Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh

Chương 44: 10 Năm Sau

Mười năm là một canh giờ dài.

Sáng đầu thu, phòng học nữ ngỗ tác trong Đề Hình Ti mở cửa lúc canh Thìn. Cửa gỗ mộc đã bạc màu, khung có vết dao khắc do một học trò khoá đầu tinh nghịch để lại tám năm trước. Bên trong, sáu chiếc bàn gỗ dài kê thành hai dãy. Trên mỗi bàn có một hộp dụng cụ khám xác nhỏ, một tấm khăn trắng phủ, một chén nước trong.

Đàm Chí Cương không dâng thêm biểu nào nữa sau lần ấy. Vua bác tấu chương của ông ta ngay tháng sau, cùng chỉ dụ cho mở khoa nữ ngỗ tác đầu tiên tại Đề Hình Ti. Ông ta mất bốn năm sau đó, bệnh già. Căn phòng này là thứ còn lại sau cuộc tranh biện ấy.

Ta đứng ở đầu phòng. Áo bào xanh sẫm cắt kiểu Đại lý tự thiếu khanh phu nhân, tay áo hơi rộng để tiện cầm dao mổ. Tóc buộc gọn sau gáy bằng một dải lụa đen. Không cài trâm bạc. Không điểm son. Đêm nay không phải đêm ta cần trâm.

Ba mươi sáu tuổi. Ta nhìn xuống hai bàn tay mình. Ngón tay còn mảnh, nhưng khớp đã cứng hơn thời mười tám. Trên mu bàn tay trái có một vệt sẹo nhỏ hình dấu ngã, do đêm khám vụ án phú thương phòng khoá năm nào ta lỡ đưa dao gần quá.

Bên phải ta, bàn gỗ nhỏ nhất phòng, có một người đang khám xương gà.

Thẩm Vô Y. Mười một tuổi.

Con gái ta.

Vô Y ngồi thẳng lưng, hai tay đeo găng vải mỏng do chính ta cắt may. Trên bàn nó có một bộ xương gà mái đã luộc ba nước, phơi khô, khớp còn nguyên. Nó đang tách khớp cánh, đếm từng đốt xương một, ghi vào sổ giấy dó.

“Mẹ.” Vô Y không ngẩng đầu. Giọng nó bằng, lạnh, giống ta lạ lùng. “Cánh gà mái này có mười bốn đốt. Sách mẹ chép mười hai.”

Ta bước tới sau lưng nó, nghiêng người xem sổ.

“Mẹ chép mười hai đốt cho gà chọi. Loại gà này khác. Con phân biệt được không?”

Vô Y ngẩng đầu. Mắt nó đen, dài, có cặp mí đơn giống chàng, không giống ta. Nhưng ánh nhìn của nó là ánh nhìn ta thấy trong gương ba mươi năm trước, kiếp trước lẫn kiếp này. Không sợ xác. Không sợ máu. Chỉ muốn biết bên trong có gì.

“Gà mái đẻ nhiều, cánh dài hơn. Đốt nhiều hơn.” Vô Y trả lời. “Con đọc trong 《Ngỗ Tác Học Cơ Bản》 mẹ viết. Chương ba.”

Ta gật.

“Chép sổ. Đánh dấu trang.”

Vô Y cúi xuống ghi. Ngón tay trái nó cầm bút chuẩn hơn ta thời mười một tuổi kiếp trước. Kiếp trước ta bắt đầu học vẽ khung xương từ năm mười hai. Kiếp này ta con gái ta bắt đầu năm bảy tuổi.

Bên trái phòng, năm cô học trò còn lại đang lặng lẽ khám mỗi người một tấm cá khô. Bài học sáng nay là phân biệt xương cá và xương chim qua độ cong đốt sống. Ai xong trước sẽ được ta cho khám một mẩu chân giò lợn để thấy khớp xương lớn.

Ta đi một vòng, dừng ở bàn thứ ba.

