Nữ Ngỗ Tác Trùng Sinh
Chương 40: Sinh Con
Chiều mùng bốn tháng chạp. Tuyết đầu mùa vừa xuống được nửa canh giờ.
Ta ngồi ở án thư sát cửa sổ Đông của phòng riêng, tay đặt trên một cuốn giáo án chép dở. Trang mở là bài giảng thứ ba trong loạt bài ta soạn cho lớp học trò nữ sau Tết: cách phân biệt vết bầm do ngoại lực và vết bầm do bệnh tật. Bút lông tơ nằm bên nghiên, mực còn ướt.
Ngoài song, tuyết rơi rất chậm. Rơi kiểu tuyết đầu mùa của Biện Kinh: từng bông to bằng ngón út, không đổ dày, chỉ đủ phủ mờ mái ngói và làm sáng vườn tương phủ lên một sắc trắng dịu. Đèn lồng cột đá đã được thị nữ thắp từ giữa giờ Thân, hai chấm vàng nhạt in trong lớp bông đang tan.
Ta cầm bút, chấm mực, viết thêm được nửa dòng.
Vết bầm do ngoại lực có bờ rõ, tụ máu quy tụ ở đáy da…
Bàn tay trái ta đặt trên bụng, đúng dưới rốn. Bụng ta lớn được chín tháng, chín tháng đúng mà ta đếm cả bằng ngón tay lẫn bằng sổ tay ngỗ tác. Ta đo từng khắc trong sổ. Ba tuần cuối, ta đã dọn bàn khám riêng ở tương phủ, sắp sẵn khăn sạch, chỉ khâu vô trùng đun nước sôi, dao mổ ngâm rượu trắng. Ta không tin ai hoàn toàn. Ta chỉ tin quy trình.
Tay ta vẫn viết. Nét chữ đều.
Rồi một cơn co bụng đến.
Không mạnh. Chỉ nhẹ, kiểu bàn tay bóp vào rồi thả ra. Kéo dài chừng nửa hơi thở.
Ta đặt bút xuống.
Trong đầu ta hiện lên một dòng, đúng dòng ta hay dạy sinh viên năm thứ ba kiếp trước: cơn co giả bốn tuần cuối, không đều, không tăng cường độ. Ta gọi thầm bằng chữ Đại Tống: cơn co gạt.
Cơn co thứ hai đến năm phút sau.
Cũng nhẹ. Cũng nửa hơi thở. Ta ngồi im, tay còn đặt trên bụng, đếm nhịp. Bấc đèn dầu trên án chảy một giọt, rơi kêu rất khẽ. Sương ngoài song trắng thêm.
Cơn thứ ba đến bốn phút sau. Có phần chặt hơn.
Ta thu bút vào ống trúc. Đậy nắp nghiên. Đóng cuốn giáo án. Ba động tác gọn, thứ tự cũ ta hay làm khi kết thúc một biên bản khám tử thi.
Ta biết. Không phải cơn co gạt nữa.
Ta ngồi im thêm nửa khắc, cân xem có cần báo ngay không. Chín tháng qua ta đã dặn Bích Đào, Diệp Nương, và bà đỡ Trần bà: cơn co đều, khoảng cách rút xuống dưới sáu phút, mới báo. Đây mới rút xuống bốn. Ba tiếng nữa mới cần bà đỡ. Nhưng ta không muốn chàng biết muộn.
Ta gọi.
“Bích Đào.”
Cửa mở. Bích Đào đã đứng sẵn ngoài. Nàng chuyển đến tương phủ Lục ở với ta ba tháng nay, phòng nàng ngay cạnh phòng ta, cửa không đóng bao giờ. Nàng mặc áo bông xám, tóc buộc gọn.
“Cô nương.”
Ta nhìn nàng, giọng bằng như dặn học trò.
“Ba việc. Một, sai người báo Diệp tỷ ở phường Nam, nhờ tỷ sang tương phủ ngay. Hai, gọi Trần bà ở đường Ngũ Vệ, mang đủ đồ. Ba, nhắn Đại lý tự cho biết Lục thiếu khanh về sớm hôm nay. Không cần nói lý do. Chỉ nói tương phủ có việc trong.”
