Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh

Chương 43: Vụ Án Cuối Cùng Của Yên

Canh sáu, sương chưa tan.

Tương phủ mở cửa sớm. Ta đứng bên án viết trong thư phòng, một tay chấm bút, một tay đè giấy. Con gái Vô Y còn ngủ trong nội đường, bà vú đưa võng khe khẽ. Ngoài sân, chim khách hót một tiếng ngắn rồi im.

Chàng bước vào, tay cầm chén trà nóng. Đặt trước mặt ta.

“Hôm nay ngươi có việc ở Đề Hình Ti?” chàng hỏi.

“Buổi chiều.” Ta chấm bút xuống nghiên. “Sáng có lớp giảng cho tám học trò. Bài về xương gãy trước và sau khi chết.”

Chàng gật đầu. Đặt tay lên vai ta một cái. Áo còn hơi nước lạnh của canh sáu, bàn tay chàng ấm hơn.

Cửa ngoài có tiếng gõ.

Thị vệ vào bẩm. Đại lý tự gửi thư khẩn, xin phiền Thẩm ngỗ tác qua một chuyến.

Ta ngẩng đầu nhìn chàng. Chàng cũng nhìn ta.

“Vụ án?”

“Chủ sự Bộ Hộ tứ phẩm Ngưu Hải chết trong lúc uống thuốc,” thị vệ đáp. “Gia đình gọi thầy lang khám bệnh, uống ba vị xong ho ra máu, chết ngay tại chỗ. Vợ Ngưu chủ sự kiện thầy lang giết chồng, đòi xử trảm.”

Ta gấp bản thảo giáo trình lại, đè lên chặn giấy bằng con dấu ngọc. Đứng dậy.

Chàng nhìn ta.

“Ngươi vừa nói tháng trước là không nhận vụ án mới nữa.”

“Ta nhớ.” Ta lấy tấm áo choàng ngoài từ mắc, khoác lên. “Nhưng thầy lang trẻ tuổi, chưa vợ chưa con. Vợ Ngưu chủ sự có thế lực bên ngoại. Nếu ta không đi, mai người ta chém oan.”

Chàng im một giây.

“Đi thôi. Ta đưa ngươi.”

Ngựa chạy hai canh khắc thì đến. Đại lý tự vẫn như tám năm trước ta bước vào lần đầu, chỉ khác trước cửa nay có thêm một tấm biển gỗ nhỏ khắc bốn chữ: “Nữ ngỗ tác đường”. Chữ vàng còn mới, mực chưa mờ.

Ngưu phủ ở phường Bắc, không xa nghĩa trang cửa Nam bao nhiêu. Sương từ Biện Hà thổi qua, lạnh cắt da.

Thi thể Ngưu Hải để trong phòng khách, gia đình đã lau qua nhưng chưa liệm. Ta bảo họ mở áo. Nữ chủ nhà, phu nhân Ngưu Hải, đứng khóc lóc ở một bên, tay chỉ vào một người trẻ tuổi đang bị trói ở góc phòng.

“Chính hắn,” bà ta gào. “Hắn hại chồng ta. Xin đại lý tự chém đầu hắn ngay đi.”

Người bị trói còn trẻ, cỡ mười chín hai mươi. Áo lam thầy lang, tay cầm hộp thuốc. Mặt trắng nhợt như xác. Không kêu oan, không cãi, chỉ ngồi bệt xuống đất mà run.

Ta không nhìn hắn ngay. Ta cúi xuống bên thi thể trước.

Ngưu Hải khoảng năm mươi tuổi. Mập, bụng lớn, tay chai. Một quan tứ phẩm nhàn rỗi trong Bộ Hộ. Ta rút quạt lụa gấp cũ trong tay áo ra, phất một cái, mùi thối trong phòng bị đẩy lui ra sau.

Da mặt Ngưu Hải hồng nhạt kỳ lạ, môi tím thẫm. Khoé miệng còn dính một vệt máu đã đen, khô lại thành lớp mỏng.

