Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 42: Mẹ Nuôi Ra Đi
Canh năm, tuyết đầu mùa rơi mỏng trên mái ngói tương phủ. Bên trong phòng đông nam, đèn dầu vặn thấp, mùi thuốc bắc đun trong nồi đất sáu ngày liền đã ám vào rèm cửa.
Ta ngồi bên giường mẹ nuôi.
Thẩm bà bảy ngày nay không ngồi dậy được. Chân đã sưng thành khối, ấn ngón tay xuống thịt lún một đốt rồi bật lên rất chậm. Ta biết đó là phù thũng cuối, dấu hiệu tim yếu không đẩy được huyết về. Không phải bệnh lạ. Là tuổi.
Sáu mươi tám. Ở Đại Tống, sáu mươi tám đã là cao thọ. Ở kiếp trước của ta, ở Sài Gòn nơi có máy siêu âm và bơm tim nhân tạo, sáu mươi tám cũng chỉ là mở đầu tuổi già. Kiếp trước, người có triệu chứng như mẹ nuôi ta lúc này, có khi kéo dài thêm mươi năm nếu chịu điều trị.
Kiếp này ta không có máy. Ta có một nắm cỏ sen, một túi hạt táo tàu, và một cuốn dược điển ta thuộc đến độ giấy sờn.
Ta đã đun sáu ngày. Chân bà đỡ sưng hai đêm. Rồi lại sưng.
Đêm qua bà ngủ, ta ngồi bên đọc sổ tay cha. Đến canh hai, ta nghe tiếng thở bà thay đổi. Đầu tiên là nhẹ đều, sau chậm dần, có lúc bà bỏ hẳn một hơi rồi mới thở lại. Hơi thở kiểu này pháp y kiếp trước có tên riêng, gọi là hơi thở nhặt-thưa xen kẽ. Bác sĩ khoa ung bướu bệnh viện ta hồi trước hay nói: “Bệnh nhân tới lúc thở nhặt-thưa xen kẽ, chuẩn bị người nhà.”
Ta không có bác sĩ khoa ung bướu để gọi. Ta có ta.
Ta bảo Bích Đào đi mời Diệp Nương và cho gọi chàng về sớm khỏi Đại lý tự.
Bích Đào chưa kịp đi khỏi cửa, mẹ nuôi mở mắt.
“Yên tử.”
Ta cúi xuống, đặt tay dưới bàn tay bà. Ngón tay bà giờ đã khô như que củi mùa đông. Nhiệt độ dưới da chỉ còn ấm nhẹ, không phải cái ấm của người sống mạnh, mà cái ấm của một chén nước đã đặt lâu bên cửa sổ.
“Con đây, mẹ.”
Bà nhìn ta một lúc lâu. Con mắt bà đục hơn tuần trước một tầng. Ta biết đục thế này là nhân mắt đã kém, không phải khóc.
“Con đang mặc áo gì?”
Ta cúi nhìn xuống. Ta đang mặc áo lụa xanh nhạt, tay áo rộng, viền cổ có thêu vài đoá hoa mai bạc rất nhỏ. Áo Diệp Nương may cho ta năm ngoái, ta chỉ mặc trong nhà.
“Áo nữ, mẹ.”
Bà cười. Nụ cười của bà hôm nay không đến khoé miệng, chỉ đến mắt, và cũng chỉ được một tầng. Nhưng ta thấy rồi.
“Tốt. Sáu năm giả nam, sáu năm dây vải quấn ngực. Bây giờ con mặc áo nữ trước mẹ. Mẹ nhìn được lần cuối.”
“Mẹ đừng nói vậy.” Ta đưa bàn tay bà lên áp vào má ta. “Con đã đun thuốc sáu ngày. Thêm ba ngày nữa chân sẽ đỡ.”
“Không đỡ đâu con.” Bà rút tay ra, đặt lên đỉnh đầu ta. Lòng bàn tay chai. Sáu năm giặt vải nuôi ta, hai chục năm kéo bễ đun tro giặt cho hàng phường, bàn tay bà nào có chỗ mềm. “Yên tử là pháp y. Yên tử biết rõ hơn mẹ.”
Ta không đáp. Cuống họng ta chợt cứng lại thành một cục. Kiếp trước ta khám hàng trăm tử thi, kiếp này ta khám thêm mấy trăm nữa. Trước tử thi ta chưa bao giờ khóc. Bây giờ trước một người đang sống, ta không nói được một câu.
