Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh

Chương 45: Đêm Tuyết Cuối

Đêm ba mươi tháng chạp.

Tuyết rơi từ giờ Dậu. Đến giờ Hợi đã dày ngập ngón tay út. Trong sân sau tương phủ Lục thị, cây mai già bên hồ bị tuyết đè cong ngọn xuống mặt nước. Nước hồ đóng váng mỏng. Trên váng, tuyết mới rơi xuống chưa kịp đọng, gió thổi thành từng vệt trắng nhẹ, giống bột lụa ai vẩy trên gương.

Ngoài đường Biện Kinh xa xa còn tiếng pháo trẻ con đốt lẻ. Trong tương phủ thì im. Cửa lớn đóng từ giờ Tuất. Thị vệ đêm đi tuần hai giờ canh một lần. Vết chân họ in mờ trên đá lát, tuyết mới lấp lại từng khắc. Trong nội viện chỉ còn ta thức, chàng thức. Hai đứa con đã ngủ từ giờ Tuất canh hai.

Ta ngồi trong thư phòng.

Trên bàn có ba thứ.

Một chén trà trầm, pha lần thứ ba, nước còn ấm khẽ. Một đĩa mứt sen mẹ nuôi cũ hồi còn sống hay làm, nay Bích Đào học lại, đêm nay đưa lên hai cái. Một quyển sổ tay bìa gỗ, mở giữa trang, nét mực đen chưa khô hẳn.

Bên trái bàn, chỗ ta hay đặt tay khi viết, còn có một vật thứ tư.

Chiếc quạt lụa cũ của cha ta.

Quạt gấp cổ trang, mười ba nan tre nhuộm đen, lụa trắng ngả vàng theo năm tháng. Diệp tỷ có lần khuyên ta đóng khung để lưu, ta nghĩ lại thôi. Quạt để trong khung là quạt chết. Ta muốn quạt sống. Nên ta để quạt trên bàn viết. Tối nào viết sách, ta mở quạt một lần, đọc lại bốn chữ khắc mờ bên trong: chờ ta.

Quạt thêu 2 mặt bọc lụa · phong cách cổ trang Trung Hoa

Quạt thêu 2 mặt bọc lụa · phong cách cổ trang Trung Hoa

91.800đ

Xem chi tiết →

Mười tám năm ta cầm quạt này.

Từ đêm đầu trọng sinh trong nghĩa trang cửa Nam, ta cầm. Qua ba vụ án Đại lý tự, ta cầm. Đêm chàng đẩy cửa thư phòng vào không gõ, thấy dây vải giấu ngực ta, quạt ta để trên gối. Đêm đại hôn, khi chàng tự tay cởi dây vải sáu năm cho ta, quạt ta để trên bàn con đầu giường. Đêm sinh Thẩm Vô Y ở phòng Đông tương phủ, quạt ta để cạnh. Đêm sinh Lục Cát bốn năm sau ở phòng Tây tương phủ, quạt ta cũng để đó.

Nay đêm ba mươi tháng chạp, quạt vẫn nằm trên bàn ta.

Ta ba mươi sáu.

Không còn là thiếu niên gầy giả nam của mười tám năm trước. Không còn phải buộc tóc kiểu thư đồng. Không còn phải để sẹo giả trên môi. Ba năm nay ta để tóc dài ngang lưng. Cái sẹo giả trên môi trên, ta để lành sau đêm đại hôn, giờ chỉ còn một vệt mờ, chỉ ai đứng sát mới thấy.

Ta nghe tiếng chân chàng ngoài hành lang.

Chân chàng bước chậm, không đè mạnh. Chàng đã bốn mươi bốn. Đầu gối bên phải, vết thương đêm ám sát tương phủ hồi ta hai mươi, mùa đông đến vẫn ê nhức. Ta biết. Ta cấm chàng đi tuần đêm lạnh nhưng chàng vẫn đi. Chàng có cái ngoan cố của người từng suýt chết trong tay Trương Nguyên Chương.