Bích Đào không hỏi. Nàng cúi đầu. Ta thấy tay nàng hơi run. Không phải sợ. Là vui.
“Vâng.”
Nàng đi. Ta nghe tiếng bước chân của nàng đến giữa hành lang thì đổi thành tiếng chạy. Bích Đào chạy trong tương phủ chỉ hai lần trong đời: lần này, và lần đêm ám sát ba năm trước.
Ta đứng dậy, chậm. Bàn tay đặt lên án thư một khắc để giữ thăng bằng. Cơn thứ tư đến vừa đúng lúc ta đứng. Chặt hơn cơn thứ ba, đủ để ta hít vào một hơi dài rồi thở ra sáu giây, kiểu ta dạy sinh viên năm thứ hai và cũng là kiểu ta tự đếm khi ngồi trong ngục ba năm trước.
Ta bước qua trường kỷ, ngồi xuống. Trường kỷ đã trải hai lớp đệm bông, chăn dày gấp gọn ở một đầu. Ta đã sắp sẵn từ tuần trước. Không phải giường ngủ đêm, mà là chỗ Trần bà đã bảo phù hợp để chờ, thấp và rộng hơn giường thường.
Ta đặt tay lên bụng lần nữa. Đếm nhịp cơn co.
Bốn phút. Ba phút rưỡi. Ba phút.
Cơn co rút khoảng cách nhanh hơn ta dự. Không phải là dấu xấu. Là dấu con nhanh.
Ta ngước lên nhìn ra cửa.
Chàng về.
Bước chân chàng trên hành lang ta phân biệt được từ bên kia sân. Không phải vì chàng đi nặng, mà vì hộ oản gỗ đen ở cổ tay trái chàng chạm vào tà áo tạo ra một tiếng gõ đều, một nhịp trong ba nhịp bước. Ta đã nghe nhịp ấy ba năm.
Hôm nay nhịp lệch. Chàng chạy hai bước, rồi đi, rồi lại chạy. Không giữ được đều.
Cửa mở. Chàng vào.
Áo ngoài chưa cởi. Tóc chàng có một chút tuyết còn đọng ở đỉnh búi. Chàng nhìn ta trước, rồi mới đưa mắt xuống bụng ta, rồi lại đưa lên mặt ta. Ta thấy trong mắt chàng cái nhìn của người vừa đọc xong lệnh khẩn: đã tính đủ, đã sắp đủ, đã chuẩn bị đủ, nhưng khi việc thật đến, tay vẫn muốn run.
“Cách bốn phút.” Ta nói trước khi chàng kịp hỏi. “Cơn thứ năm sắp tới.”
Chàng đến bên trường kỷ, ngồi xuống cạnh ta. Không nắm tay ngay. Chàng học được từ ta thói quen ấy: khi ta còn tỉnh táo, chàng không chạm; khi ta cần chỗ tựa, chàng đưa vai ra. Chàng biết ta không thích được nương khi chưa cần nương.
“Trần bà?”
“Đang tới. Diệp tỷ nữa.”
Chàng gật. Ngón tay chàng khẽ đặt lên mu bàn tay ta, không nắm, chỉ đặt. Bàn tay chàng ấm. Không phải nóng, chỉ ấm. Ta thấy sương lạnh trên vai ta rút đi một chút.
Cơn thứ năm đến.
Ta hít một hơi dài. Thở ra sáu giây. Chàng đếm cùng ta, không phát ra tiếng, chỉ đưa mắt theo môi ta. Chàng đã học đếm nhịp thở ấy từ hai tháng trước, hôm ta cho chàng xem sổ tay ghi cách trợ sinh của pháp y kiếp trước. Chàng không hỏi tại sao pháp y biết trợ sinh. Chàng chỉ đọc, gật, ghi lại nhịp bằng cây bút của chàng.
Cơn qua. Ta buông vai, tựa vào lưng trường kỷ.
“Chàng ngồi cạnh cả đêm hôm nay.” Ta nói. Không phải hỏi, là dặn.
“Ta ngồi.” Chàng đáp.
Không có chữ nào thừa.