Mẹ nuôi thấy ta không nói, bà đưa tay còn lại xoa xoa mu bàn tay ta.
“Cha con Thẩm Cát năm xưa cũng thế. Trước xác chết mặt lạnh như đá, về nhà nhìn con ngủ trong nôi lại rơi nước mắt. Ngỗ tác nhà mình đều thế.”
“Con không phải con ruột cha mẹ.”
Câu này ta không định nói. Nhưng nó tự chảy ra.
Bà cười thật hơn.
“Yên tử. Mẹ bế con từ ngày con chín ngày tuổi. Mẹ cho con bú bằng cháo loãng vì mẹ không có sữa. Sáu năm mẹ giặt vải quấn ngực cho con để giữ con lại trong nhà này. Mười tám năm mẹ chờ con lấy chồng. Con không phải con ruột thì con là gì?”
Ta nắm chặt bàn tay bà. Không nói.
Ngoài cửa có tiếng chân. Bích Đào đưa Diệp Nương vào. Diệp Nương thấy mẹ nuôi đã tỉnh, mắt nàng đỏ ngay, nhưng nàng nén xuống. Nàng học được từ ta, đứng trước người sắp đi phải giữ mặt bằng.
“Diệp Nương.” Mẹ nuôi nhìn Diệp Nương. “Ta còn nợ ngươi ba xấp vải xanh.”
“Bà đừng nghĩ chuyện đó.” Diệp Nương quỳ xuống bên giường. “Bà giữ sức.”
“Yên tử.” Mẹ nuôi ngoảnh lại phía ta. “Trong hộp trang sức khảm trai dưới đáy tủ, có một túi vải nâu. Trong túi là mười lượng bạc mẹ dành. Con lấy trả Diệp Nương ba xấp vải, mua cho Bích Đào một cây trâm bạc, còn lại là của con.”
“Mẹ…”
“Nghe mẹ nói xong.”
Ta gật đầu. Cổ họng vẫn cứng.
“Con gái mẹ, Thẩm Vô Y. Con nhỏ có mắt của cha con, có tay của con. Nó sẽ theo con làm nghề. Đừng ép nó, nhưng cũng đừng cản nó. Cha con năm xưa cản mẹ đẻ con không được. Mẹ đẻ con thì mất sớm. Mẹ nuôi con thì sáu năm nay không cản con. Bây giờ đến lượt con, cũng đừng cản Vô Y.”
“Con không cản.”
“Còn một chuyện.” Bà nhìn ta lâu. “Mẹ nghe Bích Đào nói, có nho sinh viết văn bảo con là phụ nữ không nên biết chuyện xác chết.”
Ta cúi mặt.
“Con đã đáp trên báo cáo triều đình rồi. Nam nữ đều chết. Xác không phân biệt giới.”
“Câu đó của con hay lắm.” Bà thở ra. Hơi thở lại nhẹ đều một chút. “Mẹ không biết chữ, nhưng câu đó Bích Đào đọc mẹ nghe hai lần. Mẹ hiểu. Con đáp thay mẹ. Mẹ suốt đời giặt vải cho hàng phường, ai cũng khinh, mẹ không đáp được. Con đáp được. Mẹ mãn nguyện.”
Ta cúi thấp hơn nữa. Trán ta chạm mép giường.
Mẹ nuôi đặt tay lên đầu ta.
“Yên tử. Đi kêu chàng về đi. Mẹ không đợi được đến trưa.”
…
Chàng về nửa canh giờ sau. Không thay áo triều, cứ mặc nguyên áo tía đứng trước cổng phòng.
Chàng cởi giày ngoài cửa, đi chân vớ vào. Bước nhẹ. Ta ngồi lùi ra một bước để chàng có chỗ.
Mẹ nuôi nhìn chàng. Chàng quỳ một gối bên giường. Không hỏi. Chỉ chờ.
“Lục đại nhân.” Mẹ nuôi gọi chàng theo cách bà gọi từ ngày đầu, không đổi. “Mẹ giao Yên tử cho ngươi.”
“Vâng.”
“Yên tử cứng.” Bà nhìn ta. “Bên ngoài cứng như dao. Bên trong mềm như lụa. Ngươi biết chuyện này chưa?”
“Biết.”
“Yên tử làm việc quên ăn quên ngủ. Ngươi để ý bát cơm cho nó.”
