lưng ta chàng còn đứng đấy. Ta biết mà không cần nhìn. Nghề ba năm dạy ta cảm được ánh mắt ai dõi theo. Nhưng ánh mắt của chàng khác. Không phải nghi kỵ, không phải soi. Là chờ. Đã ba năm chàng chờ, thêm ba năm nữa không lâu.
Kiệu chờ ngoài cửa cung. Ta lên. Rèm buông. Trong kiệu tối. Ta cởi mũ ô sa, đặt trên gối. Tóc còn quấn lên bằng lụa. Ba năm chưa xoã.
Kiệu qua cầu Lạc Thuỷ. Ngoài rèm có tiếng người bán bánh bột chiên gọi ba tiếng. Có tiếng ngựa hí xa. Có tiếng chuông sáng ở chùa Tây Minh vọng lại. Trường An sáng nay như mọi sáng, không ai biết đêm qua trong Đông cung có xác biết thở, có kim châm đầu trâm, có bà mẹ giết con bằng thuốc dòng Đường ngoại thích. Không ai cần biết. Đây là công vụ khép trong điện, sáng chín canh sau chỉ còn giấy tờ.
Ta đưa tay áo lau mắt. Không phải nước mắt. Là bụi. Kiệu chậm chín canh nay không ai lau.
Về nhà.
Ba tháng sau.
Nam thành Trường An, phố Trường Lạc. Nhà ba gian mộc mạc, cửa sơn nâu, sân nhỏ có gốc lê. Gốc lê đang mùa rụng lá.
Buổi chiều thu. Gió mát nhè nhẹ. Trong sân có mùi lá lê khô đốt, Nguyệt Nhi gom từ sáng. Trong bếp có tiếng nồi đất sôi khe khẽ.
Ta ngồi bên án ở gian giữa. Bên tay ta là sổ khám tử thi tuần này, mười hai vụ, tất cả đã ghi rõ, kết luận không sai một chi. Bên tay kia là ấm trà nhài còn nóng.
Ba tháng lên ngũ phẩm, ta khám ít hơn. Đại lý tự thừa bậc năm có việc thẩm tra hồ sơ án cũ, ký duyệt báo cáo ngỗ tác bậc dưới, ra hiện trường vụ lớn. Ban đêm không còn phải trực canh tí trong phòng xác dưới đèn dầu. Sáu bậc ngỗ tác dưới ta gọi bằng “đại nhân”, cúi chào khi ta vào. Không ai trong họ biết đại nhân là nữ. Không cần biết.
Chỉ có Hoàng đế biết. Chỉ có chàng biết. Chỉ có tổ mẫu biết. Ba người, đủ.
Tổ mẫu ngồi bên cửa sổ, khâu áo. Bà tám mươi tuổi, tóc bạc thưa, mắt còn sáng. Ba tháng trước bà từ quê chuyển về đây ở cùng ta. Bà là người duy nhất ngoài cậu đã khuất biết ta là con gái. Ba năm bà giữ bí mật không nói ai, kể cả họ hàng bên nội. Bà đến vì biết chuyện cha ta đã khép mười năm.
Bà không nói nhiều. Ngày bà ăn ba bữa, khâu áo hai canh, ngủ sớm. Đủ.
Ta viết xong dòng cuối trong sổ khám. Đặt bút. Ngước lên. Ngoài sân, gốc lê rụng thêm một chiếc lá xuống mái ngói ngang cửa. Khẽ.
Cửa gõ.
Nguyệt Nhi ra mở. Có tiếng cô hơi khựng. Rồi tiếng nhỏ:
“Bẩm… Vương gia.”
Ta biết ngay ai. Ba tháng chưa gặp, ta vẫn biết.
Thái tử. Bây giờ là Nhiếp chính Vương. Hoàng đế trao quyền phụ chính hai tháng trước, phong hiệu mới. Chàng vào không có ai theo, áo bào tím thẫm quan viên, mũ thường không mũ miện.
Ta đứng dậy. Cúi đầu:
“Vương gia.”
Chàng vẫy tay: “Đại nhân ngồi. Ta không đến công vụ.”