Trần bà đến giữa giờ Dậu, cùng lúc Diệp Nương. Trần bà đã ngoài năm mươi tuổi, mắt sắc, tay chai, đi khắp Biện Kinh ba mươi năm đỡ đẻ cho các phủ quan không phân sang hèn. Trần bà cầm theo một tráp đồ nghề gói vải xanh: kéo, khăn sạch phơi nắng ba ngày, chỉ khâu, một chai rượu trắng, một hũ mật ong. Diệp Nương xách một giỏ than nóng, một bó khăn bông, và một cái nồi đất nhỏ.
Diệp Nương vào phòng, nhìn ta một cái. Không nói. Nàng đến bên trường kỷ, quỳ xuống, đặt tay lên đầu gối ta.
“Vô Y.”
“Diệp tỷ.”
Ta gọi tỷ bằng chữ tỷ trong nội thất. Trong sáu năm ta giả nam, tỷ là người ngoài gia đình duy nhất được nghe ta gọi đúng.
Trần bà bước lại. Chào chàng nửa vời, cúi đầu với ta. Bà không xưng gọi lung tung. Bà rút cổ tay ta ra khỏi ống áo, đặt ba ngón lên mạch. Nghe mạch một khắc.
“Mạch chảy nhanh nhưng đều. Con quay đầu đúng vị trí. Không lệch.” Trần bà nói. Giọng bà không cao, cũng không thấp, giọng của người đã đỡ đẻ nghìn lần. “Cơn co bốn phút. Còn chừng hai canh.”
Ta gật. Ta đã tự đo. Ước lượng của Trần bà khớp ước lượng ta.
“Trần bà.” Ta nói. “Có một điều xin bà làm theo cách hạ quan đề nghị. Không phải cách bà quen.”
Trần bà không giật. Bà nhìn ta.
“Cô nương nói.”
“Kéo, khăn, chỉ khâu, chai rượu trắng. Xin bà cho nhúng vào nước sôi trước, tất cả, không ngoại lệ. Nồi nước sôi mà Bích Đào đã đun sẵn ngoài kia. Nhúng đủ ba nhịp thở. Rồi mới đặt lên khay sạch phủ khăn trắng. Không dùng dụng cụ chưa qua nước sôi. Không dùng khăn chỉ mới phơi mà chưa nhúng.”
Trần bà nhíu mày một khắc. Rồi bà gật.
“Ta hiểu. Cô nương là ngỗ tác, cô nương biết máu bẩn nguy. Ta làm theo.”
Trần bà không hỏi tại sao. Ba mươi năm trong nghề bà thấy đủ ca mẹ mất vì sốt hậu sản, con mất vì rốn nhiễm khuẩn, mà bà không có chữ để gọi. Ta cho bà một cái tên nghề: máu bẩn nguy. Bà nắm được ngay. Đó là cái ta thích ở Trần bà: bà nhận cái mới nếu cái mới có lý.
Diệp Nương đi ra ngoài đôn đốc Bích Đào. Ba nồi nước sôi. Ba tấm khăn. Ba lượt nhúng. Trần bà đứng ngoài giám sát. Chàng ngồi bên ta.
Cơn thứ bảy đến. Ba phút rưỡi.
Ta bấm tay chàng. Không mạnh, chỉ đủ để chàng biết ta đang đếm.
Chàng đếm theo.
Giờ Tuất. Cơn co rút xuống ba phút. Ta chuyển sang tư thế nằm ngửa trên trường kỷ, đầu gối lên hai gối cao, đầu tựa vào một cuộn chăn.
Trần bà đã trải khăn trắng, đặt khay đồ nghề nhúng nước sôi ở đầu bàn. Diệp Nương đứng bên đầu ta, tay đặt trên khăn ướt lau trán ta. Bích Đào đứng cửa, chờ lệnh.
Chàng ngồi bên phải ta, ghế đẩu thấp, tay trái ta trong tay chàng.
Không ai nói.
Ngoài song, tuyết vẫn xuống. Không đổ dày. Chỉ đủ trắng.
Cơn thứ chín đến. Chặt hơn nhiều. Ta hít vào bốn giây, thở ra sáu giây.