Cửa thư phòng mở.

Chàng đứng ngoài cửa một khắc, phủi tuyết trên vai. Áo lông xám. Râu ngắn tỉa sạch. Mắt vẫn dao khắc như ngày đầu ta gặp trong phòng Đại lý tự, chỉ nếp gấp bên khoé sâu hơn.

Chàng bước vào. Đóng cửa.

“Hai đứa ngủ chưa.”

“Ngủ rồi.”

“Cả hai.”

“Cả hai. Vô Y ôm quyển pháp y ngủ. Cát ôm cây kiếm gỗ chàng cho.”

Chàng cười khẽ.

Chàng đến ngồi bên bàn, đối diện ta. Không kéo ghế xa. Ghế chàng và ghế ta cùng một cạnh bàn, cách nhau nửa gang tay. Đèn dầu bấc hạt đậu trên bàn cháy đều. Bên tường, tro hương trầm rơi trong lư đồng thành từng lớp mỏng như bột.

Chàng cầm chén trà lên. Uống một ngụm. Đặt chén xuống.

“Trà lần thứ mấy.”

“Lần ba.”

“Ta uống lần ba với ngươi.”

Bốn chữ ấy chàng nói không nặng, không nhẹ. Chỉ là bốn chữ của một người đã ngồi cạnh ta uống trà mười tám năm nay, tối nào cũng lần ba.

Ta không đáp.

Ta cầm bút, viết thêm hai dòng vào quyển sổ. Chàng không hỏi ta viết gì. Ta không giấu. Trên bàn ta có ba quyển bản thảo. Quyển thứ nhất Ngỗ Tác Học Cơ Bản xuất bản mười năm trước, dùng làm giáo trình Đề Hình Ti. Quyển thứ hai Ngỗ Tác Học Trung Cấp xuất bản bảy năm trước. Quyển thứ ba, ta còn đang viết, gọi tên Ngỗ Tác Học Cao Cấp.

Bên cạnh ba quyển đó, ta còn quyển thứ tư. Chàng chưa biết ta đang viết. Bìa gỗ, không có chữ ngoài. Ta viết đã hai năm.

Đêm nay ta viết xong dòng cuối cùng.

Ta gấp sổ lại.

Chàng ngẩng lên, thấy ta gấp sổ. Không hỏi. Chàng bao giờ cũng đợi ta tự nói.

Ta nhấp một ngụm trà. Trà trầm ấm nhẹ, mùi khói gỗ thơm nhợt. Tuyết ngoài cửa sổ rơi lặng.

“Chàng.”

“Ừ.”

“Chàng còn nhớ đêm ta lộ giới tính không.”

Chàng không đáp ngay.

Chàng nhìn ta. Nhìn không tránh. Trong mắt chàng có ánh của người đã đợi câu này rất lâu. Không phải hôm nay. Có thể đã đợi mười tám năm.

“Nhớ.”

“Chàng nhớ đêm nào.”

“Đêm mười sáu tháng chín, năm ngươi mười tám.”

Ta chớp mắt một cái. Chàng nhớ đúng ngày. Chàng nhớ đúng tháng. Sau mười tám năm, chàng nhớ.

“Chàng nhớ ta mặc gì.”

“Áo bố đen, tay áo rộng. Dây vải giấu ngực trắng, đã cũ, đường viền mép nâu. Sườn phải ngươi băng vải trắng, máu thấm ra một chấm nhỏ như hạt đậu. Ngươi vừa cởi áo ngoài, chưa cởi áo trong. Ta đẩy cửa. Ta không gõ. Ta có lỗi từ đêm đó. Ta không xin lỗi ngươi.”

“Ta không cần chàng xin lỗi.”

“Ta biết.”