“Trương Thanh Lan. Xương này cong nhiều hơn cá chép. Đây là xương gì?”

Cô học trò mười lăm tuổi cúi đầu. Con gái nhà buôn phường Bắc. Vào lớp được ba tháng.

“Bẩm sư phụ. Con… con chưa biết chắc.”

“Không sao. Đoán.”

“Cá trê chăng?”

“Cá măng. Cong hơn cá trê, cứng hơn. Con nhớ mai kia đi khám xác bờ sông, thấy xương cong thế này trong dạ dày người chết, đừng nói người ấy nuốt xương chó.”

Cả năm cô học trò cúi đầu. Không ai cười. Chúng nó đã học được đúng nếp Đề Hình Ti: câu đùa của sư phụ nghe như câu răn.

Đến giờ Tỵ, cửa phòng học có tiếng gõ nhỏ.

Ba tiếng. Ngắn, đều.

Ta biết tiếng ấy. Không cần quay.

“Vào.”

Cửa đẩy nhẹ. Một cậu bé sáu tuổi bước vào. Áo bào nhỏ màu chàm, thắt lưng lụa đỏ, cổ đeo một mảnh ngọc bội hình mai. Tóc chải ba đường, chỏm giữa buộc kiểu tổng giác. Tay phải cậu bé cầm một cuốn 《Tôn Tử Binh Pháp》 mỏng đã cắt bìa lại cho vừa bàn tay nhỏ.

Lục Cát. Con trai ta. Sáu tuổi.

Ta nhìn nó, không cười. Nhưng bên trong ta nhấc lên một tấc.

“Chưa đến giờ ăn trưa. Con vào đây làm gì?”

Cát bước đến trước mặt ta, chắp tay như đã học đúng lễ Lục gia trang. Rồi nó ngẩng đầu, nhìn ta. Mắt nó tròn, đen, sáng.

“Bẩm mẹ. Cha giao bài. Con không hiểu chỗ chương ba của Tôn Tử. Cha bảo qua hỏi mẹ, mẹ giảng rõ hơn cha.”

Ta khẽ nhíu mày.

Trong lớp học nữ ngỗ tác Đề Hình Ti, ta là sư phụ. Ngoài lớp, ta là mẹ. Mười năm nay ta chưa từng cho hai vai lẫn nhau ở đây. Cát trước giờ chỉ chờ ta ở cửa Đề Hình Ti giờ tan buổi. Không bao giờ bước vào phòng học.

Nghĩa là chàng cố ý đẩy nó vào.

Ta biết chàng đang nghĩ gì. Chàng muốn Cát nhìn thấy mẹ nó đứng ở đầu phòng, mặc áo bào, dạy sáu cô học trò khám xương cá. Chàng muốn con trai chúng ta lớn lên biết mẹ nó có một việc khác ngoài chỉ là mẹ.

Ta cúi xuống trước Cát.

“Cát. Trong phòng này, con không được gọi mẹ là mẹ. Con gọi ta là Bạch sư phụ, như các cô kia. Chỉ đến khi ra khỏi cửa gỗ, con mới được gọi là mẹ. Nhớ chưa?”

Cát chớp mắt hai cái. Nó ngoan, nhưng nó thông minh. Nó hiểu ngay.

“Bẩm Bạch sư phụ. Đệ tử Lục Cát xin hỏi bài.”

Sáu cô học trò nữ ngỗ tác nghe câu ấy, có ba cô cắn môi cười khẽ, hai cô ngoảnh đầu che miệng. Thẩm Vô Y đầu bàn không cười. Nó nhìn em trai bằng ánh mắt nghiêm nghị như nhìn một cái xương gà nó chưa phân được loại.

Ta lấy trong tay áo ra một mảnh giấy dó, viết trên đó ba dòng.

“Chương ba Tôn Tử là chương ‘Mưu công’. Câu ngươi không hiểu là câu nào?”