Cơ tử cung co kéo, mở cổ tử cung. Ba phân, năm phân, bảy phân… Kiếp trước ta hay đọc cho sinh viên. Kiếp này ta đọc cho chính ta, thầm.
Ta không muốn kêu. Không phải vì sợ mất mặt. Là vì kêu tốn hơi. Hơi phải giữ cho cơn rặn về sau. Kiếp trước ta hay dặn bệnh nhân câu này. Kiếp này ta không có ai dặn ta ngoài chính ta.
Trần bà nhìn ta một khắc. Rồi bà nói khẽ.
“Cô nương giỏi. Chưa gặp sản phụ nào giữ hơi tốt vậy.”
Ta không đáp. Ta cười một cái rất nhẹ. Cười của người biết mình đang trong quy trình.
Cơn thứ mười một. Ta cảm thấy ối vỡ.
Nước ấm chảy xuống đùi. Ta báo Trần bà. Bà đưa tay đỡ, xem màu.
“Nước trong. Không lẫn phân su. Con khoẻ.”
Ta gật. Diệp tỷ lau. Bích Đào đưa khăn mới. Trần bà đo lại vị trí đầu con qua bụng.
“Còn nửa canh nữa.”
Chàng bên phải ta không rời. Bàn tay chàng ấm hơn tay ta. Ta bấm nhẹ vào ngón cái của chàng mỗi cơn co, ba lần một cơn: bấm khi bắt đầu, giữ trong đỉnh, thả khi cơn tan. Chàng theo tín hiệu ấy như đọc mạch.
Giữa hai cơn, ta ngoảnh sang.
“Chàng.”
“Ừ.”
“Trong sổ tay ta có hai tên. Chàng đọc chưa?”
“Đọc.”
“Chàng chọn trước đi.”
Chàng nhìn ta. Ta thấy trong mắt chàng có cái gì đó rất chậm. Chàng không muốn chọn trước ta.
“Ta đợi con ra.” Chàng nói. “Con là gì thì tên là gì.”
Ta gật. Cũng đúng. Ta viết cả hai tên trong sổ chỉ để ta yên tâm, không phải để chàng chọn. Con gái đặt tên Thẩm Vô Y. Con trai đặt tên Lục Cát. Cát là chữ trong tên cha ta.
Cơn thứ mười ba đến. Ta rặn cơn đầu.
Ta không đếm cơn nữa từ đây. Chỉ đếm nhịp thở.
Trần bà quỳ ở cuối trường kỷ, tay đặt hai bên đùi ta, giọng bà giữ đều tuyệt đối.
“Rặn.”
Ta rặn. Bốn giây. Ngừng.
“Thở.”
Ta thở.
“Rặn.”
Ta rặn.
Chàng bên tay phải ta. Chàng không nắm tay ta như đàn ông ở phủ khác hay làm khi vợ sinh. Chàng đưa lưng bàn tay chàng ra, để ta nghiến răng vào mu bàn tay chàng, khi ta không muốn kêu ra tiếng nhưng vẫn cần chỗ để đau vào. Ta nghiến. Ta biết có vết răng.
Ta không xin lỗi. Chàng cũng không nói.
Đến cơn rặn thứ tám, Trần bà nói: “Thấy đầu.”
Ta ngẩng mắt sang chàng. Ngẩng khó. Nhưng ta muốn thấy mặt chàng lúc bà đỡ nói câu này.
Chàng đang nhìn ta. Không nhìn Trần bà, không nhìn về phía đầu con vừa lộ. Chỉ nhìn ta. Trong mắt chàng có một thứ ánh sáng ta chưa thấy trong ba năm: ánh không phải của thiếu khanh Đại lý tự, không phải của người con trai Lục thượng thư đi báo thù, không phải của kẻ mà kiếp trước ta không biết. Là ánh của một người đang chờ.
“Rặn.” Trần bà nhắc.
Ta rặn.
Ta nghe tiếng chính mình rên khẽ trong cổ, không thành lời. Chàng đưa tay còn lại lên trán ta, đẩy tóc ướt ra. Ngón tay chàng lạnh hơn trán ta lúc này. Cái lạnh dễ chịu.
“Rặn thêm một cái nữa,” Trần bà nói. “Vai xuống rồi.”