Chàng cầm chén trà. Không uống, chỉ giữ trong tay. Ngón tay chàng khô lạnh. Chàng lạnh tay từ nhỏ, ta biết. Vết bỏng khi năm bảy tuổi cha chàng cầm tay chàng dạy viết chữ, chàng đổ nghiên mực nóng, phỏng lòng bàn tay. Từ đó tay chàng không giữ được nhiệt lâu.

“Chàng đứng cửa bao lâu.”

“Ba nhịp thở.”

“Ta đếm cùng chàng lúc đó. Ta cũng đếm ba nhịp.”

Chàng cười khẽ. Đây là lần đầu tiên, sau mười tám năm, chàng và ta cùng thú nhận đêm đó cả hai đứng đếm ba nhịp thở, cùng lúc, cùng bên hai mặt cánh cửa.

“Chàng ra khỏi phòng đóng cửa. Không nói.”

“Ta không biết nói.”

“Chàng biết ta là nữ từ khoảnh khắc đó.”

“Không. Ta biết ta là nữ từ khoảnh khắc đó ngươi biết đã lộ.”

Ta ngừng bút.

Câu đó chàng nói xong, ta phải để bút xuống bàn. Ta cầm chén trà, uống một ngụm nhỏ. Trà trầm chảy xuống họng, ấm.

“Chàng.”

“Ừ.”

“Có một điều ta chưa hỏi mười tám năm.”

“Hỏi.”

“Trước đêm đó, ba tháng ta làm ngỗ tác ở Đại lý tự, ba vụ án đầu tiên, chàng ngồi cạnh ta khám xác, đứng cạnh ta thẩm vấn, giao ta án. Trong ba tháng đó chàng nghĩ ta là gì.”

Chàng đặt chén trà xuống bàn.

Bên ngoài cửa sổ, một cành mai cong bị tuyết trượt, rơi xuống nước hồ. Tiếng khẽ. Trong thư phòng, đèn dầu bấc hạt đậu hơi lay. Tro hương trong lư đồng rớt thêm một lớp mỏng.

“Ta nghĩ ngươi là một thiếu niên có mắt lạnh giống ta.”

Chàng đáp ngắn.

Ta chưa hỏi hết. Ta hỏi tiếp.

“Chàng có yêu thiếu niên đó không.”

Chàng ngẩng mắt lên. Nhìn ta thẳng. Không dò. Không tránh. Không cười.

“Có.”

Một chữ. Ngắn.

“Chàng nói rõ.”

“Ba tháng đầu ta thấy trong ngươi một thứ ta chưa thấy trên khuôn mặt ai trong triều. Là cái lạnh không sợ tử thi. Cái lạnh của người đã đứng đối diện cái chết đủ lâu để không còn nhớ mình biết sợ. Ta có cái lạnh đó vì cha ta chết oan. Ngươi có cái lạnh đó, ta chưa biết vì sao. Ta muốn hỏi. Ta không hỏi. Ta chỉ ngồi cạnh ngươi. Trong ba tháng đó, ta đã yêu cái lạnh trong ngươi. Ta chưa biết ngươi là ai. Nhưng ta yêu cái lạnh.”

“Vậy đêm mười sáu tháng chín, khi chàng thấy dây vải giấu ngực…”

“Ta không sốc vì ngươi là nữ. Ta sốc vì ta biết ta đã yêu ngươi từ trước, và biết ngươi là nàng đêm đó chỉ khiến cái ta đã có thêm rõ, không thêm mới. Ta yêu ngươi. Rồi ta biết ngươi là nàng. Không phải ta yêu ngươi vì nàng.”

Ta cúi đầu.

Ta không khóc. Nghề của ta ba mươi sáu năm không cho ta khóc dễ. Nhưng trong lồng ngực ta có một tia nóng nhẹ, giống hôm sáng ba mươi mấy năm trước ta ngồi kiệu vàng đỏ đi ngang phường Đông, thấy bà cụ phơi vải xanh trên dây, nắng non chưa hong hết sương đêm.