Ta cầm cằm hắn, mở khoang miệng ra. Đèn dầu đưa gần. Niêm mạc lợi có viền xám nhạt như tro. Lưỡi có mảng trắng bạc, xoè ra từng mảng nhỏ như rêu bám chậu sành.

“Cho ta chậu nước sạch.” Ta ngẩng đầu. “Với khăn vải trắng, không có thuốc nhuộm.”

Bích Đào, giờ đã hai mươi mốt tuổi, đã theo ta tám năm học nghề, gật đầu đi ngay.

Ta khám tiếp. Bụng Ngưu Hải mềm, không cứng như xác đã qua canh giờ đầu. Cơ tay còn giữ được độ mềm, nghĩa là chết chưa quá một canh giờ. Ta bấm nhẹ vào ngực, nghe nếp sườn, không có xương gãy. Nghĩa là không phải bị đánh.

Chàng đứng bên cửa, khoanh tay, không xen vào.

Bích Đào bưng chậu nước tới. Ta rửa niêm mạc miệng Ngưu Hải bằng khăn ướt. Khăn trắng nhuộm lên một lớp xám đen. Ta đưa khăn ra ánh sáng đèn.

“Kim loại.” Ta hạ giọng. “Không phải khí độc. Không phải máu. Là bột kim loại đã bám vào lớp niêm mạc miệng, chờ nước bọt hoà tan mới thấm xuống.”

Chàng bước tới một bước.

“Loại nào?”

“Chưa dám chắc. Cần xem thuốc hắn uống buổi sáng.”

Ta quay sang phía thầy lang trẻ bị trói. Đến giờ mới nhìn hắn kỹ. Tay hắn còn cầm chặt cái hộp thuốc, chưa buông. Ta bảo thị vệ cởi trói, để hắn tự đưa hộp.

Hắn đưa hai tay, run bần bật.

“Bẩm… bẩm đại nhân. Tại hạ họ Tô, tên Nhất Phong. Học nghề với sư phụ ở Đường Y Quán cũ, đã đi hành nghề riêng được hai năm. Sáng nay Ngưu phu nhân gọi đến khám ho khan. Tại hạ kê ba vị…”

Ta mở hộp thuốc ra.

Bên trong có ba gói giấy vàng, đề tên bằng chữ đá thảo nhỏ. Ta cầm từng gói mở ra.

Gói một: cam thảo. Vị ngọt, dùng dẫn thuốc.

Gói hai: huyền sâm. Đúng vị chữa ho khan.

Gói ba: một loại bột đỏ hồng, hạt mịn.

Ta cầm chút bột trong lòng bàn tay, đưa gần đèn.

“Chu sa?” ta hỏi.

Tô Nhất Phong ngẩng đầu. Gật.

“Bẩm phải. Là chu sa. Vì Ngưu chủ sự bảo đêm mất ngủ, tại hạ kê chu sa an thần, một liều nhẹ ba phân…”

Ta im. Chàng đứng bên đưa mắt sang ta, cũng im.

Chu sa. Trong Đông y, dùng an thần, thanh tâm. Nhưng chu sa là thứ do người đời cổ nghiền từ đá hồng chứa thuỷ ngân. Kiếp trước ta đã đọc trong sách hoá dược, cái tên chính xác của nó là thuỷ ngân sulfua, chất mà nếu gặp phèn chua hoặc muối kim loại khác thì phân giải ra thuỷ ngân tự do. Thuỷ ngân tự do vào ruột, ba khắc đủ giết một người mập.

Ta nhìn Tô Nhất Phong.

“Ngươi kê ba vị đó. Có kê thêm ngoài ba vị này không?”

Hắn lắc đầu.

“Vậy Ngưu chủ sự có tự mua thuốc khác không?”

Tô Nhất Phong ngẩn ra.

“Bẩm… tại hạ không biết. Nhưng khi tại hạ tới sáng nay, trên bàn Ngưu chủ sự đã có một chén nước đã uống dở. Chén màu nâu.”

Ta quay sang phu nhân Ngưu Hải. Bà ta còn khóc, mắt đỏ hoe.