Ta chỉ ghế đối diện. “Mời.”
Chàng ngồi xuống. Nguyệt Nhi bưng chén trà nhài ra, chén ta đã pha sẵn. Không phải tình cờ. Sáng nay Lang Tứ có ghé báo trước.
Chàng cầm chén trà. Uống một ngụm nhỏ. Đặt xuống. Có một giọt nước đọng bên miệng chén, chàng chưa lau.
“Kỷ đại nhân.”
“Vương gia.”
Chàng nhìn ta một khắc. Không nói gì. Ngoài sân, có tiếng lá khô rụng xuống mái, khẽ. Trong bếp tổ mẫu tự đứng dậy đi vào, không cần ta nhắc. Bà biết khi nào cần lui. Tám mươi tuổi có cái tinh của tám mươi.
Cuối cùng chàng đưa tay vào tay áo. Lấy ra một tờ giấy dâu, gấp làm tư.
“Ta có chuyện cần khanh khám.”
Ta ngước: “Xác gì?”
“Không phải xác. Là một tờ giấy dâu. Chữ khô lâu. Ta muốn khanh xem có phải chữ mẹ ta không.”
Ta nhận giấy. Đưa lên ánh nắng chiều qua cửa sổ. Không cần đèn, trời còn sáng, nhưng nghề đã thành phản xạ. Giơ chữ chéo ánh sáng luôn.
Chàng nói tiếp, giọng thấp:
“Hôm qua ta mở lại hộp trang sức khảm trai của mẹ. Ngăn kép trong ngăn kép. Ba tháng trước ta chưa biết có tầng thứ ba. Trong đó có một tờ giấy. Chỉ một tờ.”
Bộ 2 hộp trang sức khảm trai
350.000đ
Xem chi tiết →Ta không đáp. Đọc.
Chữ nhỏ, nét mềm, bút mực đen đã khô mười năm. Nhưng vẫn đọc được rõ:
“Chiêu Diễn con. Nếu mẹ chết trước con, hãy tìm một người tra rõ. Không ai ngoài Đại lý tự khanh Kỷ Trọng Nghiêm.”
Ta đọc lần thứ hai. Cẩn thận. So chữ với bao báo cáo cựu hoàng hậu ký thời còn tại vị. Ta có xem trong hồ sơ Đại lý tự sau đêm đó, để kiểm. Nghề dạy ta không tin ai. Kể cả người đã chết.
Chữ cùng nét. Cùng người.
Ta đặt giấy xuống án. Ngồi lâu.
Trong lòng ta không dâng lên gì lớn. Có chăng chỉ một câu hỏi rất nhỏ. Mẹ chàng viết giấy này bao lâu trước khi bà chết? Trước ba tháng? Trước một tháng? Trước một canh? Không biết. Không hỏi.
Cựu hoàng hậu Lý Thục Uyển gọi tên cha ta trong một tờ giấy giấu ba tầng. Cha ta không đọc được. Cha ta chết sáu ngày trước bà. Ta biết ngày cha chết. Bao năm ta không biết ai gọi cha đêm ông chết. Bây giờ biết. Không phải người sống. Là một người vợ vua khác sắp chết, gửi giấy vào hộp khảm trai, chờ một đứa con trai lớn lên hai mươi sáu tuổi tự tìm được ngăn kép thứ ba.
Mười năm giấy chờ chàng tìm. Chàng tìm được ba tháng sau khi khép án. Sớm ba tháng thì cha ta có tra ra. Muộn ba tháng thì hôm nay không có ta ở nhà này.
“Chữ mẹ điện hạ. Hạ quan xác nhận.”
Chàng gật. Không có phản ứng lớn. Chàng đã biết trước. Chàng đến chỉ để nghe ta xác nhận, không phải để hỏi.
“Mẹ ta gọi cha nàng. Đêm ba tháng trước ta chọn con gái cha nàng làm ngỗ tác.”
Chàng ngừng một khắc. Rồi:
“Không phải trùng hợp.”
Ta gật. Giọng đều:
“Không phải trùng hợp.”