Cát mở sách đến chương ba. Chỉ vào câu 「Bất chiến nhi khuất nhân chi binh, thiện chi thiện giả dã」.

Ta nhìn. Rồi nhìn con trai ta.

“Câu này nghĩa là: không đánh mà khiến quân địch chịu thua, ấy mới là cao thủ trong cao thủ. Cha con dạy con biết câu này để làm gì?”

Cát nghĩ một khắc. Nhíu mày.

“Để con… không dùng kiếm khi có thể nói.”

Ta gật.

“Đúng. Nhưng còn thiếu một nửa. Khi kẻ trước mặt không nghe lời, con phải làm gì?”

“Con… vẫn không đánh sao?”

“Không. Khi đó con phải đánh. Nhưng đánh sao cho một nhát xong, không hai nhát. Đó là ‘Mưu công’ hoàn chỉnh. Không đánh nếu được. Nhưng nếu phải đánh, đánh cho gọn.”

Cát cúi đầu. Chép câu ta vừa giảng vào sổ giấy dó nhỏ chàng đưa nó.

Ta nhìn nó chép, lòng ta có một khoảng nhỏ ấm lên. Cát viết chữ chưa đẹp bằng Vô Y. Nhưng nét bút của nó chắc, đè xuống giấy dó khá sâu. Giống nét chàng.

“Xong bài. Về tương phủ tìm cha. Nói ta trưa nay có công vụ, không về ăn cơm cùng. Chiều muộn ta về.”

Cát chắp tay, quay đầu, đi ra cửa.

Trước khi ra, nó ngoảnh lại, khẽ nói:

“Bạch sư phụ. Bài mẹ giảng hay hơn cha nói.”

Rồi nó chạy.

Cửa gỗ đóng. Trong phòng lớp, sáu cô học trò nữ ngỗ tác chuyển ánh mắt lại xương cá của mình. Vô Y đầu bàn cầm dao mổ nhỏ, tiếp tục tách khớp cánh gà.

Ta đứng giữa lớp. Bên trong lồng ngực có một cái gì đó vang lên nhẹ.

Không phải chuông báo giờ. Không phải chuông báo án.

Là chuông báo mùa.

Chiều muộn, mặt trời đầu thu đọng lại thành một mảng vàng nhợt trên nóc tương phủ Lục.

Ta về đến cửa lúc canh Thân. Cởi áo bào ngoài, đưa cho Bích Đào. Bích Đào giờ đã hai mươi sáu tuổi, không còn là cô bé chạy vặt của dì nàng Diệp Nương. Nàng làm quản gia tương phủ, chỉ đứng dưới ta và chàng.

“Phu nhân. Trên bàn viết có ba cuộn tấu.”

Ta gật, đi thẳng vào thư phòng.

Thư phòng riêng của ta ở phía Đông tương phủ. Bàn viết kê sát cửa sổ, hướng ra một khoảnh vườn nhỏ trồng ba cây mai và một bụi trúc. Đêm đầu thu, gió qua trúc kêu xạc xào như tiếng bút dao gõ vào giấy dó. Trên bàn viết, có một nghiên mực đen bằng đá Duyên Xuyên, hai cây bút lông tinh nhỏ, một cây bút mực đỏ ta dùng riêng để chấm sổ án.

Bên phải nghiên mực, có một tập giấy dó dày. Bìa ngoài không đề tên. Ta chưa đề. Đây là bản thảo cuốn sách thứ ba của ta.

Cuốn thứ nhất tên 《Ngỗ Tác Học Cơ Bản》. Ba trăm hai mươi trang. Viết trong hai năm sau đại hôn. Giáo trình đại cương.

Cuốn thứ hai tên 《Cửu Loại Trúng Độc Chú Giải》. Bốn trăm sáu mươi trang. Viết trong ba năm tiếp theo. Chín loại độc thường gặp ở Đại Tống: thạch tín, cà độc dược, tơ nấm, mật cóc, dầu tre khô, mực ô đầu, kim loại hoà rượu, khói than kín phòng, hạt trứng cá độc.