“Phu nhân. Sáng nay Ngưu chủ sự uống gì trước khi thầy lang tới?”

Bà ta lau nước mắt.

“Chồng ta… ta không rõ. Chồng ta hay uống rượu ngâm buổi sáng. Bảo là rượu thuốc cường thân.”

“Rượu ngâm gì?”

“Ta… ta không biết. Chồng ta tự ngâm.”

Ta đứng dậy.

“Bích Đào, đi lấy bình rượu ngâm của Ngưu chủ sự. Cẩn thận, đừng làm đổ.”

Bình rượu ngâm nằm trong tủ nhỏ đầu giường Ngưu Hải. Sành men xanh, cổ dài. Bích Đào bưng ra, đặt trên bàn.

Ta mở nắp. Mùi nồng của rượu gạo trộn với một mùi hắc khó tả xộc lên. Bên trong ngoài rượu còn có một tảng đen như đá, một nắm rễ nâu, và một chút bột trắng lấp lánh.

Ta không đụng bằng tay. Ta lấy quạt lụa gấp cũ trong tay áo ra, gạt bột trắng ra một góc, đưa gần đèn.

Bột trắng có ánh sao trong.

“Phèn chua.” Ta ngẩng lên. “Ai bảo Ngưu chủ sự bỏ phèn chua vào rượu?”

Phu nhân ngưng khóc.

“Cường thân… không phải là cường thân sao? Chồng ta bảo phèn chua bỏ vào rượu ngâm mấy vị bổ thận… là thầy lang ở phường Đông chỉ…”

“Thầy lang nào?”

“Một thầy lang già… đến bán rong sáng nào cũng qua.”

Ta cầm quạt lụa gấp lại, đút vào tay áo. Nhìn chàng.

“Đại nhân. Có thể mời phu nhân ra ngoài để hạ quan hỏi Tô lang trung một câu?”

Chàng gật đầu, ra hiệu thị vệ đưa phu nhân qua phòng bên.

Khi cửa đóng, ta ngồi xuống trước mặt Tô Nhất Phong.

“Chu sa ngươi kê, ngươi cân bằng cân của mình hay của tiệm thuốc?”

“Bẩm… cân của tại hạ. Ba phân đúng.”

“Ngưu chủ sự uống nguyên gói này, hay chia ra?”

“Tại hạ dặn sắc trong ấm đất, ba chén nước còn một, uống nóng.”

“Ngươi có dặn kỵ gì không?”

Hắn ngẩn.

“Kỵ…”

“Kỵ.” Ta giọng lạnh xuống một bậc. “Chu sa kỵ phèn chua, kỵ muối, kỵ sắt. Ngươi học sách nào mà không nhớ điều này?”

Tô Nhất Phong mặt tái ngắt. Ú ớ không nói được.

“Ngươi không dặn.” Ta thở ra một hơi. “Ngưu chủ sự uống thuốc ngươi kê xong, uống thêm một chén rượu ngâm phèn chua. Chu sa và phèn chua gặp nhau trong ruột, tách ra thuỷ ngân tự do. Thuỷ ngân tự do đầu độc mạch máu, làm nứt niêm mạc, ho ra máu, chết trong chưa đầy một canh giờ.”

Chàng đứng bên vách, khẽ nhắm mắt.

Tô Nhất Phong quỳ sụp xuống đất, chân tay bủn rủn.

“Xin đại nhân… xin đại nhân xử trảm tại hạ. Tại hạ tội chết. Sư phụ tại hạ có dặn nhưng tại hạ quên mất…”

Ta không đáp ngay. Nhìn hắn một hồi.

“Ngươi có cố ý giết Ngưu Hải không?”

Hắn ngẩng đầu, mắt đỏ.

“Không. Bẩm đại nhân, tại hạ thề trên đầu sư phụ, tại hạ chưa từng nghĩ…”

“Ngươi có biết trước Ngưu Hải uống rượu ngâm phèn chua không?”

“Không.”

“Ngươi có nhận tiền của ai để giết Ngưu Hải không?”