“Vâng.”
“Vô Y con nhỏ có tính giống Yên tử. Mai này lớn lên cũng sẽ đi khám xác. Ngươi đừng cản.”
“Không cản.”
Mẹ nuôi cười. Lần này cười đến khoé miệng. Bà rút tay khỏi tay ta, đặt hai bàn tay ta và chàng chồng lên nhau, rồi bà đặt bàn tay bà lên trên cùng.
Bàn tay bà nhẹ như một tờ giấy khô.
“Mẹ đi được rồi.”
Bà nhắm mắt lại.
Ta ngồi im. Chàng ngồi im. Bích Đào bên cạnh không dám thở mạnh.
Hơi thở mẹ nuôi chậm dần. Bỏ một hơi. Thở lại một hơi rất ngắn. Bỏ hai hơi. Thở lại nửa hơi.
Ta biết cái gì đang tới. Ta đã nghe hơi thở kiểu này trong ba trăm buổi trực đêm khoa nội hồi kiếp trước. Nhưng ta chưa bao giờ nghe hơi thở kiểu này của người ta gọi là mẹ.
Đến hơi thứ mười, bà không thở lại nữa.
Ta cúi xuống. Đặt hai ngón tay lên động mạch cổ bà. Không đập. Ta đặt lên cổ tay. Không đập. Ta để mu bàn tay ta trước lỗ mũi bà. Không có luồng khí.
Ta ngẩng lên. Nhìn chàng.
“Đi rồi.”
Chàng gật.
Ta đưa tay lên vuốt mắt bà. Mí mắt mềm, khép lại được ngay. Ta đưa ngón tay lên cằm, đẩy lên nhẹ để khép miệng bà. Vào lúc này, cơ hàm chưa cứng lại, ta còn kịp.
Bích Đào oà khóc phía sau. Diệp Nương ôm Bích Đào. Ta không quay đầu.
Ta ngồi bên xác mẹ nuôi. Không khóc. Bàn tay ta vẫn nắm bàn tay bà. Ta thấy nhiệt độ dưới da bà nguội đi từng phút. Người pháp y kiếp trước trong ta biết rõ: canh giờ đầu, thân nhiệt xuống khoảng một độ. Canh giờ thứ hai, cơ mặt bắt đầu cứng. Canh giờ thứ tư, cứng đến vai. Đến sáng mai, người sẽ cứng như đá.
Ta biết. Ta không muốn biết.
Nhưng ta không tránh được. Cái nghề này ăn vào trong xương ta rồi.
Chàng thấy ta ngồi im lâu, chàng đưa tay chạm vai ta. Không nói.
Ta đứng dậy.
“Bích Đào.” Ta gọi. Giọng ta bằng, không cao thấp. “Đi lấy khăn trắng, chậu nước ấm, và bộ áo tang mẹ đã may sẵn trong rương gỗ.”
Bích Đào vừa gạt nước mắt vừa gật đầu.
“Diệp Nương.” Ta quay sang. “Đi báo cho phường trưởng phường Nam. Mẹ nuôi ta gia phả gốc ở phường Nam, phải khai tử tại đó.”
“Ta đi.”
“Chàng.” Ta nhìn chàng. Lần đầu từ khi bà tắt hơi ta nhìn thẳng chàng. “Chàng đi lo quan tài. Loại gỗ tùng, không quá dày. Mẹ ta gầy, không cần quan lớn. Và bảo Vô Y ngủ trưa, đừng để nó vào phòng lúc này.”
Chàng gật.
Chỉ khi ba người ra khỏi phòng, ta mới ngồi xuống lại bên giường.
Ta đưa bàn tay ra, chạm mu bàn tay mẹ nuôi. Bàn tay bà đã bắt đầu lạnh dần.
Ta cúi xuống. Ta hôn lên mu bàn tay đó.
Sáu năm bà giặt vải quấn ngực cho ta. Hai mươi năm bà kéo bễ đun tro giặt cho hàng phường. Bàn tay này chai chỗ đó, chỗ đó, chỗ đó. Ta nhớ từng chai một, vì ta từng đếm hồi nhỏ, cho vui.
Ta hôn xong, ta ngồi thẳng lên. Ta lau mắt bằng ống tay áo.
Ta không khóc thành tiếng. Nhưng nước mắt xuống được mấy giọt.
