Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 41: 1 Năm Sau
Sáng mùng tám tháng chạp. Sương xuống mái tương phủ dày như một lớp tro trắng ai đó rắc từ đêm.
Ta ngồi bên nôi Thẩm Vô Y. Con bé một tuổi, hôm nay tròn tháng thứ mười ba. Nó ngủ nghiêng, tay phải nắm vạt áo lụa mềm ta may từ tháng tám. Ba ngón tay bé xíu, đủ móng, đủ đường chỉ tay. Kiếp trước ta khám tay xác chết đủ mọi kiểu. Kiếp này ta nhìn tay trẻ con, mới biết đường chỉ tay khi non còn mỏng như nét bút chì chưa tô đậm.
Ta không đánh thức nó. Ta chỉ cúi xuống, ghé má vào má nó một khắc. Mùi trẻ con mới ngủ, thoang thoảng như hạt gạo hấp trong nồi đồng. Kiếp trước không ai dạy ta mùi ấy. Kiếp này ta học từ đêm thứ hai sau sinh.
Bên ngoài phòng, tiếng bước chân Bích Đào. Con bé năm nay mười sáu tuổi, đã lên trợ giảng đúng nghĩa, không còn là hầu gái năm xưa. Nó gõ cửa hai tiếng nhẹ.
“Cô nương. Kiệu đã đợi.”
“Ta ra ngay.”
Ta chỉnh lại chăn ấm cho con. Bàn tay ta di chuyển chậm, như lúc ta khép mí một xác trẻ con ở cầu Biện Hà năm nào. Cùng một cử động. Khác một ý nghĩa. Kiếp làm ngỗ tác dạy ta rằng bàn tay là công cụ. Kiếp làm mẹ dạy ta rằng bàn tay còn là hơi ấm.
Ta ra ngoài. Khép cửa.
Hành lang phía Đông tương phủ mờ hơi sương. Cột đèn dầu vặn thấp, ánh vàng đọng thành từng vệt trên vôi ẩm. Chàng đã đi từ canh tư, vào Đại lý tự sớm. Bàn ăn nhỏ ở gian ngoài còn lại một bát cháo hạt kê đậy nắp, ta biết là chàng dặn Trần Bảy để phần cho ta.
Ta không ăn cháo. Uống nửa chén nước gừng. Mặc áo ngoài dày.
Thẩm bà đã dậy, ngồi trên trường kỷ ở gian giữa. Sáu mươi bảy tuổi, tóc bạc gần hết, chân đi được nửa canh giờ mỗi ngày, tay còn cầm được thìa canh. Ba năm thuốc Lục Vô Ngạn gửi từ vườn thuốc riêng đã kéo bà từ mép giường ra trường kỷ. Ta biết cái kéo ấy có hạn. Ta không nghĩ đến hạn ấy sáng nay.
“Yên tử.” Bà ngước lên. “Hôm nay đi Đề Hình Ti sao?”
“Có mẹ. Ba canh, chiều về.”
“Vô Y…”
“Ngủ. Con đã cho bú giờ Dần. Đến trưa mẹ bảo Bích Đào bế nó xuống đây.”
Bà gật. Trên trường kỷ có một khay bánh khảo Diệp Nương gửi từ tiệm hôm qua, bọc trong giấy điều. Bà lấy một cái, đưa cho ta.
“Ăn đi. Đường xa.”
Ta cầm bánh. Cắn nửa. Đường phèn ngọt lịm, mùi mè nhẹ. Nửa bánh còn lại ta bọc lại, cất vào túi vải nhỏ trong tay áo. Trưa nay giờ nghỉ giữa hai buổi giảng, ta ăn nốt.
“Con đi.”
“Ừ.”
Ta cúi chào. Bà không tiễn ra cửa như hồi ta còn giả nam đi ngỗ tác lần đầu. Bây giờ bà biết ta có kiệu, có tùy tùng, có sáu thị vệ hộ tống mỗi lần ra khỏi tương phủ. Bà chỉ nhìn theo ta ra tới hành lang, rồi quay lại chén cháo của mình.