Ta rặn.
Một cảm giác trôi tuột. Không đau nữa. Chỉ trôi.
Rồi một tiếng khóc.
Tiếng khóc đầu tiên của con nhỏ, ta nghe không giống tiếng bất kỳ tiếng khóc trẻ sơ sinh nào ta từng nghe kiếp trước, dù kiếp trước ta có nghe hàng trăm. Không phải vì âm khác. Là vì tai ta khác.
Ta nằm ngửa, mắt mở, cơ mặt buông. Chàng vẫn nhìn ta. Bàn tay chàng vẫn đặt trên trán ta.
Trần bà cắt cuống rốn bằng kéo đã nhúng nước sôi. Diệp tỷ đưa khăn ấm ủ trẻ. Trần bà xem cháu, nói: “Con gái. Đủ mười ngón tay, đủ mười ngón chân. Cân đầy đủ.”
Con gái.
Ta nghe hai chữ ấy. Trong lồng ngực ta có gì đó rơi xuống, đúng cái rơi xuống ta thấy khi cha ruột chết trong giấc mơ và ta không kịp gọi cha một tiếng nào. Nhưng lần này không đau. Là nhẹ.
Trần bà bọc con trong khăn bông trắng. Bích Đào bưng chậu nước ấm khác. Diệp tỷ nhận cháu từ tay Trần bà, đưa qua cho ta.
Ta đưa hai tay ra. Con nhỏ nằm trong khăn, mặt đỏ tía, mắt nhắm, miệng còn động theo tiếng khóc đã bớt.
Nhẹ hơn ta nghĩ. Nhẹ hơn một cuốn sổ tay ngỗ tác.
Ta ngắm con. Ngắm rất kỹ. Kiểu ngắm ta hay ngắm một bằng chứng mới đưa vào phòng khám, từng chi tiết, không bỏ qua chi tiết nào: mí mắt, cánh mũi, môi trên, dái tai, đường tóc trán.
Đường tóc trán con giống chàng. Cánh mũi giống ta.
Ta ngước sang chàng.
“Con gái.” Ta nói khẽ.
“Nghe rồi.” Chàng đáp. Giọng chàng khô hơn ta chờ. Ta hiểu tại sao khô. Người đã đọc lệnh bắt hàng nghìn lần, đọc mà giọng không đổi, giờ đứng trước một đứa trẻ vừa mới ra khỏi vợ mình, không tìm được chữ để nói, chỉ giữ giọng khô.
Ta nhích cánh tay đang bồng con, dịch con sang một chút, đưa ra phía chàng.
“Bồng.”
Chàng cúi xuống. Hai tay chàng đón con qua tay ta. Chàng bồng chưa quen. Ta phải chỉnh lại cho chàng bằng cách đặt bàn tay ta lên khuỷu tay chàng, ấn xuống một chút, đủ để đầu con nằm đúng chỗ cong khuỷu.
Chàng đứng vậy. Không ngồi. Chàng đứng bồng con.
Ta thấy chàng khép mắt một khắc. Rồi mở ra. Rồi khép lại. Đây là kiểu chàng khép mắt khi đọc thư của cha chàng đêm mùng chín tháng mười một trước, cái đêm hai người đầu tiên trao đổi hồ sơ của hai người cha đã chết.
Nhưng lần này không phải khép mắt của người đọc thư người chết. Là khép mắt của người vừa đón một người sống.
Trần bà thu dọn. Diệp tỷ lau sạch cho ta. Bích Đào thay khăn. Máu ối chảy đủ mức, không nhiều bất thường. Trần bà đo lại mạch ta, nghe bụng, ép nhẹ thấy tử cung đã co lại đúng vị trí. Bà gật với chàng.
“Thiếu khanh yên tâm. Mẹ tròn con vuông.”
Chàng cúi đầu với Trần bà. Rất khẽ. Rồi chàng đưa cho Trần bà một túi bạc trong tay áo. Túi khá to, ta thấy góc bạc lồ ra một chút. Trần bà đưa hai tay nhận. Bà không nói cảm ơn, chỉ cúi thấp hơn một chút.