Rồi ta bắt tay vào việc. Người ta chết, người sống có việc phải làm.
…
Ba ngày tang. Diệp Nương giữ tiệm bạc để lo hương đèn. Bích Đào ở bên ta không rời. Chàng lo quan tài, giấy tờ khai tử, và giấy phép cho ta đưa mẹ nuôi chôn ở nghĩa trang cửa Nam, cạnh mộ cha ruột ta.
Nghĩa trang cửa Nam là nghĩa trang của người nghèo và nhà làm nghề âm. Mộ cha ruột ta ở đó suốt hai năm nay ta trọng sinh. Bia mộ khắc tám chữ ta thuộc đến hơi thở: “Tận trung phá án, chết oan không rõ.”
Ta xin phường trưởng để phần đất bên trái mộ cha cho mẹ nuôi. Phường trưởng không dám cản. Bây giờ ta đã là Bạch Vô Y phu nhân danh chính ngôn thuận trên chỉ vua, phường trưởng cúi đầu ba lần, đưa giấy đất một tay.
Ngày đưa tang, tuyết vẫn rơi mỏng.
Đội phu khiêng quan tài gỗ tùng bốn người. Bốn cây gậy tre. Bốn dải khăn trắng. Đi trước là ta. Sau ta là chàng. Sau chàng là Bích Đào bế Vô Y con nhỏ, đầu đội khăn trắng bé bằng bàn tay. Diệp Nương đi cạnh.
Đi sau nữa là mười hai học trò của ta.
Ta không mời. Nhưng buổi sáng đưa tang, mười hai người con gái áo trắng đứng trước cổng tương phủ, tay đều cầm một nhành hoa trắng. Đứa lớn nhất mười chín tuổi, đứa nhỏ nhất mười ba. Đều là học trò lớp pháp y đầu tiên ta mở ở Đề Hình Ti.
Đứa lớn nhất tên Đỗ Lan, cúi đầu trước ta:
“Sư phụ. Chúng con xin đến tiễn sư phụ của sư phụ.”
Ta không nói được. Ta chỉ gật đầu.
Mười hai học trò rẽ ra hai hàng, để quan tài đi qua giữa. Sau khi quan tài qua, họ khép lại thành đội đi phía sau.
Đường từ tương phủ Lục đến nghĩa trang cửa Nam bốn dặm. Ta đi chân, không cưỡi ngựa. Chàng đi cạnh, cũng chân. Chàng không nói.
Tuyết mỏng, phủ trên nón lá của phu khiêng, phủ trên khăn trắng đội đầu ta, phủ trên vai áo tang chàng. Đường phường Nam người dân đứng hai bên. Nhiều người biết mặt mẹ nuôi ta, cúi đầu. Có bà lão trong hàng người mắt đỏ hoe. Hồi trước bà lão đó hay cho mẹ nuôi ta vài nắm rau muối.
Không ai khóc thành tiếng. Không ai được phép. Nhà ngỗ tác cửa Nam có tục cũ: người chết vì tuổi già, không được khóc lớn, sợ làm hồn không đi thẳng.
Ta đi trước, không quay đầu.
Ra tới cổng nghĩa trang cửa Nam, ta dừng.
Bia mộ cha ruột ta hiện ra sau hàng dương liễu khô. Ta đã đứng ở đó rất nhiều lần trong hai năm rưỡi. Lần đầu là ngày ta trọng sinh, ngồi trên bia mộ mà nói: ta về rồi cha, ta biết pháp y hơn cha nghìn năm.
Bây giờ ta đưa vợ cha về cạnh cha.
Phu khiêng đặt quan tài xuống. Bốn người dùng dây thừng luồn dưới đáy, chuẩn bị hạ huyệt.
Ta đi tới. Đặt bàn tay lên nắp quan tài một lần cuối.
Ta ngồi xuống. Không phải quỳ. Ngồi xổm theo tục ngỗ tác cửa Nam trước lúc chôn, người thân nói lời tiễn cho người chết nghe khi hồn còn ở trên quan tài.
Ta nói khẽ:
“Mẹ.”
Ta ngừng. Cổ họng lại cứng lần nữa.
Chàng đứng sau ta, không lại gần.
“Con đã sống được, mẹ. Kiếp trước con chết trong phòng giải phẫu. Kiếp này con trọng sinh về Đại Tống, mặc áo con trai sáu năm, giấu ngực bằng vải sáu năm. Con tưởng cả đời không đứng thẳng được nữa.”