Ngoài cổng, kiệu bốn phu đã đợi. Trần Bảy, tiểu đồng câm mười bốn tuổi, đứng cạnh, tay giữ rèm kiệu. Cậu ta cúi đầu chào ta. Ta gật đáp. Cậu ta là người duy nhất trong tương phủ Lục biết ta hay ho khan buổi sáng khi trời trở lạnh, và luôn hâm sẵn nước gừng để chờ ta về.
Ta lên kiệu.
Trên đường tới Đề Hình Ti, ta vén rèm nhìn ra. Biện Kinh sáng cuối năm, phường Nam bắt đầu treo đèn lồng đỏ. Còn nửa tháng nữa Tết Nguyên đán. Chợ Ngưu Nhai đã bày sẵn giấy điều, mực đỏ, bút son. Ba năm trước ta đứng bên chợ này, tay áo còn dính máu tử thi, xin Diệp Nương làm hộ dây vải giấu ngực. Bây giờ ta ngồi trong kiệu, ngực không còn dây, tay áo sạch.
Trắng đen phải rõ, cha ta khắc trên bia đá. Ta đã làm rõ được ba phần. Còn hai phần còn lại, ta viết trong sách.
Đề Hình Ti, viện Đông. Gian phòng học nữ ngỗ tác vừa mới được vua duyệt xây xong tháng mười.
Ba gian nhà, mái ngói mới, tường vôi trắng. Gian ngoài giảng lý thuyết. Gian giữa đặt bàn khám, ba bàn gỗ dày, mỗi bàn có một khay đồng và một chậu nước sôi để tiệt trùng dụng cụ (kiếp trước ta gọi tiệt trùng, kiếp này ta gọi hoả tẩy). Gian trong cùng, phòng riêng của ta, đặt án thư, tủ giấy, và một cái kệ ba tầng bằng gỗ hồng sắc chàng cho mộc phường chở đến từ tháng trước.
Ta bước vào, treo áo ngoài lên móc.
Trong gian giảng đã có mười hai người ngồi ngay ngắn trên hai hàng ghế dài. Áo vải xanh xám đồng phục Đề Hình Ti nữ ban, tay áo bó lại bằng dây gai để tiện làm việc, tóc buộc thành búi thấp giữ trong khăn vuông màu đá xanh. Không đứa nào trang điểm. Không đứa nào đeo trâm màu.
Ta đã chọn kỹ mười hai đứa này trong hai tháng thi tuyển. Hai đứa từ tiệm ngân trang Diệp Nương giới thiệu. Ba đứa từ nhà nghèo phường Bắc, mất mẹ vì bệnh không ai chịu khám. Bốn đứa từ tiệm thuốc, cha là lang y. Ba đứa còn lại thi từ Kim Lăng, Hàng Châu, Tô Châu vào tận Biện Kinh xin học.
Đứa nhỏ nhất mười sáu tuổi. Đứa lớn nhất hai mươi tám. Không đứa nào biết pháp y trước khi vào lớp. Nhưng đứa nào cũng có một thứ ta cần: mắt không tránh khi nhìn thẳng vào vết máu, và tay không run khi cầm dao mổ nhỏ trong buổi thử đầu tiên.
Bích Đào đứng ở góc gian, tay ôm một xấp giấy đã dập lỗ bằng dây gai. Nàng gật với ta khi ta vào.
“Sư phụ.”
Cả mười hai đứa đứng dậy, đồng thanh.
“Sư phụ.”
Ta hơi cúi đáp.
“Ngồi.”
Cả gian ngồi lại. Không tiếng ghế cọ. Ta đã dạy chúng nó điều này từ buổi đầu: trong phòng khám, mỗi tiếng động thừa là một sai sót ghi chép.
Ta bước ra bàn giảng. Trên bàn có một bộ xương chó nhỏ đã tẩy sạch, bày trên vải đen, thứ tự đủ đầu-cổ-thân-tứ chi. Bên cạnh là một cái đầu lâu bò được tẩy trắng, dùng làm mẫu chung. Hôm nay ta giảng bài thứ mười tám của quyển thứ nhất: xương gãy do đánh và xương gãy do ngã, phân biệt qua mép gãy.