Cuốn thứ ba, ta vẫn đang viết. Đã sáu năm.

Tên tạm gọi: 《Bạch Vô Y Ngỗ Tác Học Cao Cấp》.

Ta ngồi xuống trước bàn. Mở tập bản thảo ra. Đọc lại đoạn ta chép đêm qua. Chương mới là chương “Phục dựng khuôn mặt qua đầu lâu”. Kỹ thuật ta mang từ kiếp trước sang. Kiếp này không ai làm được ngoài ta. Ta viết ra để mai kia có ai làm được.

Chấm mực đen. Cầm bút. Viết tiếp.

「Đầu lâu người trưởng thành gồm hai mươi hai mảnh xương. Trong đó tám mảnh có thể phục dựng kiểu mặt qua độ cong. Ba mảnh còn lại phụ thuộc tuổi. Ngỗ tác học nên nắm rõ chỗ khớp giữa xương gò má và xương thái dương. Chỗ này bằng nào, mắt bằng nấy. Chỗ này lệch chừng nào, mắt lệch chừng nấy.」

Ta viết được nửa cột thì cửa thư phòng có tiếng gõ.

Ba tiếng. Ngắn, đều.

Nhưng lần này không phải Cát. Vì có tiếng bước chân của một người phụ nữ nhỏ giọng đi sau. Ta biết đó là ai trước khi cửa mở.

“Diệp tỷ. Vào.”

Cửa đẩy. Diệp Nương bước vào. Tay ôm một chiếc hộp gỗ mun đỏ cỡ nửa cẳng tay, được buộc dây gai vàng cẩn thận.

Diệp Nương giờ ba mươi hai tuổi. Đã hai con. Tiệm ngân trang phường Nam của nàng giờ có tám thợ, chuyên đúc trâm bạc và vòng hạt châu cho tương phủ các nhà lớn. Nhưng đêm nay Diệp Nương không đến bàn chuyện tiệm.

“Yên.” Nàng đóng cửa lại sau lưng, hạ giọng. “Ta đến giao thư. Không phải một, mà tất cả.”

Ta đặt bút xuống.

Diệp Nương đặt hộp gỗ mun đỏ lên bàn, tháo dây gai vàng. Nắp hộp mở. Bên trong xếp đầy thư. Không phải mười, không phải hai mươi. Ta đếm nhanh bằng mắt: ít nhất một trăm.

Thư gấp đôi, giấy dó vàng nhạt, đóng dấu son đỏ nhỏ ở góc. Mỗi phong có ghi ngoài một tên và một địa danh.

Ta nhặt phong trên cùng. Đọc.

“Đệ tử Cố Uyển Chi, kính bái Bạch sư mẫu. Hàng Châu Đề Hình Ti.”

Nhặt phong tiếp.

“Đệ tử Từ Nghi Thư, kính bái Bạch sư mẫu. Kim Lăng Đại lý tự phân sở.”

Nhặt phong tiếp.

“Đệ tử Diêu Ngọc Linh, kính bái Bạch sư mẫu. Lâm An phủ nha.”

Ta lật thêm, thêm. Tên khác nhau, phủ khác nhau. Đêm thu ngoài cửa sổ có gió, giấy dó trong hộp lay khẽ như một đàn bươm bướm khô.

“Bao nhiêu?” Ta hỏi. Giọng ta bình. Nhưng bàn tay ta đặt trên nắp hộp đã run một cái nhẹ.

“Ta đếm ba lần. Hai trăm lẻ ba.” Diệp Nương ngồi xuống ghế đối diện. “Diệp tỷ đi gom mất mười ngày. Kỵ mã từ Hàng Châu, Kim Lăng, Lâm An, Thành Đô, Giang Ninh, mười một phủ. Ai cũng gửi. Chậm nhất Thành Đô, sớm nhất Hàng Châu.”