Chàng đưa tay qua bàn, chạm nhẹ vào cổ tay ta.

Chỗ đó, sáng vua chỉ hôn, chàng cũng chạm. Chỗ đó, đêm sinh Thẩm Vô Y, chàng cũng chạm. Chỗ đó, mười tám năm nay, chàng chạm không đếm nổi bao nhiêu lần.

Ngón tay chàng vẫn khô lạnh.

Ta để chàng chạm.

Ngoài cửa sổ, tuyết rơi im. Trên nóc ngói tương phủ, ta nghe tiếng gió lùa qua khe kèo gỗ, khẽ như tiếng cha ta từng dặn ta hồi bé, khi cha còn sống, tiếng dặn ta không nhớ nội dung, chỉ nhớ giọng.

Ta thở một hơi.

Rồi ta cúi xuống ngăn bàn dưới bên trái, nơi ta cất riêng hai năm nay không ai đụng, kéo ra một quyển bản thảo bìa gỗ. Đặt lên bàn. Giữa ta và chàng.

Bìa quyển sổ chưa có chữ ngoài. Bên trong có chữ.

“Cho chàng.”

Ta đẩy quyển sổ qua bên chàng. Chàng nhìn ta, không cầm ngay. Chàng đợi ta cho phép bằng ánh mắt. Ta gật.

Chàng đưa tay cầm.

Chàng mở bìa. Trang đầu có một dòng chữ nhỏ, chàng đọc.

Bạch Vô Y. Hồi Ký Ngỗ Tác.

Chàng dừng ba nhịp.

“Ngươi viết hồi ký.”

“Ta viết hai năm nay.”

“Ngươi chưa nói ta.”

“Ta muốn viết xong mới nói. Đêm nay ta viết xong dòng cuối.”

Chàng nhìn tay ta. Trong tay ta có vệt mực chưa lau. Bên phải ngón cái ta có một chấm đen. Ta viết ba canh giờ hôm nay chưa nghỉ.

Chàng lật trang thứ hai. Chương một. Câu đầu tiên.

Chàng đọc.

Đọc xong, chàng không nói. Chàng đặt quyển sổ mở giữa bàn, để câu đầu tiên hướng lên trần.

Ta biết chàng đang đọc câu đầu tiên trong đầu lần thứ hai, lần thứ ba.

Ta nhìn câu ấy từ vị trí ngồi của ta. Ta viết câu đó lần cuối cùng khoảng canh Tuất, hai giờ trước.

Kiếp trước ta là pháp y bị đâm chết trong phòng giải phẫu. Kiếp này ta có gia đình.

Chàng cúi đầu.

Ta thấy vai chàng nhích lên một cái, rồi thôi. Chàng đã bốn mươi bốn. Chàng không khóc dễ, giống ta. Chàng chỉ ngồi im.

Ta để chàng ngồi im. Trong nghề ba mươi sáu năm, ta học được rằng có những khắc không cần lời. Có xác không cần ta nói. Có người sống cũng vậy.

Ba nhịp thở.

Chàng ngẩng lên. Mắt chàng ướt một tia, không nhiều, đủ ta thấy. Ta thấy rồi ta cũng không nói.

“Ngươi muốn xuất bản không.”

Chàng hỏi khẽ.

“Chưa.”

“Cất.”

“Cất đến khi hai đứa lớn. Vô Y mười tám. Cát mười tám. Lúc đó ta cho hai đứa đọc trước. Nếu hai đứa muốn xuất bản, ta cho. Nếu không, để làm gia phả Lục thị.”

“Được.”

Chàng gấp quyển sổ. Đặt qua chỗ quạt lụa cha ta trên bàn. Quyển sổ và quạt nằm cạnh nhau. Quạt cũ hơn, lụa vàng ngả. Sổ mới, bìa gỗ còn thơm mùi keo.

Trên bàn có hai vật. Mỗi vật một kỷ nguyên.