“Không.”

Ta đứng lên. Phất tay áo, tấm áo choàng ngoài đen mở ra một cái rồi rủ xuống.

“Đại nhân.” Ta quay sang chàng. “Đây không phải án giết người. Đây là ngộ nhận thuốc. Tô lang trung có lỗi vì quên dặn kỵ, đáng phạt. Nhưng không đáng chém.”

Chàng gật.

“Ngươi kết án thế nào?”

Ta suy nghĩ một khắc.

“Tước giấy hành nghề ba năm. Trong ba năm phải học lại ở tiệm thuốc lớn, có sư phụ giữ. Bồi thường Ngưu phủ ba mươi lượng bạc, dùng làm tiền phúng viếng và dạy con Ngưu chủ sự đọc sách. Nếu ba năm sau ngươi đủ trình độ, quan phủ mới cấp lại giấy.”

Tô Nhất Phong khóc oà, dập đầu ba cái.

Ta quay đi. Không muốn nhìn.

Cái nghề này, gieo gió gặt bão, không phải cứ ác mới ra tội. Có khi chỉ vì quên một câu dặn, người khác đã mất mạng.

Buổi chiều ta không kịp về Đề Hình Ti dạy lớp. Bích Đào chạy đưa tin cho học trò tự luyện, mai bù buổi.

Ta ngồi trong phòng ngỗ tác cũ ở Đại lý tự để viết báo cáo. Phòng này tám năm trước ta bước vào lần đầu, khi Lục Vô Ngạn chỉ tay xuống một xác ăn xin và bảo ta xem. Bây giờ bàn viết đã đổi, ghế đã đổi. Chỉ có ngọn đèn dầu vẫn cùng loại, thứ dầu vẫn cùng mùi.

Ta viết đến cuối bản báo cáo, đặt bút xuống. Cầm giấy đọc lại một lần.

Nét chữ ta bây giờ so với tám năm trước, tay đã vững hơn. Kiếp trước ta cầm dao mổ. Kiếp này ta cầm bút mực đỏ.

Ta lấy con dấu bằng ngọc mà chàng khắc riêng cho ta, con dấu có ba chữ “Thẩm Vô Y” theo bút danh chàng đặt, đóng xuống góc dưới.

Đóng xong, ta không đứng dậy.

Chàng đẩy cửa vào, tay cầm hai chén trà nóng.

“Đêm rồi. Ăn cơm chưa?”

Ta lắc đầu.

“Đại nhân.” Ta gọi. Vẫn xưng như tám năm trước, dù giờ ta là phu nhân chàng. “Ta muốn thưa một chuyện.”

Chàng đặt chén xuống bàn. Ngồi đối diện ta.

“Nói đi.”

Ta hít một hơi.

“Đây là vụ án cuối cùng của ta. Từ hôm nay ta xin nghỉ điều tra. Chỉ giảng dạy, viết sách. Không nhận vụ mới nữa.”

Chàng im. Nâng chén trà lên, uống một ngụm nhỏ.

“Vì sao?”

“Ba lý do.” Ta đếm trên đầu ngón tay. “Một, Vô Y đã sáu tuổi rưỡi. Con muốn nghe mẹ kể chuyện tối. Kể chuyện tối phải có mẹ ở nhà. Ta đã lỡ nửa năm rồi. Hai, học trò của ta có tám người, sang năm có mười hai. Ta phải viết cho xong sách giáo trình. Ba…”

Ta dừng.

Chàng nhìn ta chờ.

“Ba, mẹ nuôi ta trước khi mất, cầm tay ta bảo: ‘Yên tử, nghề này không cứu được người sống, chỉ trả oan cho người chết. Con làm đủ rồi. Về sau nếu có ai làm thay được con, con lui.’ Ta còn cứng cỏi, chưa muốn nghe. Nhưng hôm nay ta biết mẹ nói đúng. Học trò ta đã có thể tự khám. Ta có thể lui.”

Chàng đặt chén xuống. Đưa tay qua bàn, nắm tay ta.