Ta cầm một phong Thành Đô, mở ra.

Trong phong có một tờ giấy dó vuông, viết bằng bút lông mảnh. Nét chữ nữ, gọn.

「Đệ tử Cẩm Tri Ninh, mười chín tuổi, Thành Đô Đề Hình Ti phân sở. Đọc 《Ngỗ Tác Học Cơ Bản》 của sư mẫu năm mười lăm tuổi, xin cha vào lớp học ngỗ tác nữ Thành Đô năm mười sáu tuổi. Cha ngăn ba lần, đọc sách sư mẫu ba đêm liền, cha bằng lòng. Đệ tử làm ngỗ tác nữ chính thức đã hai năm. Trong hai năm phá được sáu vụ. Bốn vụ nhờ sách sư mẫu chương bốn, hai vụ nhờ chương chín. Đệ tử đêm nay gửi thư này để lạy sư mẫu. Không dám xin gì. Chỉ xin sư mẫu biết: ở Thành Đô, dưới ánh đèn dầu, có một nữ ngỗ tác đang cầm dao mổ khoa mà không sợ. Đó là công của sư mẫu.」

Ta đọc xong. Đặt tờ giấy xuống.

Trong lồng ngực ta có một thứ dâng lên. Không phải chuông. Không phải trống. Là hơi. Một hơi ấm trồi lên từ dưới xương ức. Không đau. Không nghẹn. Chỉ ấm.

Ta lật phong khác. Thư từ Kim Lăng.

「Đệ tử Từ Nghi Thư… phá vụ trẻ em bị đẩy xuống hồ, không phải đuối nước tự nhiên. Chép công thức khám phổi của sư mẫu trang một trăm hai. Kẻ giết là cha kế đứa trẻ. Đã ra chỉ đền tội.」

Lật phong khác. Hàng Châu.

「Đệ tử Cố Uyển Chi… phá vụ nữ nhân treo cổ trong buồng khoá. Áp dụng chương ‘Cơ thịt cứng theo canh giờ, đối chiếu hàn khí thân xác’ của sư mẫu. Không phải tự sát. Là chồng đầu độc.」

Lật phong khác. Lâm An.

「Đệ tử Diêu Ngọc Linh… phá vụ cụ già chết bệnh trong tương phủ đại thần. Không phải bệnh. Là thuỷ ngân trong đèn dầu bốc hơi lâu ngày. Chép công thức khám gan của sư mẫu chương bảy…」

Ta đọc bốn phong. Đặt xuống. Ngẩng lên nhìn Diệp Nương.

Diệp Nương đang ngồi im. Trong tay nàng có một chiếc khăn tay lụa trắng. Nàng chưa dùng, chỉ nắm.

“Yên.” Nàng nói. “Mười năm trước đêm ta may cho ngươi sợi dây vải giấu ngực đầu tiên, ta không nghĩ có ngày ta đến đưa ngươi hai trăm lẻ ba tờ giấy này. Ta chỉ nghĩ ngươi sống được là đủ.”

Ta cúi mắt xuống hộp gỗ mun đỏ.

Hai trăm lẻ ba tờ.

Không phải hai trăm lẻ ba học trò. Là hai trăm lẻ ba lồng ngực đang đập dưới áo bào nữ ngỗ tác, ở mười một phủ Đại Tống. Là hai trăm lẻ ba tay đang cầm dao mổ khoa trong đêm đèn dầu. Là hai trăm lẻ ba giấc mơ mà mười năm trước ta chưa cho phép mình mơ.

Ta hít nhẹ.

“Tre già măng mọc.” Ta khẽ nói. Ba chữ ấy ta chép trong đầu từ lâu, chưa từng nói ra. “Diệp tỷ. Mười năm trước ta nói câu đầu tiên với vua trên bậc ngọc Tử Thần điện: xin cho phụ nữ sau này được cầm dao mổ. Không phải cho ta. Cho những người đến sau. Đêm nay, những người đến sau đã đến.”