Ta cầm quạt lên, mở ra. Bốn chữ mờ khắc bên trong, mười tám năm ta đọc không sờn.

chờ ta.

Cha ta khắc bốn chữ ấy khi ta còn ở kiếp trước, năm cha ta ba mươi tám tuổi, ba năm trước khi cha chết oan. Lúc đó cha khắc cho ai, ta không biết. Có thể cho một người bạn hẹn ước. Có thể chỉ cho chính mình. Ta không hỏi được nữa.

Ta chỉ biết, đêm đầu trọng sinh ở nghĩa trang cửa Nam, ta cầm quạt này ra khỏi ngực áo cha, ta đọc bốn chữ ấy, và ta hiểu.

Ta cầm quạt suốt mười tám năm, để bốn chữ ấy nghĩa cho ta. Chờ ta về nhà. Chờ ta danh chính ngôn thuận. Chờ ta có gia đình. Chờ ta viết xong hồi ký. Chờ ta ngồi trong thư phòng đêm tuyết cuối năm, đưa hồi ký cho chàng.

Ta gấp quạt lại. Đặt bên cạnh quyển sổ.

Ngoài cửa sổ, tuyết đã ngừng rơi. Trên nóc ngói, một con chim mỏ trắng đậu xuống một khắc, ngoảnh đầu nhìn xuống sân, rồi bay đi. Ta nhớ sáng vua chỉ hôn, cũng có một con chim mỏ trắng đậu xuống nóc ngói tương phủ, ngoảnh đầu, rồi bay đi. Có thể là cùng một con. Có thể chim mỏ trắng ở tương phủ Lục thị hay đậu chỗ đó.

Ta không phân biệt được. Ta không cần phân biệt.

Chàng đứng dậy. Đi vòng bàn qua chỗ ta. Ngồi xuống ghế cạnh ghế ta. Chàng đặt tay lên vai ta.

Chàng chưa giữ vai ta lâu như tối nay.

“Yên.”

Chàng gọi tên ta.

Chàng ít gọi tên. Chàng thường gọi “ngươi”, “nàng”, “phu nhân” khi có khách. Chàng chỉ gọi tên khi khắc quan trọng. Đêm đại hôn chàng gọi. Đêm sinh Thẩm Vô Y chàng gọi. Đêm mẹ nuôi ta mất chàng gọi.

Đêm nay chàng gọi.

“Ừ.”

“Ta không xứng đọc trước sách này.”

“Chàng xứng.”

“Ta chỉ đọc câu đầu tiên. Ta không đọc hết được đêm nay.”

“Ta biết. Chàng không cần đọc hết đêm nay. Ta viết cho chàng đọc trong hai mươi năm. Từ đêm nay đến khi chàng đủ trăm tuổi. Chàng đọc dần.”

Chàng cười khẽ.

Ta cầm tay chàng, lần đầu đêm nay ta chủ động. Ngón tay chàng vẫn khô lạnh. Ta đặt tay chàng lên lòng bàn tay ta, ta khum lại. Trong lòng bàn tay ta ấm hơn tay chàng ba phần.

“Chàng.”

“Ừ.”

“Đêm nay là đêm tuyết cuối năm.”

“Ừ.”

“Sáng mai đầu năm mới. Ta muốn dặn chàng một chuyện.”

“Nói.”

“Nếu ta chết trước chàng, ta muốn chôn ở nghĩa trang cửa Nam, cạnh cha ta và mẹ nuôi ta. Không chôn ở lăng Lục thị. Trên bia đá, ta không muốn ghi ‘phu nhân Lục Nghi Đô Uý’. Ta muốn ghi ‘Thẩm Yên. Nữ ngỗ tác đầu tiên Đại Tống. Vợ Lục Vô Ngạn.’ Ba dòng. Theo thứ tự này.”

Chàng im một khắc.

Rồi chàng gật.

“Được.”