Diệp tỷ bưng cháo đặc ra. Cháo hạt sen nấu với đường phèn, ta đã đặt sẵn Diệp tỷ nấu từ chiều hôm qua. Ta ăn được năm thìa. Không nhiều, nhưng đủ để không xỉu.
Rồi mọi người đi ra. Trần bà về phòng nghỉ, sẽ ở lại tương phủ ba đêm để trông. Diệp tỷ ngủ ở phòng cạnh. Bích Đào canh cửa.
Còn lại trong phòng, ta, chàng, và con nhỏ.
Cửa sổ vẫn hé một chút, hé đủ để hơi lạnh len vào lấy đi mùi thuốc sát trùng. Tuyết đã ngưng. Ngoài kia đèn lồng cột đá vẫn hai chấm vàng.
Chàng ngồi xuống bên trường kỷ, con nhỏ vẫn trong tay chàng. Chàng chuyển con sang tay ta khi ta ngồi dậy được.
Ta bồng con, tựa lưng vào chăn cao.
Con nhỏ mở mắt được một khe, không nhìn được rõ. Con lại nhắm.
Ta nhìn chàng.
“Tên là Thẩm Vô Y.” Ta nói.
Chàng gật.
“Vô Y.” Chàng nhắc lại. Chàng phát âm hai chữ ấy chậm, đúng như cách chàng đọc thơ Kinh Thi trong đêm mùng ba tháng mười một, đêm hai người ngồi trong thư phòng và chàng đọc bạch vô y cho ta nghe. Bạch vô y, chàng dịch cho ta lúc ấy: không mặc, không mang, không sợ.
Không mặc, vì không cần phải khoác gì cho ra dáng.
Không mang, vì không phải mang gánh của ai.
Không sợ, vì không sợ tử thi, không sợ ngục tù, không sợ triều đình.
Chàng đã đọc ba chữ ấy như đọc lời thề cho ta, không nói ra tại sao, chỉ đọc. Ta đã cầm cuộn thơ, giữ lấy. Ta biết đêm đó chàng đã chọn cho con nếu là con gái. Ta chỉ gật.
“Thẩm chứ không Lục.” Ta xác nhận. “Ta muốn con giữ họ ta.”
“Ừ.” Chàng đáp. Không cần suy tính. “Ta đồng ý từ tháng trước rồi.”
“Sau này con có em, em họ Lục.” Ta nói. “Anh chị họ Thẩm, em họ Lục. Cân.”
“Cân.” Chàng lặp lại. Chàng cười. Rất khẽ. Nếp cười trong khoé mắt trái chàng lộ ra một khắc, rồi thu lại.
Ta cúi xuống, hôn nhẹ vào đỉnh đầu con. Tóc con còn ướt. Mùi máu, mùi sữa non, mùi than nóng, mùi khăn bông sạch, hoà thành một mùi ta chưa từng đánh vần được. Kiếp trước ta ngửi mùi phenol, mùi formalin, mùi tử thi ba ngày. Kiếp này ta ngửi mùi con mình vừa được sinh ra. Cả hai mùi đều nặng, nhưng chỉ mùi thứ hai làm ta cay mắt.
Ta không khóc. Ta chỉ chớp một cái.
Chàng thấy. Chàng không hỏi. Chàng chỉ đưa tay lau khoé mắt bên phải ta bằng đầu ngón cái.
Rồi chàng nói.
Chàng nói câu ta không đợi.
“Vô Y.”
“Ừ.”
“Ngươi cứu ta ba lần.”
Ta ngẩng mắt lên. Nhìn chàng qua mái đầu con.
“Vụ ám sát tương phủ đêm hai mươi mốt tháng chín,” chàng nói. “Ngươi vào phòng ta khi ba tên còn đang giơ dao. Ngươi hạ một tên. Đấy là lần một.”
“Ừ.” Ta khẽ đáp.
“Vụ ngoài rừng cửa Bắc. Bốn tên phục kích Vương Ngự sử. Ngươi ép ngựa xông vào giữa, giả bị thương trước, để ta có ba nhịp thời gian rút dao. Đấy là lần hai.”
Ta gật.