Diệp Nương gật. Nàng vẫn không lau khoé mắt. Ta cũng không lau. Ta chưa bao giờ khóc trước Diệp Nương. Đêm nay ta không bắt đầu.

Ta đóng nắp hộp gỗ mun đỏ. Đặt lên góc bàn viết. Ngay bên cạnh nghiên mực đen.

Diệp Nương đứng dậy, chắp tay khẽ, đi ra. Nàng biết đêm nay ta không cần bạn nói. Ta cần một khoảng im.

Cửa thư phòng đóng.

Ngoài cửa sổ, tiếng trúc đã ngừng xạc xào. Gió tắt. Mặt trời đầu thu đã lặn hết sau nóc tường Đông. Bầu trời còn giữ lại một vệt hồng nhạt, mảnh như một dòng chỉ lụa.

Ta ngồi trước bàn viết. Không đọc thư nữa. Chỉ nhìn hộp gỗ mun đỏ.

Trong tay áo trái, ta chạm vào một vật quen. Chiếc quạt lụa gấp cha để lại. Ta mang nó suốt mười tám năm kiếp này, từ ngày trọng sinh trong nghĩa trang cửa Nam đến đêm nay. Sáu năm giả nam. Ba tháng đại hôn. Mười năm làm phu nhân kiêm ngỗ tác chính danh. Chiếc quạt vẫn cũ, chỉ ố thêm một chút.

Ta rút quạt ra. Mở nhẹ. Trên nan tre trong cùng, chữ khắc mờ hai chữ cha để lại từ ngày ta chưa trọng sinh: Chờ ta.

Cha ta chờ ta. Chờ ta trọng sinh về. Chờ ta cầm dao mổ. Chờ ta viết được cuốn sách người khác đọc mà sống được.

Đêm nay ta trả cha câu chờ đó.

Cửa thư phòng có tiếng gõ.

Ba tiếng. Ngắn, đều.

Không phải Cát. Không phải Diệp Nương. Ta biết bước chân ấy hơn tất cả các bước chân trên đời.

“Chàng.” Ta nói khẽ.

Cửa đẩy.

Chàng bước vào.

Áo bào chàm sẫm mặc nhà, tóc buộc đơn. Tay trái vẫn đeo chiếc hộ oản gỗ đen mười ba năm không tháo. Trên tay phải cầm một chén trà nhỏ, khói mỏng.

Chàng đặt chén lên góc bàn ta, cạnh hộp gỗ mun đỏ.

Rồi chàng không ngồi đối diện. Chàng đi vòng ra sau lưng ta. Đặt hai bàn tay lên hai bên vai ta, không nặng, không nhẹ. Vừa đủ để ta cảm được da tay chàng qua lớp áo lụa mỏng.

“Diệp Nương đã cho ta xem một phong ngoài cổng.” Chàng nói. Giọng chàng đêm nay trầm hơn thường lệ. “Hai trăm lẻ ba, phải không?”

Ta gật.

Chàng im một khắc.

“Mười năm trước, ta ngỡ ta cưới một nữ ngỗ tác chính danh đệ nhất.” Chàng nói. “Đêm nay ta phát hiện ta cưới nhầm.”

Ta khựng nửa nhịp.

Chàng cúi thấp đầu, ghé sát tai ta. Không phải hôn. Chỉ ghé.

“Ta cưới một người mà mười năm sau trở thành sư mẫu của hai trăm lẻ ba nữ ngỗ tác Đại Tống. Ta không tính trước. Ta chỉ tính cưới được ngươi là đủ. Ai ngờ ngươi lãi gấp trăm.”

Ta bật cười. Một tiếng nhẹ. Không lớn.