Ta ngẩng đầu, nhìn bia mộ cha bên cạnh.
“Bây giờ con đứng thẳng rồi. Con có gia đình. Con có nghề. Con có mười hai học trò con gái, sẽ có nhiều hơn. Con viết sách, có nho phản đối, con đáp lại được. Nam nữ đều chết. Xác không phân biệt giới. Người khám xác cũng không nên phân biệt.”
Ta nhìn quan tài mẹ nuôi.
“Mẹ nuôi con hai mươi năm không có cái này. Mẹ chỉ giặt vải, kéo bễ, chờ con lấy chồng. Con lấy chồng rồi. Con sinh con rồi. Vô Y con nhỏ, mẹ đã bế được ba lần trước khi đi. Con lấy làm đủ.”
Ta ngừng. Đưa mắt về bia mộ cha.
“Cha con ở đây có nghe không?”
Không có gió. Tuyết vẫn rơi mỏng như tro trắng. Bia mộ cha đứng im.
Ta nói tiếp, giọng bằng:
“Cha. Kẻ giết cha, con và chàng đã bắt. Trương Nguyên Chương bị chém đầu cửa Tây thành hôm mười tám tháng ba năm ngoái. Em trai hắn cũng thế. Mười hai kẻ đồng phạm cũng thế. Cha con Lục thượng thư, cha ta Thẩm Cát, năm đứa trẻ phường Bắc, phú thương Lâm Đại lang, nô tì phủ Vương, và tất cả người bị hắn diệt khẩu vì diêm thổ, đều đã được ghi rõ trong sớ dâng vua.”
Ta hạ giọng.
“Cha yên nghỉ. Bây giờ vợ cha về ở bên cha. Con sẽ đến quét mộ hai tháng một lần. Con và chàng. Vô Y con nhỏ khi lớn cũng sẽ đến.”
Ta đứng dậy. Đi lùi ba bước theo tục.
Phu khiêng hạ huyệt.
Tiếng dây thừng ken két trong lớp sương lạnh. Quan tài gỗ tùng chậm rãi hạ xuống. Ta không quay đầu. Ta đứng nhìn thẳng.
Chàng bước lên. Đến bên ta.
Chàng không nói. Chỉ đưa bàn tay, nắm lấy bàn tay ta.
Bàn tay chàng ấm. Không phải cái ấm của người bệnh, mà cái ấm của người đàn ông đã đi trong tuyết bốn dặm rồi vẫn giữ được nhiệt cho một bàn tay khác.
Ta không rút. Ta cũng không siết. Ta chỉ để bàn tay ta yên trong bàn tay chàng.
Phía sau ta, mười hai học trò đứng thành hai hàng sáu. Áo trắng, khăn trắng, nhành hoa trắng. Không ai nói. Không ai khóc thành tiếng.
Đỗ Lan bước lên nửa bước. Ta nghe tiếng chân trên tuyết mỏng. Nàng đặt nhành hoa xuống đầu huyệt. Rồi lùi lại.
Người thứ hai bước lên. Đặt hoa. Lùi.
Người thứ ba. Người thứ tư. Người thứ năm.
Mười hai nhành hoa trắng đặt thành một hàng thẳng trên nền tuyết trước huyệt mẹ nuôi ta.
Rồi mười hai người con gái đồng loạt cúi lạy. Ba lạy. Ngẩng đầu.
Đỗ Lan lên tiếng:
“Kính tiễn sư phụ của sư phụ.”
Mười một tiếng đáp theo, cùng một câu, cùng một nhịp:
“Kính tiễn sư phụ của sư phụ.”
Ta đứng nhìn. Bàn tay chàng vẫn nắm bàn tay ta. Trong ngực ta có một cái gì đó vỡ ra rất chậm, không đau nhức mà tan như tuyết chạm mặt nước.
Kiếp trước ta chết trong phòng giải phẫu. Không ai đưa tang. Cha mẹ ruột ở dưới quê không kịp về. Đồng nghiệp bận ca trực. Đám tang ta khi ấy được nhà xác bệnh viện lo qua loa.
Kiếp này, mẹ nuôi ta đi. Có chàng, có Bích Đào, có Diệp Nương, có Vô Y con nhỏ trong lòng Bích Đào, và có mười hai người con gái áo trắng đứng phía sau ta.