“Và…”
Chàng dừng. Chàng nhìn con. Rồi chàng nhìn ta. Ta thấy trong mắt chàng cái nhìn của người đã đứng bên giường vợ mình sáu canh giờ, đã đưa lưng bàn tay cho vợ mình nghiến, và không có chỗ nào trong mắt chàng còn giữ khoảng cách của thiếu khanh Đại lý tự.
“Đêm nay là lần ba.”
Ta nhìn chàng. Một khắc.
Rồi ta lắc đầu.
Rất nhẹ.
“Chàng.” Ta nói. Giọng ta bằng, không cao hơn giọng ta lúc dặn Bích Đào ba việc lúc chiều. “Đêm nay không phải cứu.”
Chàng chờ.
Ta đưa con sát ngực ta thêm một chút.
“Đây là ta sinh.”
Chàng im.
Ba chữ ấy ta không nói to. Nhưng ba chữ ấy đủ để chàng cúi xuống, đặt trán chàng lên trán ta trong ba nhịp thở, không hôn, không nói gì thêm.
Trán chàng ấm. Tuyết đã tan hoàn toàn trên tóc chàng. Ngoài song, đèn lồng cột đá vẫn cháy, hai chấm vàng nhỏ. Trong lồng ngực ta, nhịp tim ta đập đúng nhịp một trăm hai mươi ta đo lúc trước sinh, chậm dần về đúng bảy chục ta đo mỗi sáng canh năm.
Con nhỏ trong tay ta thở nhẹ. Nhịp thở của con nhỏ ta không đo, ta chỉ nghe. Kiếp trước ta đo mọi thứ. Kiếp này ta để lại một nhịp để nghe không đo.
Vượt cạn. Người Việt kiếp trước dạy ta hai chữ ấy trong sách giáo khoa cấp một. Cạn là chỗ sông sâu chỉ còn xâm xấp. Vượt là qua. Vượt cạn là qua chỗ sông sâu chỉ còn xâm xấp. Ta luôn nghĩ hai chữ ấy hay ở chỗ nó nhắc người vượt rằng bên kia cạn, nước lại đầy.
Bên kia cạn, ta có con gái. Ta có chàng. Ta có một cái tên chàng đặt cho con: Vô Y. Không mặc, không mang, không sợ.
Ta khẽ hôn lên trán con lần nữa.
“Con gái.” Ta nói, thầm, không cho chàng nghe. “Sau này con biết pháp y hay không tuỳ con. Mẹ không ép. Mẹ chỉ dặn: dù con làm gì, đứng đâu, mở khoang bụng ai, ghi án bao nhiêu, con cũng đừng để ai đâm sau lưng con.”
Con nhỏ ngủ.
Chàng nâng đầu chàng khỏi trán ta, không rời tay khỏi vai ta. Tay chàng đặt yên đó, thay chỗ tất cả những gì chàng không nói ra được.
Ngoài song, giờ Tí điểm nhẹ trên chuông tương phủ. Đêm dài mới xuống nửa canh.
Ta nhắm mắt.
Con thứ hai của ta còn chưa tới. Vụ án cuối cùng của ta còn chưa tới. Lớp học trò nữ hai trăm người trên toàn Đại Tống còn chưa tới. Cuốn Ngỗ Tác Học Cơ Bản còn chưa tới. Cuốn Bạch Vô Y Hồi Ký Ngỗ Tác còn chưa tới. Ngày ta chôn mẹ nuôi cạnh cha đẻ ở nghĩa trang cửa Nam còn chưa tới.
Nhưng đêm nay, trong tay ta có một đứa con gái tên Thẩm Vô Y. Bên cạnh ta có một người đàn ông tên Lục Vô Ngạn không sợ tử thi. Ngoài song có tuyết đã tan và có đèn lồng còn cháy.
Kiếp trước ta chết trong phòng giải phẫu, ngã sấp xuống mặt bàn thép lạnh, không ai bồng.
Kiếp này ta ngồi trong phòng riêng có chăn dày, có đèn dầu vàng ấm, có chàng, có con.
Ta thấy cha ruột ta ở nghĩa trang cửa Nam đang gật đầu.
Nói có sách, mách có chứng. Trắng đen phải rõ.
Cha đã đi qua. Ta đã ở lại. Con ta bắt đầu.