Chàng chưa từng nói câu đùa nào trong mười năm nay. Đêm nay chàng nói câu đầu.

Ta ngước lên. Đầu ta chạm nhẹ vào cằm chàng.

“Chàng.” Ta nói. “Đêm nay ta viết xong chương phục dựng khuôn mặt. Sáng mai ta bắt đầu chương cuối cùng.”

“Chương cuối cùng ngươi định viết gì?”

Ta nhìn hộp gỗ mun đỏ.

Nhìn nghiên mực đen. Nhìn cây bút mực đỏ ta dùng chấm sổ án suốt mười năm nay. Bút mực đỏ ấy đã chấm không biết bao nhiêu tờ giấy dó. Đóng không biết bao nhiêu vụ án. Cứu không biết bao nhiêu người sống. Trả lời không biết bao nhiêu vụ oan.

Ta nhìn ngoài cửa sổ. Trời đã tối. Sao đầu thu vừa hiện lên bên trên nóc tường Đông. Một ngôi. Rồi hai. Rồi ba.

Ta đáp.

“Chương cuối cùng, ta viết chương truyền nghề. Không viết cho ngỗ tác đọc. Viết cho người đến sau của ngỗ tác đọc.”

Chàng gật. Hai bàn tay chàng vẫn đặt trên vai ta. Không rời.

“Tên chương là gì?”

Ta cầm bút mực đỏ lên. Nhấc một tờ giấy dó trắng. Chấm mực. Viết ba chữ ngay giữa trang.

Nét bút đỏ, dày, đè xuống giấy dó khá sâu, giống nét chàng dạy Cát viết sáng nay.

Ba chữ.

Bạch Vô Y.

Ta đặt bút xuống.

Chàng nhìn ba chữ trên giấy dó rất lâu.

Rồi chàng cúi xuống, đặt môi lên đỉnh tóc ta. Không lâu. Chỉ một khắc.

“Yên.” Chàng nói khẽ. “Mười năm trước ngươi bảo ta cưới cả ba tên của ngươi: Yên, Thẩm ngỗ tác, Bạch Vô Y. Đêm nay ta thấy tên thứ tư của ngươi vừa hiện ra: sư mẫu. Ta cưới thêm tên này nữa.”

Ta cười. Không thành tiếng. Chỉ nhếch khoé môi.

Bên ngoài cửa sổ, gió đầu thu bắt đầu lại, luồn qua bụi trúc. Xạc xào. Xạc xào. Giống tiếng dao mổ khoa gõ vào bàn gỗ trong lớp học nữ ngỗ tác Đề Hình Ti. Giống tiếng bút mực đỏ gạch xuống sổ án cuối canh Tý. Giống tiếng hai trăm lẻ ba nữ ngỗ tác đang cầm dao mổ khoa dưới đèn dầu ở mười một phủ Đại Tống, đêm nay, khoảnh khắc này.

Gừng càng già càng cay. Mười năm trước ta nói bảy chữ trước ngai vàng: xin cho phụ nữ sau này được cầm dao mổ. Đêm nay bảy chữ ấy đã lên đến hai trăm lẻ ba lồng ngực.

Ta đóng tập bản thảo lại. Đặt lên hộp gỗ mun đỏ. Chàng vẫn đứng sau lưng ta, hai tay không rời khỏi vai. Trước mặt ta, chén trà chàng mang tới đã bốc khói mỏng thành sương. Sương lên chầm chậm. Chầm chậm.

Kiếp trước ta chết trong phòng giải phẫu Sài Gòn với dao đâm sau lưng. Đêm nay ta ngồi trong thư phòng Biện Kinh với bàn tay chàng đặt trên vai.

Từ dao lạnh sau lưng đến bàn tay ấm sau vai. Ta đã đi hết một vòng.

Trên bàn viết, ba chữ mực đỏ vẫn còn ướt.

Bạch Vô Y.

Không phải bút danh nữa. Là chương cuối.