Bàn tay chàng còn ấm.

“Tốt.” Chàng khẽ nói. “Ta đã đợi ngươi tự nói ba năm rồi.”

Ta ngẩng đầu.

“Chàng biết ta sẽ lui?”

“Từ đêm ngươi sinh Vô Y.” Chàng cười khẽ, nếp nhăn ở khoé mắt hằn thêm một chút. “Ngươi bế con nhìn ta bảo ‘kiếp này ta có gia đình’. Ta biết ngươi sẽ dừng khi đúng lúc. Ta chỉ đợi.”

Ta nhìn chàng. Không đáp. Chỉ để tay mình trong tay chàng.

Ngoài cửa Đại lý tự, sương đêm đã dày đặc. Đèn dầu treo hiên rung nhẹ trong gió.

Ba ngày sau, Đại lý tự tổ chức tiệc tiễn.

Ta không muốn phô trương, nhưng chàng bảo đây không phải cho ta, đây cho tám mươi bảy thị vệ, hai mươi mốt ngỗ tác, mười lăm quan lại cấp dưới đã cùng ta làm việc tám năm. Họ có quyền tiễn.

Sân trước Đại lý tự trải chiếu, đặt bàn dài. Bích Đào đứng đầu bàn học trò, tay cầm chén rượu. Mười một cô nữ nhân trẻ tuổi, tuổi từ mười sáu đến hai mươi bốn, tất cả đều mặc áo lam của Đề Hình Ti. Sau lưng họ là biển gỗ “Nữ ngỗ tác đường”.

Ta bước ra, không mặc áo quan, chỉ mặc áo nữ màu lụa xám nhạt như sương buổi sớm. Trên đầu một cây trâm bạc hoa mai, kỷ vật ngày lộ giới tính, cài đơn giản.

Chàng đi bên. Cũng không mặc giáp, chỉ một tấm áo lụa xanh sẫm.

Vương Ngự sử đứng dậy trước, nâng chén.

“Thẩm phu nhân. Kính người một chén. Người bắt Trương Nguyên Chương, mở đường cho phụ nữ Đại Tống được hành nghề. Ơn này ta ghi trong lòng.”

Ta nâng chén, uống cạn.

Từng người từng người tới. Ngỗ tác cũ mà ta đã cùng làm việc chín tháng đầu, một ông già ngày trước từng khó chịu vì ta trẻ hơn con hắn, giờ ông ta cúi đầu:

“Thẩm phu nhân. Lão trước sai. Xin phu nhân uống chén này của lão.”

Ta uống.

Cứ thế đến khi cả sân đã uống một lượt.

Đến chén cuối cùng là học trò. Bích Đào đứng lên, bưng chén hai tay.

“Sư phụ.” Giọng cô ta run. “Từ hôm nay chúng con thay sư phụ ở Đề Hình Ti. Sư phụ đã dạy chúng con tám năm. Chúng con hứa…”

Cô ngừng, chấm chấm mắt bằng khăn.

“Chúng con hứa nếu có xác nào không rõ nguyên nhân, chúng con không kết án cho xong. Chúng con sẽ khám đến khi thấy được sự thật. Như sư phụ đã dạy chúng con.”

Ta nâng chén.

“Trắng đen phải rõ. Ta chỉ dạy các con điều này. Còn lại các con tự đi. Đi được xa bao nhiêu là do các con.”

Chén cạn.

Khuya. Tiệc tan. Chàng đưa ta về tương phủ.

Ngựa đi chậm dưới đèn dầu treo hiên các phố. Sương xuống. Ta ngồi phía sau chàng, một tay ôm eo chàng, một tay đặt lên áo chàng nơi vai. Vết sẹo dao đâm năm nào của chàng ở đó, giờ đã mờ, chỉ còn một đường lằn dài.

Về đến cửa tương phủ, bà vú đứng đợi. Vô Y đã ngủ.

Vào thư phòng, trên bàn có một tờ thư niêm phong bằng ấn ngọc màu đỏ. Ấn của vua.

Chàng đưa mắt sang ta.