Ta không cầm giáo án. Ta thuộc bài này như thuộc tên bốn con phố quanh Đại lý tự.
“Ngày mười tháng chạp, ba năm trước, một xác nam năm mươi tuổi được đưa vào Đại lý tự. Gia đình khai ngã cầu thang. Ta xem xương đùi. Đây.”
Ta cầm que gỗ dài, chỉ vào xương đùi bộ chó (để làm mẫu chung thay xương người).
“Mép gãy do ngã bằng trọng lực là mép chéo, có mảnh vụn nhỏ bám theo lực rơi. Mép gãy do vật cứng đánh trực diện là mép ngang, sắc, không mảnh vụn. Xác kia có mép ngang. Không phải ngã. Là bị đánh.”
Một đứa ngồi ghế đầu, tên Lã Ngọc Sương, mười tám tuổi, ghi ba dòng vào bản giấy dập lỗ. Nét bút nhỏ, thẳng. Ta gật với nó một cái rất khẽ. Nó không thấy, vì đang cắm cúi ghi.
Ta tiếp.
“Từ mép gãy suy ra loại vũ khí. Vật gỗ tròn để lại mép ngang có vết nén tròn. Vật sắt vuông để lại mép ngang có góc. Vật đá không đều để lại mép ngang lởm chởm. Ba loại này viết trong bài mười tám, các người học đủ thuộc trước rằm tháng chạp.”
Một đứa khác, tên Đường Thục Yên (không họ hàng gì với ta), hai mươi hai tuổi, giơ tay.
“Sư phụ. Vật dao thì sao?”
Ta nhìn nó.
“Dao không đánh gãy xương. Dao chém xương. Chém khác đánh. Bài mười chín.”
“Vâng.”
Ta gõ que gỗ xuống bàn, hai tiếng nhẹ.
“Bây giờ. Từng người lên. Cầm mép gãy đầu này.” Ta chỉ vào xương đùi chó có mép do ta cắt bằng đục ngày hôm qua (giả gãy do đánh). “Cầm mép gãy đầu kia.” Ta chỉ vào mảnh xương thứ hai, ta bẻ bằng tay từ chiều qua (giả gãy do ngã). “Sờ. So. Không nhìn. Sờ.”
Cả mười hai đứa đứng dậy lần lượt. Từng đứa đến bàn, đưa hai ngón tay, sờ mép gãy.
Đứa thứ nhất phân biệt được. Đứa thứ hai nhầm. Đứa thứ ba phân biệt được, còn nói ra chỗ mép sắc. Ta ghi vào sổ tay.
Kiếp trước ta chấm bài sinh viên năm thứ hai bằng cách này. Kiếp này ta chấm bằng cùng cách này. Chỉ khác, kiếp trước sinh viên ta gọi bằng số thứ tự. Kiếp này ta gọi bằng tên. Mười hai cái tên ta nhớ hết.
Ba canh giờ trôi qua như một hơi thở dài.
Buổi trưa, giờ nghỉ giữa hai buổi. Ta ngồi trong gian trong cùng, cửa khép hờ. Trên án thư có một xấp giấy dày ba thốn, bọc bằng vải xanh, dán nhãn giấy vàng, chữ ta viết bằng mực đen:
NGỖ TÁC HỌC CƠ BẢN.
Bạch Vô Y biên. Tập một.
Đây là cuốn sách đầu tiên ta viết. Tập một, hai trăm bốn mươi trang, chia làm sáu quyển:
Quyển một: Tổng luận thân thể (khung xương, khớp, cơ, gân, máu).
Quyển hai: Mười loại tử vong hay gặp (chết đuối, treo cổ, đâm, đánh, đầu độc, bệnh, băng huyết, ngạt, cháy, ngã).
Quyển ba: Cơ thịt sau khi chết (cứng theo canh giờ, mềm lại, phân biệt với co cơ do lạnh).