Ta nghĩ, gieo gió gặt bão. Kẻ như Trương gieo gió trước bà mẹ ta hai mươi năm, gặt bão trong nửa canh giờ ở dịch trạm Ngũ Lý. Còn mẹ nuôi ta, cả đời gieo vải sạch, giặt sạch, nuôi sạch một đứa con không cùng máu mủ, đến ngày đi có mười hai người con gái không cùng huyết thống mặc áo trắng lạy trước huyệt. Đúng là công không đổ sông đổ bể.
Ta đưa mắt về phía chàng. Chàng nhìn ta. Không nói.
Ta gật đầu nhẹ, ý bảo: đắp đất.
Chàng ra hiệu cho phu.
Đất đầu tiên phủ xuống nắp quan tài kêu tiếng đục. Đất thứ hai. Đất thứ ba.
Ta đứng nghe từng nhịp đất một. Trong đầu ta, kiến thức pháp y kiếp trước nói: gỗ tùng ẩm sẽ hư trong bốn mươi năm nếu đất khô, hai mươi năm nếu đất ẩm. Nghĩa trang cửa Nam đất pha cát, thoát nước tốt, mẹ nuôi ta có thể nằm bốn mươi năm không bị mối. Đó là điều duy nhất pháp y ta còn cho được bà.
Đất phủ đầy huyệt. Phu khiêng đắp thành mộ tròn thấp theo tục.
Bích Đào bế Vô Y con nhỏ lại gần ta. Vô Y một tuổi rưỡi, chưa hiểu đám tang là gì, chỉ ngoan trong lòng Bích Đào vì tuyết lạnh. Nó nhìn ta bằng đôi mắt to đen, đúng mắt cha ta, đúng mắt cha nó.
Ta nhận Vô Y từ Bích Đào. Bế con nhỏ áp vào ngực. Nó vòng tay ôm cổ ta.
Ta nói khẽ vào tai nó:
“Bà nuôi mẹ ở đây. Sau này lớn, con nhớ đường đến.”
Nó không hiểu. Chỉ gật đầu vì thấy mẹ nó nói với mình.
Chàng lại bên. Bàn tay chàng đặt lên vai ta, đặt lên vai Vô Y con nhỏ.
Diệp Nương đến. Đưa ta một chén rượu ấm. Rượu trắng, hâm với mấy lát gừng. Ta uống một hớp. Nóng chạy xuống bụng, xuống ngón chân đã tê vì tuyết.
Ta trao Vô Y con nhỏ trở lại Bích Đào. Ta bước lên trước huyệt lần cuối. Cắm ba nén hương.
Tro hương bay lên trong không khí lạnh, tản ra thành sợi mỏng, hoà vào tuyết rơi mỏng.
Ta cúi ba lạy. Ngẩng đầu.
“Mẹ. Con về.”
Ta quay lưng. Chàng đi cạnh ta. Mười hai học trò rẽ ra thành hai hàng, cúi đầu khi ta đi qua giữa. Ta bước đi, không quay đầu lại.
Đường về tương phủ vẫn bốn dặm. Nhưng lần này, tay ta trong tay chàng, và sau lưng ta là mười hai người con gái áo trắng đi theo. Không ai nói.
Cuối hàng, ta nghe Đỗ Lan gọi khẽ mấy đứa em:
“Về đến tương phủ, chúng ta pha ấm trà nóng cho sư phụ. Đêm nay sư phụ không được ngủ một mình.”
Ta không quay đầu. Nhưng ta nghe.
Tuyết vẫn rơi mỏng trên khăn trắng đội đầu ta. Trên đường quan lộ về Biện Kinh, hàng dương liễu khô hai bên như bút mực đỏ cắm ngược xuống nền tuyết. Tro hương từ nghĩa trang cửa Nam đã tan theo gió, nhưng mùi trầm còn ám lại trên vạt áo ta thêm ba dặm.
Tre già măng mọc. Câu ấy mẹ nuôi ta hay nói lúc dạy ta khi ta còn bé, tay đang cầm cây kim tập vá vải quấn ngực. Bây giờ ta hiểu. Bà là cây tre già đã ngã. Sau lưng ta, mười hai bụi măng đang lên.
Ta siết nhẹ bàn tay chàng.
Chàng đáp lại bằng một cái siết nhẹ tương ứng.
Không ai nói lời nào cho đến khi vào tới cửa tương phủ.