“Vua gửi lúc chiều. Ta chưa mở.”

Ta cầm thư. Cắt niêm phong bằng lưỡi dao ngọc nhỏ. Mở ra.

Chữ vua tự tay viết, không phải chữ thư quan. Nét chữ già hơn ta nhớ ba năm trước. Vua sáu mươi tám tuổi rồi.

“Thẩm Yên,

Ta nghe ngươi lui. Ta không giữ. Người biết dừng đúng lúc là người biết đi đường xa.

Tám năm trước ta phá lệ cho ngươi hành nghề, không phải vì thương ngươi. Vì ta cần một người khám xác không sợ. Tám năm sau ta không giữ ngươi lại, không phải vì ta hết cần. Vì ngươi đã dạy được người khác không sợ.

Ngươi là niềm tự hào của triều Đại Tống. Đại Tống có Bao Thanh Thiên trên án, có Nữ Ngỗ Tác dưới xác. Trên và dưới đều rõ, thì trắng đen phân được.

Từ nay ngươi là Bạch Vô Y phu nhân chính thức. Tước vị này ghi vào sổ đình thần, con cháu ngươi đều hưởng. Nếu Thẩm Vô Y con gái ngươi sau này muốn nối nghề, cứ đến Đề Hình Ti tìm ta. Ta không còn ở, nhưng chỉ chỉ đã đặt sẵn.

Nghỉ ngơi. Uống trà. Kể chuyện cho con.

Vua ký.”

Ta đọc xong, không nói được.

Chàng cầm thư từ tay ta, đọc lần thứ hai. Đọc chậm hơn. Đến chỗ “Bạch Vô Y phu nhân”, chàng nhẩm khẽ hai chữ đầu.

“Bạch Vô Y.” Chàng nhìn ta. “Ngươi biết ta chọn tên bút này lúc nào không?”

“Đêm ta sinh Vô Y.” Ta đáp. “Chàng bảo ‘trắng không mang, không mặc, không sợ’.”

“Không chỉ đêm đó.” Chàng lắc đầu. “Ta chọn từ ngày ngươi bước vào Đại lý tự lần đầu. Ta thấy ngươi đứng trước xác ăn xin, không phất tay áo, không lùi. Ta đã nghĩ trong đầu, nếu người này là con gái, ta sẽ đặt bút danh cho nàng là Bạch Vô Y.”

Ta ngẩn ra.

“Chàng biết ta là con gái từ hôm ấy?”

“Không biết.” Chàng cười. “Chỉ nghĩ nếu là. Đến chương mười hai ta mới chắc. Nhưng ba chữ đó ta đã nghĩ sẵn tám năm rồi.”

Ta không đáp. Chỉ đưa tay chạm vào chữ “Bạch Vô Y” trên bức thư của vua.

Ba chữ này ta đã nghe suốt tám năm, dán trên bìa sách giáo trình, khắc trên con dấu, thêu trên áo nội. Đến hôm nay ta mới hiểu chàng đã giữ ba chữ đó bao lâu.

Ngoài cửa sổ, tuyết đầu mùa vừa bắt đầu rơi. Từng bông rơi chậm, chạm vào ngói mà không có tiếng.

Ta xếp bức thư của vua lại, đặt vào hộp gỗ nhỏ nơi ta giữ mọi thứ quan trọng: quạt lụa gấp cũ của cha, cây trâm bạc hoa mai, một mảnh vải đỏ, và bây giờ, thư của vua.

Đậy nắp hộp.

Chàng đứng sau lưng ta. Đặt cằm lên tóc ta.

“Mai ăn gì?”

“Cháo gà.” Ta đáp. “Vô Y thích.”

“Ta cũng thích.”

Ta cười khẽ. Lần đầu trong ngày.

Ngoài thư phòng, tuyết rơi dày hơn. Trong lò than sưởi, một khúc củi nổ tách một tiếng ngắn.

Nói có sách, mách có chứng, tám năm này ta đã làm đủ.

Từ mai, ta chỉ cần làm mẹ.