Quyển bốn: Nhiệt độ cơ thể theo canh giờ (đo bằng úp lòng bàn tay lên tim, không dùng dụng cụ).
Quyển năm: Độc lý căn bản (thạch tín, mật cà độc dược, tơ nấm, hoàng lộ, ô đầu, bảy loại hay gặp trong án Đại Tống).
Quyển sáu: Ghi chép biên bản pháp y (mẫu bảng ta tự nghĩ ra, đóng khung, không được thiếu bất cứ mục nào).
Sáu quyển. Ta viết trong mười một tháng. Bắt đầu từ tháng giêng năm nay, trong lúc còn ẵm Vô Y ngủ. Đêm nào Vô Y quấy khóc, ta bế nó bên tay trái, viết bằng tay phải. Đêm nào nó ngủ ngoan, ta viết được sáu trang. Đêm nào nó quấy, ta viết được một trang. Cộng cả năm, cuốn sách này lớn lên cùng con ta.
Kiếp trước ta chưa viết được cuốn nào. Có nhiều đêm ta ngồi trong phòng khám tử thi bệnh viện, nhìn cuốn “Bệnh học pháp y” của giáo sư trưởng khoa, muốn viết một cuốn giáo trình riêng cho sinh viên năm nhất, chưa kịp làm thì bị đâm. Kiếp này ta viết được.
Ta đặt tay lên bìa vải xanh. Tay hơi lạnh, không phải lạnh vì sợ. Lạnh vì mực chưa khô trên bàn ngoài, gió lạnh lùa qua khe cửa.
Ta lấy nửa cái bánh khảo trong tay áo. Ăn chậm. Uống một chén nước gừng nữa.
Bích Đào bước vào, tay bưng khay có ấm trà nóng và một chén sứ trắng.
“Sư phụ. Trà.”
“Đặt xuống.”
Nàng đặt khay. Rồi nàng đứng lại, không đi ngay.
“Sao?”
“Từ Hàn Lâm Viện.” Nàng cúi đầu. “Có sứ giả tới cổng Đề Hình Ti, xin gặp sư phụ. Nói là dâng một tờ tấu chương của Hàn Lâm học sĩ Đàm Chí Cương.”
Ta ngừng nhai.
Đàm Chí Cương. Sáu mươi hai tuổi. Hàn Lâm học sĩ chính phẩm. Người soạn khoa cử toàn triều Đại Tống ba mươi năm nay. Con cháu ba đời làm thầy, con trai làm quan Ngự sử, cháu trai làm biên tu Sử quán. Ta biết cái tên ấy vì nửa năm trước, khi vua ra chỉ cho phép nữ hành nghề pháp y, chính Đàm Chí Cương đã dâng biểu phản đối, được vua gạt xuống.
Nay ông ta dâng biểu lần thứ hai.
Ta nuốt miếng bánh khảo cuối cùng. Chậm.
“Cho vào.”
Bích Đào ra. Nửa khắc sau nàng dẫn vào một viên tòng nhân trẻ, mặc áo lụa xanh Hàn Lâm Viện, tay bưng một khay gỗ. Trên khay có một cuộn tấu chương, đầu cuộn dán triện son đỏ Hàn Lâm Viện, đuôi cuộn buộc dây điều.
Tòng nhân cúi chào ta.
“Xin bái kiến Thẩm nữ ngỗ tác.”
“Không cần bái.” Ta đứng dậy, chắp tay đáp lễ. “Ngồi.”
“Hạ nhân không dám. Xin dâng tấu chương của Đàm học sĩ, kèm theo lời nhắn miệng.”
“Nói.”
Cậu ta đặt khay lên án thư. Rồi cậu ta cúi thấp thêm một chút, giọng đọc thuộc lòng, đều như tụng kinh.
“Đàm học sĩ nói: Ngỗ tác học cơ bản là sách quan trọng, cần được xem xét trước khi phát hành làm giáo trình. Học sĩ đã đọc bản sao chép chép trộm được từ tiệm sao chép Cẩm Chương phường Đông. Học sĩ có ba điều muốn dâng lên bệ hạ. Ba điều này, học sĩ mong Thẩm nữ ngỗ tác đọc trước khi dâng, để tránh triều đường phân cãi.”