“Cảm ơn chàng.”

“Đừng cảm ơn. Chuyện đó còn xa. Ta bốn mươi bốn. Ngươi ba mươi sáu. Còn dài.”

“Còn dài. Nhưng ta muốn nói đêm nay. Vì đêm nay là đêm ta viết xong hồi ký. Là đêm ta khép được vòng.”

“Vòng nào.”

“Vòng từ đêm đầu trọng sinh ở nghĩa trang cửa Nam đến đêm nay. Mười tám năm. Vòng này ta đi hết. Ta muốn nói với chàng để chàng biết ta đã đi hết.”

Chàng cúi xuống, chạm trán vào trán ta. Tay chàng khô lạnh, trán chàng ấm.

“Ta biết ngươi đã đi hết.”

Chàng nói.

“Ta ngồi cạnh ngươi cả vòng.”

Ta nhắm mắt.

Ngoài cửa sổ tuyết đã ngừng. Trên nóc ngói tương phủ, sương đêm đọng thành đá mỏng. Trong thư phòng, đèn dầu bấc hạt đậu cháy đều. Tro hương trong lư đồng còn nửa. Trên bàn có ba vật.

Quyển sổ hồi ký bìa gỗ mới.

Quạt lụa cũ của cha ta khắc bốn chữ chờ ta.

Và một chén trà trầm nguội đi lần thứ ba.

Ba vật. Mỗi vật một mảnh kiếp.

Ta thầm nói với cha ruột nằm ở nghĩa trang cửa Nam, mộ đá đã mòn theo mười tám năm mưa nắng.

Cha. Con đã chờ. Con đã về. Con đã danh chính ngôn thuận. Con đã có gia đình. Bốn chữ cha khắc, con hiểu. Con giữ. Con truyền cho con gái con, Thẩm Vô Y, mười một tuổi năm nay. Sang năm con dạy Vô Y khắc bốn chữ ấy vào một quạt lụa mới. Quạt cũ của cha, con giữ đến khi con chôn cùng con.

Gieo gió gặt bão, cha dạy con câu ấy khi con năm tuổi. Trương Nguyên Chương gieo gió, Trương gặt bão. Cha gieo hạt, con gặt mùa. Con gặt được. Nay con chỉ còn một mùa cuối, là hai đứa con của con lớn lên thành người. Con sẽ gặt tiếp.

Ta mở mắt.

Chàng vẫn chạm trán vào trán ta.

Trong thư phòng đêm tuyết cuối năm, có hai người ngồi cạnh nhau, ba vật trên bàn, ba lớp mực chưa khô hẳn trong hồi ký, và bên ngoài cửa sổ, sương đêm đọng thành đá mỏng trên nóc ngói.

Ta thở một hơi.

Trong hơi thở ấy không có mảnh vải nào ép ngực. Không có sẹo nào ta phải giữ. Không có câu công thức nghề nghiệp nào ta phải lặp. Không có bí mật nào ta phải giấu. Không có chức nào ta phải giả.

Chỉ có ta, Thẩm Yên. Vợ chàng. Mẹ hai đứa con. Nữ ngỗ tác đầu tiên Đại Tống. Người viết xong hồi ký đêm tuyết cuối năm.

Ta thở.

Chàng cũng thở.

Trên bàn, ngọn đèn dầu bấc hạt đậu chỉ còn đủ dầu cho một canh giờ nữa. Tro hương trong lư đồng còn nửa. Sáng mai đầu năm mới, ta và chàng sẽ dậy sớm, dẫn hai đứa con ra sân trước lạy trời đất. Nắng non đầu năm sẽ đổ xiên lên gạch sân, giống nắng non buổi sáng vua chỉ hôn năm xưa. Nhưng hôm nay khác. Hôm nay không phải sáng mở vòng.

Hôm nay là đêm khép vòng.

Ta biết vòng đã khép.

Ta biết đêm nay là đêm tuyết cuối.