Trong bếp nồi đất sôi bùng lên. Nguyệt Nhi hạ lửa. Im lại. Ngoài sân có tiếng chim sẻ đậu trên gốc lê, kêu hai tiếng nhỏ, bay đi.
Chàng đứng dậy. Ta cũng đứng.
Chàng đi ra cửa. Trước khi bước qua ngưỡng, ngoảnh lại một câu:
“Ba năm nữa ta hỏi. Nhưng ba năm nữa còn xa. Ta có thể ghé chén trà mỗi tuần không?”
Ta đứng bên án. Tay đặt trên chén trà chàng vừa uống. Chén sứ trắng còn ấm dưới ngón ta.
Ta ngước lên chàng. Nắng chiều đổ qua cửa lên áo bào chàng, thành một vệt tím thẫm chéo ngực.
“Vương gia là Nhiếp chính. Ghé đâu chả được. Chỉ cần đừng đến canh tí. Hạ quan còn phải làm việc.”
Chàng cười. Lần đầu ba tháng nay ta thấy chàng cười. Cười không lộ răng, chỉ khoé miệng nhếch một chút, giống đêm chàng nằm giả chết trên phản Đông cung.
Chàng ra. Nguyệt Nhi tiễn ra cổng.
Ta ngồi lại bên án.
Chén trà chàng vừa uống, ta cầm lên. Còn ấm. Rót phần trà thừa xuống chậu men. Rửa. Cất lên kệ chén khách. Chén sứ trắng đứng cạnh ba chén khác cùng bộ, không phân biệt. Ba năm nữa nếu ai đó có ghé, chén nào cũng như chén nào. Ta không đánh dấu.
Tổ mẫu ở bếp đi ra. Bà không hỏi. Ngồi lại chỗ cửa sổ, cầm áo khâu tiếp. Kim chỉ vàng qua vải lam, một mũi, hai mũi. Bà đã tám mươi tuổi, ba năm nữa nếu còn khoẻ ta muốn ai đó về ăn cùng bà một bữa. Chuyện bà nghĩ, bà không nói ra. Chuyện ta nghĩ, ta cũng không nói ra. Hai người đàn bà trong một căn nhà mộc, câu không cần đầy đủ.
Bàn án ta còn mở cuốn “Tẩy Oan Tập Lục” bản chú tay cha. Trang cuối.
Trang cuối cha ta viết đêm ông chết mười năm trước. Chữ nhỏ, hơi run. Ba tháng trước ta đọc lần đầu ở Đông cung, canh dần, tay ta run một cái. Ba tháng nay ta đọc lại hai mươi lần, tay không run nữa.
“Nếu Vãn Chi đọc được, tra dòng Đường. Đường Chiêu Kính. Đường Uyển. Đường quý phi. Không được để chúng biết con là con ta. Đổi tên. Đổi phận. Tra đến khi hết.”
Ba tháng trước ta tra xong.
Đường Chiêu Kính đã chết mười lăm năm trước, già. Đường Uyển giam Trường Xuân cung. Đường thượng thư tù Đại lý tự.
Ba dấu chấm sau gáy chàng đã lành. Ta biết vì hai tuần trước có công vụ trình sổ ngũ phẩm ở Đông cung, ta ngước lên nhìn gáy chàng khi chàng cúi ký, không còn thấy chấm nào dù ánh nắng chiếu chéo.
Vụ cha ta khép mười năm.
Trang cuối chú tay ta đã đọc xong.
Ta khép sách lại. Bọc vải xanh. Đặt vào hộp gỗ trong tủ, chỗ trước đây bọc dao mổ khám xác đêm.
Trở lại án.
Ta rót một chén trà nhài mới cho mình. Ngồi xuống. Trời chiều còn sáng.
Đêm nay không phải canh tí. Đêm nay ta không khám ai.
Nhưng bên tay ta, trên án, còn một chén sạch úp xuống.
Ta cầm ấm. Rót đầy chén thứ hai. Trà ấm, khói mỏng, nổi lên ba vòng rồi tan.
Ba năm nữa ai đó có hỏi. Ba năm còn xa.
Chén trà thứ hai trên án. Ta đã rót sẵn.