Ta chớp mắt.
“Xem xét trước khi phát hành. Đọc trước khi dâng. Cậu ta không nói ra, nhưng ta nghe rõ tầng dưới: nếu ta không rút sách, ông ấy dâng biểu thứ hai chặn giáo trình.
Sách của ta chưa in. Sáu quyển vừa viết xong. Ta đã đặt tiệm sao chép Cẩm Chương làm hai trăm bản, chuyển cho mười hai học trò trước, tuần sau chuyển bản chính thức cho vua duyệt in ván khắc.
Ta không biết Đàm Chí Cương lấy bản chép trộm từ đâu. Nhưng ta biết một điều: sách này ông ta đã đọc, và đọc kỹ.
“Cuộn tấu.” Ta chỉ. “Đưa ta.”
Tòng nhân cầm cuộn tấu, hai tay đưa. Ta nhận. Sáp son dán chưa cứng hoàn toàn, ta bóc bằng đầu ngón cái, không cần rọc giấy.
Ta mở cuộn.
Chữ Đàm Chí Cương viết. Nét khoa cử, ngay ngắn, sắc. Mười bốn dòng. Ba đoạn.
Đoạn một: “Nữ nhân theo thuyết cổ, âm thể, không nên tiếp xúc âm khí. Xác chết là âm khí cực. Nữ tiếp âm khí cực, hại tử cung, hại thai, hại đường sinh sản đời sau. Nếu triều đình cho nữ hành nghề pháp y, ba đời sau con cháu Đại Tống sẽ ít đi phân nửa.”
Đoạn hai: “Ngỗ tác Học Cơ Bản của Thẩm Yên (nay xưng Bạch Vô Y phu nhân) có ghi chép chi tiết giải phẫu thân thể, mở bụng, cắt phổi, xẻ ruột. Việc này trái luân thường. Thân thể do cha mẹ ban cho, chết vẫn phải giữ nguyên vẹn. Xẻ xác là bất hiếu với người chết, bất kính với tổ tiên nạn nhân. Sách này phát hành, ba đời sau người Đại Tống sẽ không sợ mở bụng người thân. Đại luân bại từ đây.”
Đoạn ba: “Nay xin bệ hạ: một, cấm phát hành cuốn Ngỗ Tác Học Cơ Bản. Hai, cấm nữ nhân làm ngỗ tác từ nay. Ba, giữ lại chức Thẩm Bạch Vô Y phu nhân vì công cứu triều, nhưng chuyển sang chức tế tự đền Văn Miếu, cho phù hợp nữ đức.”
Ta đọc xong. Cuộn lại. Đặt lên án thư.
Không giận. Không sợ. Chỉ thấy trong lồng ngực một cái gì đó nặng như đá lạnh vừa được đặt lên chỗ ba năm trước từng có dây vải giấu ngực.
Đàm Chí Cương không phải người của Trương Nguyên Chương. Trương đã chết chém đầu cửa Tây thành mười tám tháng trước. Đàm Chí Cương là một thứ khác. Là bức tường thứ hai của thời đại này, không phải tường phe phái, mà là tường của tập tục cũ. Kiếp trước ta cũng gặp tường ấy trong bệnh viện, gọi là phong tục địa phương phản đối giải phẫu. Kiếp này gọi là luân thường. Cùng một bức tường. Khác tên gọi.
Ta ngước lên nhìn tòng nhân.
“Cậu về nói với Đàm học sĩ. Thẩm Yên nhận tấu. Chiều nay hạ quan sẽ có phúc trình dâng lên. Học sĩ chờ tới giờ Thân.”
Tòng nhân hơi ngập ngừng.
“Học sĩ dặn thêm một câu. Nếu Thẩm nữ ngỗ tác chịu rút sách, học sĩ không dâng biểu. Nếu không rút, giờ Dậu học sĩ dâng.”
“Ta nghe rõ.”
Cậu ta cúi. “Hạ nhân xin cáo lui.”
Ra ngoài.
Bích Đào đứng ở góc, mặt trắng. Nàng biết đọc mặt ta. Nàng biết ta không rút sách.
“Sư phụ…”
“Ngươi ra ngoài. Đóng cửa. Không cho ai vào trước giờ Thân.”
“Vâng.”
Nàng ra. Cửa khép lại. Gió lùa qua khe cửa gỗ, mùi tro hương từ đỉnh trầm góc phòng thoảng lên. Ta cho tro hương mỗi buổi sáng, để phòng ta không dính mùi vôi ẩm và mùi máu khô của gian khám bên cạnh.
Ta ngồi xuống án thư.
Lấy giấy. Nghiên. Bút.
Ta không viết ngay. Ta ngồi một khắc, nhắm mắt.
Trong bóng tối, ta thấy lại đêm Vô Y sinh, tuyết đầu mùa đông rơi ngoài cửa sổ, chàng đứng bên giường, tay chàng nắm tay ta. Ta thấy lại đêm ta ngồi trong ngục Đại lý tự, bút chấm mực, viết ba vụ án gửi Vương Ngự sử. Ta thấy lại đêm đầu tiên ta trọng sinh, ngồi trên bia mộ cha ruột nghĩa trang cửa Nam, nói khẽ “Ta biết pháp y hơn cha nghìn năm.”
Ba đêm ấy, ta cầm bút bằng cùng một bàn tay này.
Ta mở mắt.
Chấm mực.
Nét đầu tiên ta viết:
Trình bệ hạ.
Thần Thẩm Yên, ngỗ tác nữ ban Đề Hình Ti, kiêm giáo tập nữ ngỗ tác lớp thứ nhất, phụng lệnh phúc đáp tấu chương Hàn Lâm học sĩ Đàm Chí Cương ngày mùng tám tháng chạp.
Ta viết chậm. Từng nét ngay ngắn, không nhanh, không rối.
Học sĩ Đàm có ba điều nói. Thần xin đáp ba điều.
Điều một, âm khí và tử cung. Thần đã làm ngỗ tác Đại lý tự bốn năm. Trong bốn năm ấy, thần khám hai trăm bốn mươi ba xác. Trong đó có xác đàn ông, đàn bà, trẻ con. Thân thể thần vẫn khoẻ mạnh, tử cung vẫn dùng được đúng chức, đã sinh cho phu quân một con gái tên Lục Thẩm Vô Y, khoẻ mạnh, đủ tháng, đủ cân. Nếu âm khí xác chết hại đường sinh sản, thần đã không sinh được. Nói có sách, mách có chứng. Sách là bốn năm biên bản khám, chứng là đứa con gái một tuổi đang ngủ trong tương phủ Lục thiếu khanh sáng nay.
Điều hai, xẻ xác là bất hiếu. Thần cũng là con. Cha thần Thẩm Cát chết oan bảy năm trước, do Trương Nguyên Chương giết. Khi thần khám lại hồ sơ cha, thần đã đề nghị đào lại mộ cha, khám lại xương cha, để tìm bằng chứng ai giết. Thần không sợ bất hiếu. Vì bất hiếu thật sự không phải mở bụng cha, mà là để cha chết oan không rõ, không tìm hung thủ, không rửa oan. Cha thần dưới đất biết thần đã tìm được kẻ giết mình, cha thần vui hơn cha thần đau vì mộ bị mở. Điều này thần dám thề trước bia mộ cha thần ở nghĩa trang cửa Nam.
Ta dừng bút. Đọc lại. Đúng.
Ta chấm mực lần nữa.
Điều ba, chuyển chức. Thần xin từ chối. Thần không hợp làm tế tự Văn Miếu. Thần không đọc kinh, không biết cúng, không viết được văn tế. Thần chỉ biết một việc: khám xác. Bệ hạ đã phong thần “nữ ngỗ tác đầu tiên chính danh.” Danh ấy không phải hư danh. Danh ấy là chức. Chức ấy làm được việc cho triều.
Cuối cùng, xin thần thưa một câu.
Ta ngừng bút một khắc dài hơn. Câu này ta suy nghĩ đủ. Câu này ta viết cho triều đọc, cho vua đọc, và cho tương lai đọc.
Ta chấm mực. Nét đầu tiên của câu cuối rất chậm.
Nam nữ đều chết. Xác không phân biệt giới. Người khám xác cũng nên vậy.
Ta buông bút.
Trang giấy im, mực chưa khô, ánh nắng trưa qua khe cửa gỗ hắt xuống một vệt vàng nhạt cắt ngang câu cuối cùng. Ta nhìn câu ấy. Ta thấy nó không phải câu ta vừa viết. Ta thấy nó là câu bảy năm trước, khi ta ngồi lần đầu bên xác một thiếu nữ nghèo trong bệnh viện, giáo sư trưởng khoa nói với ta: “Sinh viên năm nhất. Cô nhớ. Chết là chết. Không phân biệt giàu nghèo, nam nữ, sang hèn. Người khám cũng vậy.”
Kiếp trước ta nhớ câu ấy. Kiếp này ta viết ra câu ấy. Cùng một câu, cách nhau nghìn năm, hai người phụ nữ khác nhau, một câu chung.
Bên ngoài cửa, tiếng chân Bích Đào khẽ. Rồi tiếng chân khác. Nặng hơn. Bước dài hơn. Bậc gỗ hành lang kêu một tiếng ngắn.
Chàng.
Ta chưa gọi. Chưa nhắn Trần Bảy đi báo. Nhưng chàng đã tới.
Cửa mở.
Lục Vô Ngạn đứng ở khung cửa. Áo triều còn nguyên, hộ oản gỗ đen ở cổ tay trái. Mắt chàng liếc qua án thư, thấy cuộn tấu son đỏ Hàn Lâm Viện, thấy tờ giấy chưa khô mực, thấy câu cuối cùng. Chàng đọc trong ba giây.
Rồi chàng nhìn ta.
Không hỏi. Không cần hỏi.
“Bích Đào chạy sang Đại lý tự báo ta lúc giờ Ngọ hai khắc.” Giọng chàng bằng. “Ta xin phép Đại lý tự về sớm. Vương Ngự sử đã biết. Ông ấy sẽ chờ ở cửa Chu Tước để cùng dâng.”
Ta đứng dậy.
“Ta đi cùng chàng.”
Chàng gật.
Ta cầm tờ giấy. Đặt vào tráp gỗ nhỏ Bích Đào để sẵn trên án. Đóng nắp. Không dán sáp. Bên trong cung, sáp niêm phong sẽ do Ngự sử đài đóng.
Trước khi ra, ta ngước nhìn chàng lần nữa.
“Chàng có sợ ta thua không?”
Chàng nhìn ta lâu.
“Không.”
“Vì sao?”
“Vì bảy năm trước ngươi đứng bên bia mộ cha ngươi, không sợ. Bảy năm sau ngươi ngồi trong ngục Đại lý tự, không sợ. Hôm nay ngươi cầm bút viết một câu, không sợ. Ta không sợ giùm ngươi được. Ta chỉ đi cùng.”
Ta cầm tráp. Ra khỏi phòng.
Ngoài kia, sương đã tan hết. Nắng cuối chạp mỏng như một lớp lụa vàng đọng trên mái ngói Đề Hình Ti. Ở gian giảng, mười hai học trò đã ngồi lại vào ghế cho buổi chiều. Bích Đào đứng ở cửa gian, tay ôm tráp giấy dập lỗ, gật với ta khi thấy ta đi ra cùng chàng.
Ta gật đáp một cái rất khẽ.
Gieo gió gặt bão, chín tháng ta ẵm con, mười một tháng ta viết sách, hôm nay ta đi dâng câu cuối cùng.
Kiệu tương phủ đã đợi ngoài cổng. Kiệu Lục Vô Ngạn đậu song song. Bốn phu chờ.
Ta lên kiệu.
Chàng lên kiệu.
Cả hai kiệu quay đầu, đi về hướng cửa Chu Tước.